So sánh hiệu quả của Tylosin và Tetracyclin trong phòng trị bệnh Chronic Respiratory disease (CRD) cho gà thả vườn tại trại gà thương phẩm thuộc xã Khe Mo – Đồng Hỷ Thái Nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

VI VĂN ĐẠT
Tên đề tài:
SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA TYLOSIN VÀ TETRACYCLIN TRONG
PHÒNG TRỊ BỆNH CHRONIC RESPIRATORY DISEASE (CRD) CHO
GÀ THẢ VƢỜN TẠI TRẠI GÀ THƢƠNG PHẨM THUỘC XÃ KHE MO
ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên nghành

: Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp

Khoa

: Chăn nuôi thú y

Lớp

:K 43 - SPKTNN

Khóa học

: 2011 - 2015

Sinh viên
Vi Văn Đạt


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhu cầu O2 và lượng CO2 thải ra ..................................................... 7
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 27
Bảng 3.2: Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà thí nghiệm ... 28
Bảng 4.1: Lịch dùng vaccine và phòng bệnh bằng kháng sinh cho đàn gà .... 35
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 39
Bảng 4.3: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi ..................... 40
Bảng 4.4:Một số bệnh thường gặp ở đàn gà thả vườn .................................... 41
Bảng 4.5: Tỷ lệ nhiễm CRD trên đàn gà thả vườn theo tuần tuổi .................. 42
Bảng 4.7: Kết quả phòng bệnh của Tylosin và Tetracyclin ............................ 45
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh của Tylosin và Tetracyclin .......................... 47


iii
CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CRD

: Chronic Respiratory Disease.

ĐVT

: Đơn vị tính.

MG


Cs

: Cộng sự.


4
MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.3. Ý nghĩa của đề tài ...................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .......................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài ......................................................... 3
2.1.1. Một vài nét về giống gà thí nghiệm ........................................................ 3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm ....................... 4
2.1.3. Bệnh hô hấp mãn tính (CRD) ở gà.......................................................... 7
2.1.4. Một số đặc điểm của hai loại thuốc Tylosin và Tetracyclin ................. 20
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước................................................. 22
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 22
2.2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài ......................................................... 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ..................................................................................................... 26
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 26
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 26
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 26
3.4. Các chỉ tiêu theo dõi ................................................................................. 26
3.5. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 27

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất
truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản
xuất của ngành chăn nuôi ở Việt Nam. Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2001 là
218 triệu con, năm 2003 là 254 triệu con và năm 2005 chỉ con 220 triệu con,
năm 2006 là 214 triệu con. Tốc độ tăng đàn năm 2001 - 2003 là 9,0%. Hàng
năm chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt chiếm khoảng 14 16% trong tổng sản phẩm các loại thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng. Nhiều
giống gia cầm có năng suất cao được lai tạo, du nhập và sản xuất đã đem lại
nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi (Đoàn Xuân Trúc và cs, 2008) [20].
Năm 2006 cả nước có trên 7,9 triệu hộ chăn nuôi gia cầm, mỗi hộ trung
bình nuôi 32 con. Hình thức chăn nuôi nhỏ hộ gia đình chiếm khoảng 68,5%.
Chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp chiếm khoảng 31,5%. Khi nghề
chăn nuôi gà theo phương thức công nghiệp có xu hướng phát triển mạnh thì
dịch bệnh cũng ngày càng tăng và mức độ lây lan rộng.
Qua thực tiễn, bệnh mắc phổ biến và gây thiệt hại kinh tế lớn nhất trong
chăn nuôi gà là bệnh hô hấp mãn tính, còn gọi là bệnh CRD (Chu Minh Khôi,
2001) [30]. Bệnh CRD là một trong những bệnh thường gặp về đường hô hấp ở
gà, bệnh dễ xảy ra trong điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều hay thời tiết thay đổi
đột ngột do sức đề kháng của gia cầm giảm và sự mẫn cảm với bệnh tăng lên.
CRD là tên viết tắt của bệnh Chronic Respiratory Disease còn gọi là
hen gà do một loại Mycoplasma gây nên. Bệnh không gây chết nhiều nhưng
làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém, gà mái
giảm đẻ, trứng gà bệnh chết phôi. Khi gà khỏi bệnh chúng mang trùng suốt
đời nên còn gọi là bệnh hô hấp mãn tính. Bệnh gây viêm xoang mắt, mũi, phế
quản và túi khí,… Làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng chi phí chăn nuôi, làm
giảm hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm.



Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1. Một vài nét về giống gà thí nghiệm
* Nguồn gốc, đặc điểm gà Lương phượng
- Nguồn gốc: Gà Phượng là giống Lương gà kiêm dụng lông màu có
xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng, do xí nghiệp nuôi gà Thành phố
Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) lai tạo thành công sau hơn chục
năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập ngoại từ
nước ngoài như gà Discan… Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta trong
những năm gần đây. Gà Lương Phượng dễ nuôi, tính thích nghi cao, chịu
đựng tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhất là thịt thơm ngon nên được
nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.
- Đặc điểm: Con mái lông màu vàng nhạt, điểm các đốm đen ở cổ,
cánh. Con trống lông sặc sỡ nhiều màu: sắc tía ở cổ, nâu cánh gián ở lưng,
nâu xanh đen ở đuôi. Da, mỏ, chân đều màu vàng. Mào, tích, tai phát triển;
mào đơn, đỏ tươi; ức sâu nhiều thịt, thịt thơm ngon. Gà thích nghi cao với
nuôi chăn thả và bán chăn thả.
- Chỉ tiêu năng suất gà Lương Phượng
Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007) [26]
cho biết: khối lượng gà Lương Phượng nuôi thịt đến 12 tuần tuổi là 2,0 - 2,5 kg;
tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 3,0 - 3,2 kg. Khối lượng gà vào lúc đẻ:
1,9 - 2,1 kg (gà mái); 2,8 - 3,2 kg (gà trống). Sản lượng trứng/ 10 tháng đẻ là
150 - 170 quả/mái. Tỷ lệ ấp nở 80 - 85 %.
* Nguồn gốc, đặc điểm gà Mía
Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (1999) [22] cho biết:


4
Gà Mía có nguồn gốc từ Trùng Thiên, Sơn Tây.

hầu hết đã hoá xương. Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu
tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài.
- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương
ngực. Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm. Một ống phế
quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải. Thành phế
quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy,
màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài.
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí
quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế
quản. Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở
phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp. Phổi của gia cầm màu đỏ tươi,
cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi.
Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ
nhất đến mép trước của thận. Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể
trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài, phổi gà 9g. Chức năng chính của
phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí.
- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí. Các túi khí là sự mở
rộng và tiếp dài của phế quản. Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4
đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn. Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí
xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng. Túi
khí đơn là túi khí cổ. Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế
quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ.
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [16]: Tần số hô hấp dao động
trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh
lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần


6
không khí. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định.
Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ. Ban đêm tần số hô hấp giảm

CO2thải ra (lít)

Gà con 1 - 20 ngày tuổi

2,0 - 2,4

1,4 - 1,6

Gà dò 21 - 150 ngày tuổi

1,0 - 1,8

0,7 - 1,2

Gà đẻ

0,8 - 1,6

0,6 - 1,0

Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô
bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo oxy hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu. Lượng O2 tối đa kết hợp với
hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21 cm3
(Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998) [5].
Nhà sinh lý học Nga N.A.Mislapski xác định trung tâm điều hoà hít vào
và thở ra nằm trong cấu trúc lưới của hành não, phải trái đối xứng nhau. Đặc
điểm cần chú ý là lồng ngực gia cầm rất phát triển, xương ức tương đối lớn,
không có cơ hoành. Phổi của gia cầm thiếu khả năng đàn hồi, nó cố định và
tựa vào sườn. Vận động của xương sườn làm xương ngực giãn ra hút khí vào
và khi xoang ngực co lại gây động tác thở ra.

các bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ huyết trùng,
bệnh do E. coli gây ra… đã gây nên những vụ dịch lớn, có tỷ lệ gà chết cao.
* Lịch sử bệnh và địa dư bệnh lý
Bệnh Mycoplasmosis lần đầu tiên được mô tả ở Mỹ vào năm 1936 bởi
Nesten với tên là bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm do vi trùng thuộc loại
cầu khuẩn. Năm 1943 Delaplane và Stuart đã cho rằng bệnh đường hô hấp
mãn tính là do virut. Vào năm 1949 Delaplane đã xác định rằng bệnh này ở
gia cầm có liên quan về căn bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm ở gà tây con.
Markham và Wong năm 1952 đã thành công trong việc phân lập vi
trùng viêm màng phổi - phổi thanh dịch, gà mắc bệnh đường hô hấp mãn tính


9
và từ gà tây mắc bệnh viêm xoang mũi là những vi trùng nhỏ giống như cầu
khuẩn, vi trùng mà Nelsen đã mô tả.
Trong các thí nghiệm sau đó, Jonson, Sullian, Taylor... và nhiều nhà
khoa học khác đã xác nhận rằng, bệnh đường hô hấp ở gà và bệnh viêm xoang
mũi truyền nhiễm ở gà tây ra bởi các vi trùng thuộc loại cầu khuẩn nằm trung
gian giữa virut và vi trùng có tính chất đặc trưng đối với nhóm vi trùng viêm
màng phổi - phổi PPLO. Berjey đã đặt tên cho loài vi trùng này là M.
gallisepticum. Năm 1961, Hội nghị dịch tễ thế giới đã đổi tên "bệnh đường hô
hấp mãn tính" thành "bệnh Mycoplasmosis đường hô hấp gia cầm". Từ cuối
năm 1951 bệnh này phổ biến ở nhiều nơi trên nước Mỹ và đến năm 1956 nó đã
lan tràn khắp nước Mỹ. Do việc xuất gà giống và trứng để ấp, nên từ nước Mỹ
bệnh này trong những năm sau đã lây truyền vào các nước trên thế giới, gây thiệt
hại đáng kể cho ngành chăn nuôi gia cầm. Ở Việt Nam đã tìm thấy kháng thể
Mycoplasma trong nhiều đàn gà nuôi tập trung từ năm 1975.
* Căn bệnh
Lúc đầu, nhiều tác giả trên thế giới đã cho rằng bệnh CRD là do virus
gây ra, các tác giả E. Jenson, J. Sullian, J. Taylor trong các thí nghiệm sau đó

thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt,…),
không mẫn cảm với Penicilin, Xicloserin và các chất kháng sinh khác ức chế
quá trình tổng hợp thành tế bào.
Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc; nhiệt độ tốt
nhất là 370C; pH: 7,0 - 8,0. Nó có thể phát triển tốt trên phôi gà và một số môi
trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa Hemoglubin,
Xistein. Trên môi trường thạch chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ
bé. Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong (trứng
ốp nếp). Khi phát triển trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi


11
trường và tạo thành những kết tủa. Trong môi trường thạch máu, Mycoplasma
làm dung huyết (Nguyễn Xuân Thành và cs, 2007) [15].
Mycoplasma có sức đề kháng yếu, ở ngoài thiên nhiên căn bệnh bị chết
rất nhanh. Các điều kiện lý hoá học và các chất sát trùng thông thường đều
diệt mầm bệnh dễ dàng. Mycoplasma bị diệt ở nhiệt độ 45 - 550C trong vòng
15 phút. Chúng rất mẫn cảm với sự khô cạn, tia tử ngoại, chất sát trùng và bị
ức chế bởi các chất kháng sinh, nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp protein
của Mycoplasma như Erythomycin, Tetracyclin…
Bệnh hô hấp mãn tính là một bệnh kế phát, chỉ phát thành triệu chứng
khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút do mắc các bệnh virut, ký sinh trùng,
các yếu tố dinh dưỡng và môi trường chăn nuôi... Ngoài ra, tiêm phòng các
loại vacxin giảm độc cũng dễ làm trỗi dậy bệnh Mycoplasmosis.
* Sự truyền lây
Sự lây nhiễm MG rất dễ dàng từ con này sang con khác thông qua tiếp
xúc trực tiếp hoặc gián tiếp. Khi MG khu trú ở đường hô hấp trên, một lượng
lớn mầm bệnh được giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự xuất tiết
của dịch rỉ mũi, qua hô hấp, ho. Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của
vùng khu trú mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa

thì bệnh càng kéo dài trầm trọng và không chữa trị được.
Thời gian tồn tại của MG ở ngoài cơ thể vật chủ thì khác nhau từ 1 14 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám vào. Vì vậy việc vệ sinh
quần áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi mà kém thì đó cũng là một con đường
truyền lây của bệnh. Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng trắng
trứng là 3 tuần ở 50C, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng đỏ mầm
bệnh tồn tại 18 tuần ở 370C, 6 tuần ở 200C. Như vậy những quả trứng dập, vỡ
trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh. Điều đáng chú ý là mầm bệnh có


13
thể tồn tại trong tóc, da của người từ 1 - 2 ngày, vì vậy người làm việc trong
đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh.
Một con đường truyền lây khác được mô tả kỹ càng đó là sự truyền lây
qua trứng. Ở giai đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và
định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh. Mầm bệnh
xâm nhập vào phôi và gây chết phôi, chúng có thể xâm nhập ngay trong lúc
mới nở do mầm bệnh có sẵn ở ngoài vỏ trứng vào gà con qua đường hô hấp.
MG không những được phân lập từ phôi mà còn phân lập được từ lòng đỏ của
trứng tươi, một phần phôi nhiễm bệnh bị chết trong quá trình ấp, một phần nở
ra sẽ là nguồn lây nhiễm bệnh cho đàn gà. Trong một số trường hợp cụ thể, sự
lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử dụng vaccine virus mà không
được làm từ trứng sạch bệnh. MG còn được tìm thấy trong tinh dịch của gà
trống bị bệnh. Vì vậy sự truyền lây có thể thực hiện qua con đường thụ tinh
nhân tạo và từ gà trống truyền cho gà mái.
* Dịch tễ học
Trong thiên nhiên gà, gà tây, gà lôi dễ mắc bệnh. Bồ câu, vịt, ngan,
ngỗng ít cảm thụ. Gà dò và gà mái đẻ dễ mắc bệnh hơn gà con, gà nuôi theo
phương thức tập trung công nghiệp dễ mắc bệnh hơn gà nuôi chăn thả vườn.
Bệnh Mycoplasmosis liên quan rất chặt chẽ với sức đề kháng của cơ thể, khi
các điều kiện thức ăn, chuồng trại, vận chuyển, thời tiết khí hậu... thay đổi

vào buổi đêm yên tĩnh. Gà xù lông, thở khó bỏ ăn, bệnh kéo dài làm gà gầy
nhanh và chết.
Một số con bị ỉa chảy, sưng ở vùng ngoài hốc mắt. Những triệu chứng
trên biểu hiện ở cường độ khác nhau và kéo dài hàng tháng, bệnh về mùa hè
diễn biến nhẹ hơn mùa đông. Tỷ lệ chết của gà con từ 10 - 25 % và tập trung
vào tuần đầu tiên sau khi xuất hiện bệnh. Gia cầm mắc bệnh giảm sản phẩm
từ 10 - 40 %, gà gầy sút và bệnh chuyển sang thể mãn tính.


15
Riêng ở gà đẻ: những ngày đầu thấy giảm ăn, sút cân, giảm đẻ trứng.
Sau đó chẩy nước mắt, nước mũi, hắt hơi, sưng mặt, viêm kết mạc mắt, thở
khò khè, trứng đổi màu, xù xì. Nếu ghép với E. coli thì trứng méo mó và vỏ
trứng có vệt đỏ lấm tấm (Lê Văn Năm và cs, 1996) [12].
Bệnh có tính chất lây lan chậm, các dấu hiệu đầu tiên ở gà xuất hiện từ
4 - 17 ngày sau khi lây bệnh tuỳ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể gà. Bệnh
kéo dài 20 - 70 ngày hoặc lâu hơn, tỷ lệ chết từ 10 - 40 %.
Gia cầm bệnh thường hắt hơi, ho khan, lắc đầu, vảy mỏ và há mồm ra
để thở. Niêm mạc mắt đỏ, xung huyết. Nước mắt quánh đặc dần sau biến
thành fibrin tạo thành hạt lạc nổi lồi lên giữa tròng mắt. Đôi khi viêm mủ toàn
mắt, lòng mắt bị đặc lại, gà bệnh bị mù.
Sau khi các xoang vùng đầu bị viêm thì các niêm mạc hầu, khí quản và
các túi hơi liên thông với nó cũng bị viêm. Gà bệnh ngày càng khó thở, mào yếm
tím bầm, kiệt sức rồi chết. Nhiều trường hợp gà bệnh chết sớm do nghẹt thở.
Ở đàn gà đẻ trứng mắc bệnh, làm giảm sản lượng trứng. Trứng bệnh đem
ấp tỷ lệ chết phôi tăng, số còn lại nở thành gà con bệnh. Ngoài ra, gà tây bệnh
còn có viêm khớp, viêm bao hoạt dịch. Một số gà bệnh có triệu chứng thần kinh.
Lê Văn Năm (2003) [14] cho biết CRD thường ghép với một số bệnh.
Từ đó triệu chứng cũng thể hiện rất phức tạp.
- Bệnh CRD ghép với viêm phế quản truyền nhiễm

Các triệu chứng của CRD luôn nổi bật, chảy nước mắt, nước mũi, mi mắt
bị viêm và bị sưng, đầu bị sưng lệch, mào tái nhợt, gà thường hay tìm chỗ ấm để
đứng hoặc nằm thở, hay vẩy đầu, cạo mỏ xuống nền chuồng, tiếng thở khò khè,
cào mỏ khoèn khoẹt râm ran nghe rõ từ xa trước khi bước vào chuồng.
Khi gà bị nhiễm với E. coli, gà sốt nên uống nhiều nước, ỉa chảy phân
loãng vàng trắng xanh vàng trắng. Gà thở khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo


17
tiếng rít và chết nhanh hơn, những gà bệnh tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20 - 40 %.
- CRD ghép với bạch lỵ ở gà con
+ Gà lớn không đều (con to, con nhỏ, con béo, con gầy).
+ Gà thở bằng miệng, sưng và viêm mí mắt, chảy nước mắt nước mũi, gà
bị ngạt nên thở dồn dập, hai cánh sã xuống để thở cho dễ, uống nhiều nước.
+ Gà ỉa chảy phân trắng hoặc trắng xanh, một số gà đi ngoài khó vì phân
bịt kín hậu môn, chướng hơi, tích nước xoang bụng, đôi con bị viêm khớp.
+ Gà kém ăn, ủ rũ và chậm lớn.
+ Tỷ lệ chết phụ thuộc vào sự can thiệp của bác sỹ thú y sớm hay chậm.
* Bệnh tích
Gà bệnh chết gầy và nhợt nhạt do thiếu máu. Niêm mạc mũi và các
xoang xung quanh sưng phù chứa đầy dịch nhớt màu vàng hay vàng xám.
Thành các xoang dưới mắt phù, trong xoang có dịch đặc chứa fibrin. Niêm
mạc họng xung huyết, sưng, đôi chỗ bị xuất huyết phủ nhiều niêm dịch trong.
Phổi phù thũng, mặt phổi phủ fibrin, dải rác một số vùng bị viêm, hoại tử.
Thành các túi hơi vùng ngực và vùng bụng bị dày lên, phù thũng. Xoang túi
hơi chứa đầy dịch màu sữa, nếu bệnh kéo dài thì chất này sẽ quánh lại, cuối
cùng thành một chất khô, bở, màu vàng. Ngoài ra gà bệnh còn bị viêm ngoại
tâm mạc, viêm rìa gan và viêm xoang bụng.
Theo Trần Văn Hạnh và cs, (2004) [3] cho biết: trong giai đoạn cấp
tính mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng

Viêm phổi:

13%

* Chẩn đoán
Chẩn đoán MG có thể bằng phương pháp huyết thanh học, mổ khám gà
chết và bằng phương pháp phân lập dịch thể đường khí quản hoặc túi khí của
gà bệnh.
Theo Hoàng Huy Liệu (2002) [31] đã đánh giá: nên phân biệt CRD với
các bệnh sau:
+ Bệnh Newcastle: Bệnh Newcastle lây lan nhanh hơn CRD, thường
biểu hiện triệu chứng thần kinh.
+ Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: thường lây lan nhanh hơn CRD,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất trứng và vỏ trứng.
+ Bệnh sổ mũi truyền nhiễm: biểu hiện viêm xoang chứa nhiều dịch tiết.
+ Bệnh tụ huyết trùng mãn tính ở gà: gây những ổ viêm dạng bã đậu
hóa và viêm xoang.
* Phòng bệnh
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [25] đã đưa ra biện pháp phòng bệnh
có hiệu quả như sau:
- Ăn uống đảm bảo số lượng, chất lượng và vệ sinh tốt. Cho uống bổ
sung vitamin nhóm B định kỳ 2 lần/ tháng.
- Chuồng trại sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo thoáng mát vào mùa hè, ấm
áp vào mùa đông, tránh gió lùa đặc biệt với gà dưới 5 tuần tuổi.


19
- Kiểm tra hàng ngày phát hiện gà bệnh, có biện pháp xử lý.
- Khử trùng vỏ trứng tại nhà kho, trạm ấp.
- Không nhập gà, trứng giống từ đàn bố mẹ mắc CRD.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status