Bài tiểu luận
PHẦN I:
Tư tưởng Hồ Chí Minh
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam ta đang ngày một tiến lên sánh vai
cùng các cường quốc năm châu, đang dần khẳng định vị thế của mình với thế giới về một
nền độc lập, tự do, dân chủ.Để đạt được thành quả này là cả một quá trình đấu tranh gian
khổ với những hy sinh mất mát không thể bù đắp được của bao thế hệ cha ông ta. Và để
có được nền độc lập dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cống hiến, hy sinh của cả một dân
tộc, còn có những người con kiệt xuất với phẩm chất anh dũng, kiên cường, không sợ
khó, sợ khổ, sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc. Người thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành
đã một mình bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm ra con đường mang lại độc lập tự do
cho tổ quốc mình. Nhắc tới người là nhắc tới một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân
văn hoá của nhân loại, một vị lãnh tụ tài ba và đặc biệt là người cha già kình yêu của dân
tộc. Cả cuộc đời Người đã cống hiến cho nền độc lập của dân tộc cho sự tự do của đất
nước. Tư tưởng của Người đã đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc vượt qua muôn trùng
khó khăn để đi đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử vĩ đại, là kim chỉ nam cho
mọi hành động của Đảng và của nhân dân ta.
Một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nhà
nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đây là tư tưởng xuyên
suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng và Bác Hồ, đã được minh chứng và
kiểm nghiệm trong lịch sử đấu tranh giành chính quyền và xây dựng chính quyền nhà
nước dân chủ nhân dân. Theo Hồ Chủ tịch, nhà nước kiểu mới – nhà nước pháp quyền
phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đó là tư tưởng, ý chí nhất quán của Chủ tịch
Hồ Chí Minh.
Thật may mắn cho chúng ta vì đã được sinh ra, lớn lên và hưởng trọn những thành
quả mà cả đời Người đã cống hiến. Qua thời gian học tập, nghiên cứu, tìm tòi trên sách
động làm chủ, nhà nước của dân, do dân, vì dân. Trong bài báo Dân vận (năm 1949), Hồ
Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu
quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung
ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại,
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.
Quan điểm về nhà nước của dân, do dân, vì dân, chúng ta thấy trong di sản tư tưởng
Hồ Chí Minh thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
a. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà nước
và trong xã hội đều thuộc về nhân dân. Trong 24 năm làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh
đã lãnh đạo soạn thảo hai bản Hiến pháp, đó là Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm
1959. Quan điểm trên của Người được thể hiện trong các bản Hiến pháp đó. Hồ Chí
Minh khẳng định rõ ràng và ngay từ đầu là: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng
Lớp K17QCD8
Page 2
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt
nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều thứ 1, Hiến pháp năm 1946).
Quyền lực trong nước là của toàn thể nhân dân, theo Hồ Chí Minh phải được thể
hiện ở những điểm sau đây:
•
Page 3
Bài tiểu luận
•
•
•
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà nước do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình.
Nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để Nhà nước chi tiêu, hoạt động.
Nhà nước do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ. Hồ Chí Minh yêu cầu: Tất cả các
cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng
nghe ý kiến và sự kiểm soát của nhân dân.
c. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vì dân
Tư tưởng về nhà nước vì dân được thể hiện ở những điểm chính sau:
•
Hồ Chí Minh khẳng định: chỉ có Nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây
•
dựng và kiểm soát mới có thể là nhà nước vì dân.
Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không
có đặc quyền lợi, thật sự trong sạch, cần kiệm liêm chính. Hồ Chí Minh yêu cầu:
“Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh...”
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhân dân có quyền tỏ tín nhiệm hay bất tín nhiệm đối với Chính phủ...Để
hiện thực hóa tinh thần đó, Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: Tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ,
công chức thật sự là công bộc của nhân dân.
Liên quan tới vấn đề thứ nhất, Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh sự cần thiết phải
“Hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội để cử tri lựa chọn và bầu những người thực
sự là đại biểu của mình vào Quốc hội...; có cơ chế để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ
và có trách nhiệm với cử tri”. Có hai điểm cần đặc biệt quan tâm:
Một là, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa cơ cấu vùng miền, giới tính, lứa
tuổi, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo... với chất lượng của đại biểu Quốc hội.
Hai là, trong số đại biểu Quốc hội, có một phần - tuy không lớn, đại biểu công tác
ở trung ương nhưng được giới thiệu về các địa phương để ứng cử nhằm bảo đảm công
dân ở mọi vùng của đất nước đều được thực hiện quyền bầu cử Quốc hội, song cũng do
đó mà sự gắn bó chặt chẽ, sự hiểu biết thấu đáo lẫn nhau giữa đại biểu được bầu với cử tri
ở nơi đã bầu ra mình cũng có khó khăn. Khi đó, việc thực hiện yêu cầu “đại biểu Quốc
hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri” đã trực tiếp bầu ra mình là một việc
không đơn giản. Tìm ra phương thức giải quyết vấn đề này trở thành một chủ đề mà Ban
chỉ đạo bầu cử Quốc hội khóa XIII cần hết sức quan tâm.
Để sự ủy quyền của nhân dân cho Nhà nước không dẫn tới tình trạng mình mất
quyền - một biểu hiện rõ nhất, nổi bật nhất của sự tha hóa quyền lực nhà nước, nguyên
nhân trực tiếp và sâu xa nhất của bệnh quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước không chỉ cần hoàn thiện cơ chế ủy quyền, mà còn phải hoàn thiện cơ chế chống lạm
quyền. Một giải pháp quan trọng nhất được Đại hội XI nêu ra là phải phát huy vai trò của
các cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông
tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát không chỉ cán bộ, công chức nhà nước,
mà cả các cơ quan nhà nước ngay từ khâu hoạch định chiến lược phát triển đến việc triển
từng bước - từ mức độ lấy phiếu tín nhiệm một số cương vị trong Quốc hội, hội đồng
nhân dân cấp tỉnh, thành phố... đến lấy ý kiến nhân dân về sự tín nhiệm đối với một số bộ
phận của bộ máy quyền lực nhà nước...
Bảo đảm nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” là nội dung cơ bản
nhất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa
nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực và được thể chế hóa thành các quy định mang
tính pháp lý, thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của nhà nước. Những năm qua, Đảng
Lớp K17QCD8
Page 6
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội, từng
bước phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhờ đó đã đạt được những thành tựu to lớn
trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, nhìn chung trong thực tiễn quyền làm chủ của nhân dân chưa được coi
trọng đúng mức, còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, cửa quyền,
tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân chưa được đẩy lùi; không ít hiện tượng
mất dân chủ, dân chủ hình thức, dân chủ không đi liền với kỷ luật và pháp luật; cơ chế và
pháp luật đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân chưa được cụ thể hóa đầy đủ.
Mặt khác, hiện nay nhiều vấn đề công khai minh bạch cũng còn đang hạn chế.
Thí dụ: công khai minh bạch tài sản của cán bộ, công chức nhưng chỉ công khai
trong phạm vi hẹp; nhiều chính sách đãi ngộ, chính sách cán bộ từng cấp khác nhau chưa
được phổ biến rộng rãi... Vì vậy vấn đề “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thực
hiện khó đầy đủ, vì họ không biết làm sao mà bàn, làm sao mà kiểm tra.
Thực tiễn chứng minh, những năm gần đây có một số cán bộ lãnh đạo, kể cả cán bộ
quyền lực và đội ngũ công bộc của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho những cán bộ, công
chức thực sự của dân, phát huy được vai trò, trách nhiệm trong phục vụ nhân dân và để
đào thải những cán bộ đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, bảo đảm trật tự kỷ cương xã
hội, cuộc sống bình yên, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Đồng thời, phải nâng cao vai trò giám sát của nhân dân đối với quyền lực nhà nước. Vì
trong thực tế, sự giám sát của nhân dân đối với quyền lực nhà nước chưa đạt kết quả như
mong muốn, chưa phát huy hết vai trò to lớn của nhân dân. Vẫn còn nhiều bất cập, bức
xúc trong nhận thức, tính chủ động, sáng tạo, tính chính trị của nhân dân, phương thức
nhân dân thực hiện quyền giám sát còn nhiều lúng túng. Để khắc phục tình trạng này, cần
phải xây dựng cơ chế đồng bộ thực hiện quyền lực của dân; cơ chế minh bạch, công khai
về quyền lực nhà nước phục vụ nhân dân tốt hơn. Giải quyết tốt vấn đề quyền và nghĩa
vụ công dân. Chỉ khi nào người dân tự ý thức được quyền cũng như nghĩa vụ công dân
của mình lúc đó dân chủ hóa mới được thực thi trong xã hội và xã hội mới thực sự trở
thành xã hội dân sự. Vì vậy, Nhà nước có trách nhiệm trong việc nâng cao sự hiểu biết, ý
thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của người dân, giúp và tạo điều kiện cho họ rèn
luyện thói quen sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Vấn đề cốt lõi hiện nay là
muốn thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thì phải nâng cao dân trí. Nâng cao dân trí
để giúp cho nhân dân hiểu đúng về chính sách, pháp luật, để thực hiện quyền làm chủ,
bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình, đồng thời hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ
Lớp K17QCD8
Page 8
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
và tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện của cán bộ, đảng viên. Dân trí được nâng
lên thì nhân dân mới có khả năng, sáng kiến tham gia xây dựng Nhà nước, đóng góp ý
b. Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước
Trong thời gian qua, mặc dù Ðảng ta có nhiều nghị quyết về xây dựng, hoàn thiện
nhà nước, về cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước,
song năng lực quản lý điều hành của Nhà nước ta chưa ngang tầm với ðòi hỏi của thời kỳ
mới.
Ðể Nhà nước giữ được vai trò trụ cột của hệ thống chính trị, công cụ đắc lực thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân, chỗ dựa cho kinh tế xã hội phát triển, cần thiết phải đổi
mới tổ chức bộ máy để nó đáp ứng đựợc đầy đủ các yêu cầu, nhiệm vụ mới đặt ra.
Lớp K17QCD8
Page 9
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Ðổi mới kiện toàn bộ máy Nhà nước theo tinh thần các Nghị quyết của
Ðảng
Ðổi mới, kiện toàn bộ máy nhà nước hiện nay phải theo 4 quan điểm chỉ đạo việc
đổi mới, kiện toàn bộ máy của hệ thống chính trị:
Một là, việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải phù hợp với đặc điểm của hệ
thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế .Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ. do một đảng duy nhất lãnh đạo; phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nýớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Ðảng.
Hai là, kiện toàn tổ chức bộ máy phải nhằm bảo đảm các cơ quan trong hệ thống
chính trị hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tinh gọn, khắc phục tình trạng quan liêu, trùng
luật. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực
chính trị tối cao của một quốc gia, tác động vào thị trường như một chủ thể quản lý, mặt
khác là một chủ thể hoạt động kinh tế. Có thể nói, Nhà nước hiện đại có chức năng ngày
càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đó là các chức năng quản lý nhà nước về
kinh tế; điều tiết nền kinh tế, khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường. Nhà
nước với các nhiệm vụ: tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động của nền
kinh tế thị trường; hoạch định các chính sách kinh tế, điều tiết kinh tế, bảo đảm các dịch
vụ công cộng; bảo đảm xã hội, bảo vệ những người dễ bị tổn thương; phối hợp với các
thể chế quốc tế, tạo thuận lợi cho mở cửa và hội nhập, hạn chế bất công, tiêu cực trong
quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế; bảo vệ môi trường sinh thái. Tình trạng
thiếu vắng pháp luật là mảnh đất tốt cho tội phạm tham nhũng, maphia và tính vô chính
phủ. Việc làm ra các bộ luật là công việc thuộc độc quyền của Nhà nước, không thay đổi
từ khi có Nhà nước đến nay. Nếu để thị trường làm luật thì đó sẽ là luật rừng. Ðây cũng
là nhiệm vụ cơ bản nhất, không ai phủ nhận được của Nhà nước trong kinh tế thị trường.
Thực chất của vấn đề thể chế, Nhà nước là trật tự pháp quyền, là pháp luật hoá các
.quyền. của Nhà nước, các chủ thể kinh tế và công dân, tức là xây dựng Nhà nước pháp
quyền. Một Nhà nước có thể đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường chỉ có thể
là một Nhà nước pháp quyền.Ở đây cũng cần phải khẳng định rằng nói đến vai trò Nhà
nước trong nền kinh tế thị trường chủ yếu phải nói đến chức năng quản lý Nhà nước nền
kinh tế của các Chính phủ. Tóm lại, không thể có sự phát triển kinh tế xã hội và bền vững
mà không có một nhà nước hoạt động có hiệu quả. Nhà nước phải trở thành trung tâm
của sự phát triển kinh tế, xã hội, Nhà nước xây dựng và ban hành thể chế, tạo ra hành
lang pháp lý và các chế độ, chính sách thông thoáng cho kinh tế - xã hội phát triển. Nhà
nước phải trở thành người cộng sự, người tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển,
Nhà nước phải hoạt động để bổ sung cho các thị trường chứ không phải thay thế các thị
trường. Ngoài ra cần nhận thức đúng bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhà
Lớp K17QCD8
Page 11
nguyên tắc .tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân., nhân dân là chủ thể duy nhất
và tối cao của quyền lực Nhà nước, nhân dân là cuội nguồn của quyền lực Nhà nước,
không thể có một cơ quan Nhà nước nào được phép độc quyền trong quan hệ quyền lực.
Khẳng định quyền lực Nhà nước là tập trung và thống nhất không có nghĩa là có một cơ
Lớp K17QCD8
Page 12
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
quan Nhà nước nào đó tập trung tất cả quyền lực về tay mình. Hiến pháp năm 1992 ghi
rõ: Quốc hội là cõ quan quyền lực Nhà nước cao nhất; Chính phủ là cơ quan hành chính
cao nhất, Toà án nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, rõ ràng là mỗi cơ quan nêu
trên đều có địa vị pháp lý cao nhất, có chức năng riêng và có mối liên hệ hữu cõ ràng
buộc lẫn nhau. Ở đây cũng phải nhận thức đầy đủ rằng sự phân công quyền lực Nhà nước
giữa các cơ quan tối cao trong điều kiện hiện nay không mang tính tuyệt đối, phải coi
trọng tính độc lập tương đối ba bộ phận cấu thành của thực thể quyền lực Nhà nước
thống nhất. Cần phải nhận thức rằng tổ chức Nhà nước hay tổ chức bộ máy nhà nước suy
cho cùng cũng là một lĩnh vực khoa học mà nguồn gốc của nó là tổ chức khoa học lao
động, quyền lực. Xét về thực chất lập pháp, hành pháp và tư pháp là sự phân công lao
động quyền lực, sự phân công có cơ sở khoa học làm cho bộ máy Nhà nước hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả. Sự phân công khoa học chính là ở chỗ xác định rõ chức năng, nhiệm
vụ, mối liên hệ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực thi ba
quyền ðó. Và cải cách bộ máy Nhà nước hiện nay không có nghĩa à phải quy ðịnh lại các
thẩm quyền, trách nhiệm của các Nhà nước trí cao nhất, mà ở chỗ phải hoàn thiện tổ chức
của các cõ quan này để hoạtðộng có hiệu lực, hiệu quả ðúng theo thẩm quyền và trách
nhiệm như hiến pháp đã qui định.
chuyên ngành và quy định thủ tục hành chính phức tạp, gây phiền hà cho nhân dân.Ðồng
thời với việc nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, phải bảo đảm cho Quốc hội có đầy
đủ năng lực thực hiện quyền quyết định ngân sách Nhà nước, xem xét quyết ðịnh một
cách thực chất các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình quốc gia, các dự
án đầu tư lớn cũng như các vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy và nhân sự. Nâng cao
năng lực và chất lượng của Quốc hội, xác định giám sát của Quốc hội ðối với Chính phủ,
các bộ, cơ quan ngang bộ; đổi mới việc xem xét báo cáo công tác và việc trả lời chất vấn
của Chính phủ, của Toà án nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao. Cần
đổi mới tổ chức và hoạt ðộng của Quốc hội, phải chuyển từ một Quốc hội bán chuyên
trách, hoạt động theo kỳ họp ngắn ngày sang một Quốc hội chuyên trách, họp thường
xuyên, dài ngày; từ một Quốc hội tham luận sang một Quốc hội tranh luận, tức là phải
nâng cao chất lượng các kỳ họp Quốc hội. Hiện nay, tổ chức bộ máy của Quốc hội gồm
có Uỷ ban Thýờng vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội (có 9 Uỷ
ban là: Pháp luật; Ðối ngoại; Tư pháp; Kinh tế; Tài chính - Ngân sách; Quốc phòng và
An ninh; về các vấn đề xã hội; Vãn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng,khoa học,công nghệ và Môi trýờng). Trýớc hết cần ðổi mới tổ chức và hoạt ðộng
của Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc
hội theo hýớng chuyên sâu hõn trên cõ sở tách một số Uỷ ban hiện có (không tăng biên
chế), nhý thành lập Uỷ ban Pháp luật và Uỷ ban Tý pháp trên cõ sở Uỷ ban Pháp luật
hiện nay; lập Uỷ ban Kinh tế, Uỷ ban Tài chính và Uỷ ban Ngân sách trên cõ sở Uỷ ban
Kinh tế và Ngân sách hiện nay; tãng thêm các thành viên chuyên trách, cải tiến lề lối làm
Lớp K17QCD8
Page 14
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Lớp K17QCD8
Page 15
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
hiện tốt hơn nữa chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các qui luật mà pháp luật đã qui
định.Xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội, phù hợp với
yêu cầu phát triển. Tập trung làm tốt việc hoạch định thể chế,cơ chế,chính sách xây dựng
giải pháp,bảo đảm các cân đối lớn và ổn địnhkinh tế vĩ mô cải cách thủ tục hành chính,
tạo môi trýờng pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế-xã hội.Xây dụng chiến lược
qui hoạch,kế hoạch và nâng cao năng lực chỉ đạo tổ chức thực hiện,tăng cường công tác
kiểm tra,thanh tra.Xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước của cơ quan hành
chính nhà nước các cấp.Đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước trọng tâm
là cổ phần hoá; thu hẹp và tiến tới bỏ chức nãng đại diện chủ sở hữu đối với doanh
nghiệp nhà nước của các bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương,làm rõ
chức năng quản lý nhà nước của cơ quan hành chính và chức năng,nhiệm vụ,quyền hạn
của các đơn vị . Ðẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp,dịch vụ công. Chính phủ
nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII gồm có Thủ tướng, 5 Phó Thủ Tướng (1 Phó Thủ tướng
kiêm Bộ trưởng bộ ngoại giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ðào tạo), 18 Bộ trưởng và 4 thủ
trưởng cõ quan ngang bộ, tổng số thành viên Chính phủ là 26. Cõ cấu tổ chức của Chính
phủ gồm 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc chính phủ. Cần tiếp tục kiện toàn
bộ máy của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tổ chức bộ quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực, giảm bớt đầu mối trực thuộc Chính phủ,đưa một số cơ quan làm chức
năng quản lý Nhà nước thuộc Chính phủ về các bộ quản lý. Bộ tập trung làm tốt chức
nãng chủ yếu là xây dựng thể chế,luật pháp,cơ chế ,chính sách,chiến lược,quy hoạch,kế
hoạch phát triển đối với các lĩnh vực được phân công,tổ chức chỉ đạo việc thực hiện và
Đảng ta đã đúc kết thành cơ chế, chính sách quản lý, điều hành đất nước: Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Cơ chế đó phát huy được tính tích cực, chủ động
của các tổ chức chính trị - xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị,
đáp ứng đòi hỏi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Bước vào thời kỳ mới, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước theo định
hướng XHCN, việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân phải tiếp
tục quán triệt sâu sắc tư tưởng và học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân. Bởi, đây là nền tảng tư tưởng, lý luận
quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền kiểu mới do nhân dân
làm chủ.
Để tiếp tục quán triệt, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước
pháp quyền của dân, do dân và vì dân, cần nắm chắc, thực hiện tốt một số nội dung cơ
bản sau:
Trước hết, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân phải
nắm vững mục tiêu là tôn trọng, bảo vệ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tất cả vì
độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Quan điểm trên càng có ý nghĩa
Lớp K17QCD8
Page 17
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
quan trọng trong xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân - do nhân dân
làm chủ, nhất là khi các thế lực thù địch đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ” và “nhân
quyền” cũng như các thủ đoạn khác để vu cáo, xuyên tạc chế độ dân chủ, chống phá cách
mạng nước ta. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
kiện để nhân dân thực hiện phát huy quyền làm chủ của mình ở cơ sở, hoặc để xảy ra dân
chủ cực đoan, dân chủ quá trớn, gây trở ngại cho hoạt động điều hành và quản lý của bộ
máy chính quyền cơ sở, thì chừng đó quyền lực Nhà nước ở địa phương bị suy giảm, cản
trở việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Trong quá trình phát huy dân chủ XHCN, để nhân dân thực sự thực hiện quyền lực và
quyền làm chủ đất nước của mình, cần nắm vững bản chất và nội dung của vấn đề dân
chủ. Dân chủ ở nước ta là dân chủ XHCN, là nền dân chủ của khối đại đoàn kết toàn dân
trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; quyền lợi đi
đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ; dân chủ được cụ thể hóa thành pháp luật, dân chủ trong
khuôn khổ pháp luật; khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ
để phá hoại chế độ XHCN. Đồng thời, tuyệt đối không mơ hồ trước những luận điệu
xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với các giá trị văn hoá dân chủ XHCN. Cần phải
kiên quyết chống lại những luận điệu xuyên tạc, mị dân, núp dưới chiêu bài “tự do”, “dân
chủ”, “nhân quyền” tư sản để xuyên tạc những giá trị dân chủ XHCN mà Đảng và nhân
dân ta đã xây dựng, vun đắp trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ giải phóng
dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các
cơ quan quyền lực của tổ chức nhà nước về phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách,
năng lực quản lý, năng lực chuyên môn để họ thực sự là “người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân”, toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của nhân dân. Đây là nhân tố “cốt lõi”
bảo đảm sự thành công của nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và
vì nhân dân. Theo đó, cùng với việc nâng cao bản lĩnh chính trị, giáo dục đạo đức cách
mạng, phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức nhà nước có đủ tri thức về chính trị
học, xã hội học, về hệ thống chính trị, pháp luật, quản lý hành chính nhà nước, về tổ chức
lao động khoa học và tâm lý quản lý... Thực hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ công chức theo
Những nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền nhằm khẳng định cội nguồn
quyền lực nhà nước là ở nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân chứ không phải
nhân dân là của nhà nước; Nhà nước pháp quyền đề cao tính hợp hiến, hợp pháp trong tổ
chức và hoạt động của Nhà nước, Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép,
còn nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm. Một mặt, pháp luật bảo
đảm cho sự phát triển tự do tối đa của nhân dân, mặt khác pháp luật xây dựng và duy trì
xã hội trật tự, ổn định, trong đó không chỉ mỗi công dân, mỗi cá nhân, mà bản thân nhà
nước và những người đứng đầu chính quyền cũng phải tôn trọng pháp luật . Hai mặt dân
chủ và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền gắn bó hữu cơ, làm tiền đề tồn tại cho nhau
và tạo nên bản chất của Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại; Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân nhưng nghiêm cấm
lợi dụng các quyền tự do dân chủ để để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân
dân” .
Lớp K17QCD8
Page 20
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng những tư tưởng của Người về xây dựng
Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân vẫn còn nguyên giá trị. Giá trị trường
tồn của những luận điểm đó không chỉ soi sáng mà còn là sự tiếp sức quyết tâm chính trị
của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ
nghĩa. Văn kiện Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về
nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan
Page 21
Điểm trách nhiệm
đối với nhóm
10
9
Bài tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh
8
7
7
Lớp K17QCD8
8
8
8
Page 22
9
7
7