1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
------------
NGUYỄN KHẢI HOÀN
DẠY HỌC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM DỰA VÀO
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHO SINH VIÊN
CAO ĐẲNG NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC (TIỂU HỌC)
Mã số: 62 14 01 11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2016
2
LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Đặng Thành Hưng
2. TS. Trịnh Thị Hồng Hà
Phản biện 1: PGS. TS. Trần Kiểm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS. TS. Đặng Quốc Bảo, Học viện Quản lý giáo dục
vấn đề trên cần được giải quyết thế nào trong dạy học NVSP ở các trường
đào tạo GVTH trình độ CĐ?
Một trong những kĩ năng nghề nghiệp quan trọng của nhà giáo là các
kĩ năng nghiên cứu người học, việc học, kĩ năng thiết kế dạy học và hoạt
động giáo dục. Khi SVSP tiểu học được học tập NVSP dựa vào thủ tục và
nguyên tắc NCTH thì những kĩ năng này sẽ được phát triển đúng đắn và
hiệu quả ngay từ giai đoạn đào tạo và quá trình hoàn thiện chúng sau này
trong hoạt động nghề nghiệp càng nhẹ nhàng hơn.
Qua phân tích bối cảnh như trên có thể nhận ra có hàng loạt những
vấn đề lí luận cần phải được xem xét và giải đáp thỏa đáng hơn, ví dụ:
1/ Dạy học NVSP dựa vào NCTH thực chất là phạm trù lí luận nào trong
dạy học? Đó là kiểu tổ chức dạy học, chiến lược học tập hay phương pháp
dạy học? Thậm chí đó có phải là môi trường học tập không? 2/ Bản chất của
dạy học NVSP trong đào tạo GVTH là gì và việc dạy học NVSP dựa vào
NCTH giúp ích gì cho SV trong quá trình học tập và sau này khi giảng dạy ở
tiểu học? 3/ Khi thực hiện dạy học NVSP dựa vào NCTH thì những vấn đề lí
4
luận của mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và đánh giá kết quả
học tập sẽ phải được hiểu, giải thích và giải quyết thế nào trong dạy học?
1.2. Về mặt thực tiễn
Trong một số năm gần đây, các trường CĐ đào tạo GVTH đã có
những cố gắng trong việc đổi mới PPDH NVSP và đã đạt được những tiến
bộ trong việc phát huy tính tích cực của người học. Nhìn vào chương trình
đang áp dụng hiện nay, các học phần/môn học NVSP chiếm tỉ lệ không
nhỏ, đã thể hiện sự coi trọng đối với nội dung dạy học NVSP trong đào tạo
GVTH. Do ảnh hưởng của Dự án Phát triển GVTH, Dự án Việt - Bỉ, hệ
thống các bài tập thực hành Rèn luyện NVSP thường xuyên với việc áp
Đề xuất các biện pháp dạy học NVSP dựa vào NCTH cho SV cao
đẳng ngành GDTH ở một số phần nội dung NVSP nhằm nâng cao kết quả
học tập NVSP của SV.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học NVSP cho SV hệ cao đẳng ngành GDTH ở một số
cơ sở đào tạo GVTH.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học NVSP dựa vào NCTH và hoạt
động học tập của SV trong quá trình NCTH ở một số phần nội dung NVSP
tiểu học.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung nghiên cứu được giới hạn trong lĩnh vực dạy học
NVSP dựa vào NCTH ở một số cơ sở đào tạo GVTH trình độ CĐ.
- Tổ chức khảo sát, điều tra tại các trường CĐSP đào tạo GVTH:
Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (nay là Trường Đại học Thủ đô Hà Nội,
Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Nguyên, Trường Cao đẳng Sư phạm Yên
Bái, Trường Cao đẳng Vĩnh Phúc và Trường Cao đẳng Tuyên Quang (nay
là Trường Đại học Tân Trào).
- Thực nghiệm được tiến hành tại Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường
Cao đẳng Tuyên Quang (nay là Trường Đại học Tân Trào).
4. Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp dạy học dựa vào NCTH trong dạy học NVSP kết
hợp được nguyên tắc tiến hành NCTH trong khoa học với qui trình học tập
theo các trường hợp được thiết kế thích hợp với nội dung NVSP, tạo ra
được môi trường học tập giàu tư duy GQVĐ, tính hợp tác, các cơ hội trải
nghiệm và thực hành cho SV thì dạy học sẽ có tác động tích cực đến quá
trình và kết quả học tập NVSP.
- Phương pháp phỏng vấn CBQL, GV, SV nhằm thu thập thông tin
về dạy học NVSP cho SV CĐ tại khoa GDTH thuộc các trường ĐH, CĐ;
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của GV (kế hoạch giảng dạy,
giáo án), nghiên cứu sản phẩm của SV (bài kiểm tra, biên bản thảo luận
nhóm…);
7
- Phương pháp TN khoa học để khẳng định các biện pháp đề xuất để
dạy học NVSP dựa vào NCTH cho SV ngành GDTH trình độ CĐSP.
6.2.3. Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các chuyên gia về tính cần
thiết, tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp dạy học NVSP dựa vào
NCTH cho SV ngành GVTH trình độ CĐSP.
6.2.4. Phương pháp xử lí thông tin: Sử dụng phương pháp thống kê toán
học để xử lí, phân tích, tổng hợp các số liệu nghiên cứu nhằm rút ra những
nhận xét, kết luận có giá trị khách quan.
7. Những luận điểm khoa học phải bảo vệ
7.1. Dạy học NVSP dựa vào NCTH phát triển năng lực GQVĐ, phát
triển khả năng hợp tác và giúp SV học thông qua trải nghiệm, có được cảm
giác thành công và sáng tạo.
7.2. Để dạy học NVSP dựa vào NCTH trong đào tạo GVTH thành công
cần: 1/ Phân tích nội dung chương trình NVSP tiểu học để lựa chọn và thiết
kế các trường hợp dạy học phù hợp; 2/ Lựa chọn hoặc thiết kế các trường
hợp trong dạy học NVSP; 3/ Sử dụng một số kĩ thuật dạy học NVSP dựa
vào NCTH; 4/ Thực hiện đánh giá kết quả dạy học NVSP theo tiếp cận
năng lực.
7.3. Dạy học NVSP dựa vào NCTH giúp nâng cao kết quả học tập
NVSP của SV vì chiến lược này rất thích hợp với tính chất của đào tạo
NVSP cũng như với bản chất nghiên cứu của cách học tập dựa vào NCTH
Nghiên cứu trường hợp (Case Study) trong khoa học của Dul, J. và Hak, T.
(2008), George, Alexander L. và Bennett, Andrew (2005), Gerring, John.
(2005), Gomm, R., Hammersley, M., Foster, P. (Eds.) (2000), Kenneth
Harling (2003), Merriam, Sharan B. (1988), Mills, Albert J., Gabrielle
Durepos, Elden Wiebe (2010), Robert K. Yin (2002), Robert E. Stake
(1995), Rolf Johansson (2003), Rolls, Geoffrey (2005), Scottsdale, Gorsuch
Scarisbrick (1996) v.v… cho thấy NCTH là phương pháp khoa học có lịch
sử lâu đời, bắt nguồn từ nghiên cứu y học. Sau phương pháp này được sử
dụng trong nghiên cứu sinh học, khoa học quản lí, khoa học kinh tế, khoa
học lịch sử, tâm lí học, xã hội học, khoa học giáo dục v.v… Chẳng hạn
trong giáo dục so sánh, người ta phân tích vấn đề đào tạo giáo viên ở 3
trường hợp là Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp (PPNCTH) được sử dụng để dạy
học lần đầu tiên tại Đại học kinh doanh Havard do Christopher Columbus
Langdell (1871) là người khởi xướng khi dạy luật kinh doanh. Năm 1921
Morris Copeland đã viết chuyên khảo đầu tiên về dạy học bằng NCTH
trong kinh tếError! Reference source not found.. Từ 1919, ở Đại học
9
Western Ontario (Canada), W. Sherwood Fox và K.P.R. Neville là những
người đầu tiên giảng dạy kinh doanh theo PPNCTH của Đại học Havard
bên ngoài Hoa Kỳ. Năm 1922, Ellis H. Morrow từ Havard đã thực hiện
PPNCTH trong giảng dạy tại Trường kinh doanh Richard Ivey của Đại học
Western Ontario.
Cuối thế kỉ 20, NCTH trở nên phổ biến trong đào tạo đại học trên
khắp thế giới, nhất là ở Mĩ, Canada, Anh, các nước Bắc Âu, Australia, Đức,
Pháp, Nhật Bản, Singapore. Bắt đầu từ thời điểm này NCTH mới đi vào
trường phổ thông với tư cách chiến lược hay kiểu tổ chức dạy học, song còn
(2011) đều xem xét vấn đề này theo tiếp cận năng lực và phát triển nghề
nghiệp giáo viên. Có nghĩa NVSP là một phần hạt nhân trong năng lực
nghề nghiệp và trong toàn bộ tiến trình phát triển nghề nghiệp của nhà giáo.
Những công trình của Andrews, Blackmon & Mackey (1980); Ayers
& Qualls (1979); Haney, Madaus, & Kreitzer (1986); Quirk, Witten, &
Weinberg, (1973); Summers & Wolfe (1975); Ferguson và Womack
(1993); Tennessee và Dallas; Sanders & Rivers (1996); Darling-Hammond
(2000, 2009 và 2010)); Ken Bain (2004); Các nghiên cứu của Ngân hàng
thế giới, báo cáo của OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế); Nghiên
cứu của Wilson và đồng nghiệp (2001) thuộc Đại học bang Michigan; Dự
án giáo viên cho thế kỉ mới (Teachers for New Era Project của tổ chức
Carnegic - Mỹ (2002); Nghiên cứu của Jordan (2006);... đều đã bàn đến đào
tạo NVSP cho SV như một nhiệm vụ quan trọng của phát triển nghề nghiệp
giáo viên. Phần lớn các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những khía cạnh
sau: (i) Kiến thức, kĩ năng về dạy và học (NVSP); (ii) Sự tương tác giữa
GV và SV trong việc dạy học.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1. Về NCTH và dạy học dựa vào NCTH
Hiện nay, các nhà nghiên cứu lí luận có nhiều cách tiếp cận khác nhau
về ứng dụng NCTH trong dạy học:
Thứ nhất, tiếp cận trường hợp như những tình huống trong dạy học,
được trình bày trong các nghiên cứu của: Đặng Quốc Bảo, Trần Văn Hà,
Phan Thế Sủng và Lưu Xuân Mới, Vũ Thế Dũng, Vũ Từ Huy, Nguyễn Hữu
Lam, Nguyễn Thị Lan, Lã Văn Mến, Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Thị Phương
Hoa, Bùi Thị Mùi, Trần Thị Nam, Ngô Diệu Nga, Vũ Thị Nguyệt, Trần
Văn Nguyệt, Đặng Thị Oanh, Bùi Hồng Thái, Nguyễn Thị Yến Thoa, Đỗ
Hương Trà, Phạm Thị Thanh Tú, Đoàn Thị Ty.
Thứ hai, tiếp cận NCTH như một PPDH được trình bày trong các
nghiên cứu của Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường, Lê Văn Hảo, Trịnh
Thúy Giang, Phan Quan Việt (2013) và một số người khác.
1.2.1.1. Trường hợp
Trường hợp là khái niệm chỉ tất cả những gì tồn tại, đang diễn ra, xảy
ra hoặc mới xuất hiện, ngẫu nhiên hoặc cố ý nhưng khách quan với người
nghiên cứu song lại nằm trong sự quan tâm sâu sắc của người nghiên cứu
và trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu trong quan hệ của nó với một
bối cảnh nhất định và với ý tưởng nhất định của người nghiên cứu.
12
1.2.1.2. Nghiên cứu trường hợp
Trong luận án khái niệm NCTH được xác định như sau: Nghiên cứu
trường hợp là một trong số các phương pháp nghiên cứu khoa học có chức
năng mô tả, phân tích, giải thích và đánh giá chuyên sâu có tính điển hình
về bản chất, các nhân tố phát triển của đối tượng cụ thể (Case) trong hoàn
cảnh tồn tại cụ thể của đối tượng đó và phán đoán triển vọng của nó dựa
trên những phát hiện về nó qua dữ liệu, đánh giá các liên hệ phụ thuộc và
nhân quả theo quan niệm nhất định của nhà nghiên cứu.
1.2.2. Đặc điểm của trường hợp và NCTH trong khoa học
Đặc điểm bản chất của TH là có tính vấn đề hay có tính thách thức (có
vấn đề phải giải quyết, có thách thức phải khắc phục), có giá trị nào đó (có
ý nghĩa với ai đó hay công tác nào đó), có lịch sử và diễn biến nhất định dù
một thoáng hay lâu dài (có nguyên nhân, lí do và những điều kiện gây ra),
có hiện tượng bên ngoài (dấu hiệu nhận biết cảm tính), có căn cứ thực thể
(từ chất hay bản thể nào mà ra), tồn tại bên ngoài người nghiên cứu và cuối
cùng, có hoàn cảnh cụ thể (tại đâu, lúc nào, những tác động ngoại vi nào).
Để nhận biết đặc điểm của NCTH trong khoa học, cần phải xác định rõ mục
đích, đối tượng nghiên cứu và các giải đáp trong NCTH.
1.3. Lí luận về NCTH trong dạy học
1.3.1. Một số khái niệm
người học; Trường hợp cần có thể diễn giải theo cách nhìn của người học
và để mở nhiều hướng giải quyết; Trường hợp cần chứa đựng vấn đề học
tập có thể liên quan đến nhiều phương diện; Trường hợp cần vừa sức với
người học và có thể giải quyết trong điều kiện cụ thể; Trường hợp cần đòi
hỏi có nhiều cách giải quyết khác nhau; Trường hợp cần thể hiện rõ kiểu và
loại để định hướng tốt cho dạy học và học tập.
1.3.2.3. Đặc điểm của NCTH trong dạy học
Dựa trên các nghiên cứu trước và tổng hợp, theo tác giả luận án có 3
đặc điểm nổi bật: Dạy học dựa vào NCTH phát triển năng lực GQVĐ của
SV; Dạy học dựa vào NCTH phát triển kĩ năng hợp tác của SV; Dạy học
dựa vào NCTH giúp SV học thông qua trải nghiệm và có được cảm giác
thành công và sáng tạo.
1.4. Dạy học NVSP dựa vào NCTH
1.4.1. Một số khái niệm
1.4.1.1. Nghiệp vụ sư phạm
Theo quan điểm tiếp cận năng lực, trong luân án này NVSP được hiểu
là toàn bộ những năng lực nghề nghiệp thiết yếu mà người GV phải có để
thực hiện quá trình dạy học, giáo dục học sinh.
14
1.4.1.2. Dạy học NVSP dựa vào NCTH
Dạy học NVSP dựa vào NCTH thực chất chính là xử lí nội dung học
tập NVSP thành các vấn đề và thiết kế thành các TH (tình huống, dự án,
chủ đề học tập...) để SV nghiên cứu. Trong đó GV là người tổ chức hoạt
động học tập, nghiên cứu cho SV thông qua các tình huống, dự án, chủ đề
học tập và kiểm tra đánh giá kết quả đạt được ở SV để điều chỉnh quá trình
học tập theo kiểu nghiên cứu nhằm đạt mục tiêu dạy học đề ra.
1.4.2. Bản chất và nguyên tắc của dạy học NVSP dựa vào NCTH
1.4.4.1. Đặc điểm của dạy học NVSP cho sinh viên ngành GDTH: 4 đặc
điểm
1.4.4.2. Một số biện pháp, kĩ thuật dạy học NVSP dựa vào NCTH: Dạy học
giải quyết vấn đề dựa vào NCTH; Dạy học theo tình huống như một hình
thức của trường hợp; Dạy học theo dự án dựa vào NCTH; Sử dụng một số
kĩ thuật khác.
1.4.4.3. Định hướng dạy học NVSP dựa vào NCTH : Thay đổi nhận thức,
suy nghĩ và thói quen; Phân tích, tổng hợp, sắp xếp nội dung NVSP theo
hướng tích hợp; Lựa chọn, thiết kế TH phù hợp; Chú trọng hình thành năng
lực cho SV.
1.5. Đặc điểm sinh viên và hoạt động học tập của sinh viên cao đẳng
ngành giáo dục tiểu học
1.5.1. Đặc điểm của sinh viên cao đẳng ngành GDTH
1.5.2. Hoạt động học tập của sinh viên cao đẳng ngành GDTH
1.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến dạy học NVSP dựa vào NCTH
1.6.1. Những yếu tố chủ quan: Năng lực của giảng viên; Tính tích cực học
tập của sinh viên
1.6.2. Những yếu tố khách quan: Chương trình đào tạo, học liệu; Môi
trường học tập; Các yếu tố quản lí; Hạ tầng vật chất-kĩ thuật
Kết luận chương 1
1.1. Có nhiều nghiên cứu về NVSP, đào tạo NVSP và phương pháp
NCTH trong khoa học và trong dạy học. Nhưng có rất ít nghiên cứu về sử
dụng NCTH vào dạy học như một chiến lược dạy học tìm tòi, nghiên cứu.
Còn vấn đề dạy học NVSP dựa vào NCTH của SV ngành GDTH thì hầu
như chưa có công trình nào ở Việt Nam giải quyết.
1.2. Dạy học NVSP dựa vào NCTH phải đáp ứng hàng loạt nguyên
tắc lí luận và những yêu cầu mà phương pháp NCTH trong khoa học và đào
tạo NVSP đặt ra. Đó là phải xử lí nội dung NVSP phù hợp thành các trường
hợp phải nghiên cứu, chỉ đạo học tập theo kiểu nghiên cứu, thiết kế tiến
trình học tập dựa vào các trường hợp phản ánh sinh động nội dung cơ bản
2.2.3. Việc tổ chức các hoạt động học tập theo các tình huống dạy học,
tình huống trải nghiệm
2.2.4. Việc đánh giá kết quả học tập NVSP của sinh viên
2.3. Thực trạng áp dụng NCTH trong dạy học NVSP cho sinh viên cao
đẳng ngành GDTH
2.3.1. Mục đích, đối tượng và địa bàn khảo sát
17
2.3.1.1. Mục đích khảo sát
2.3.1.2. Đối tượng và địa bàn khảo sát
2.3.2. Nội dung khảo sát
2.3.2.1. Nhận thức của CBQL, GV, SV về dạy học dựa vào NCTH
2.3.2.2. Kinh nghiệm dạy học dựa vào NCTH trong đào tạo GVTH;
2.3.2.3. Những kết quả đạt được khi dạy học dựa vào NCTH
2.3.2.4. Những khó khăn và thách thức cơ bản khi dạy học dựa vào NCTH.
2.3.3. Phương pháp khảo sát
2.4. Kết quả khảo sát
2.4.1. Nhận thức của GV, CBQL và SV về dạy học dựa vào NCTH
- Sự hiểu biết của CBQL, GV, SV về bản chất của các phương pháp
dạy học, chiến lược dạy học còn nhiều hạn chế và chưa thật đầy đủ.
- Chưa làm rõ được nội hàm và ngoại diên của khái niệm về NCTH và
bản chất của dạy học dựa vào NCTH, đặc biệt trong lĩnh vực dạy học NVSP.
2.4.2. Kinh nghiệm của GV, CBQL, SV về giảng dạy, học tập dựa vào
NCTH
2.4.2.1. Đối với những người chưa giảng dạy, học tập theo kiểu NCTH:
Chưa áp dụng do học chế, nội dung chương trình và quản lí nhìn chung
chưa khuyến khích dạy học theo NCTH.
2.4.2.2. Đối với các CBQL, GV, SV đã giảng dạy, học tập theo kiểu
căn cứ thực tiễn để đề xuất các biện pháp cụ thể trong dạy học NVSP dựa
vào NCTH cho SV CĐ ngành GDTH nhằm đào tạo ra đội ngũ GVTH đáp
ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.
19
2.2. Qua khảo sát, phỏng vấn một số CBQL, GV, SV của 5 trường
ĐH, CĐ đào tạo GVTH trình độ CĐ cho thấy, trong quá trình dạy học
NVSP, GV đã cố gắng lựa chọn các nội dung NVSP liên hệ với thực tiễn
GDTH, bước đầu xử lí một số nội dung học tập NVSP dưới dạng các tình
huống dạy học, tình huống trải nghiệm thực tiễn cho SV. Một số kĩ thuật
dạy học do Dự án Việt - Bỉ, Dự án Phát triển GVTH tập huấn đã được đưa
vào áp dụng trong dạy học NVSP cho SV. Tuy nhiên, việc kiểm tra đánh
giá chưa theo kịp với những thay đổi của thực tiễn GDTH hiện nay, đặc
biệt là đánh giá SV theo tiếp cận năng lực.
2.3. Những hạn chế của việc dạy học NVSP dựa vào NCTH chủ yếu
xuất phát từ những nhược điểm trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, từ
quản lí đào tạo. Điểm cần nhấn mạnh là cả GV lẫn SV hiện nay chưa thực
sự sẵn sàng thực hiện các chiến lược dạy học và học tập hiện đại, trong đó
có dạy học dựa vào NCTH cho SV CĐ ngành GDTH. Những nhược điểm
đó tồn tại cả trong nhận thức lí luận lẫn trong năng lực hành dụng, đặc biệt
là những kĩ năng nghề nghiệp cần thiết để dạy học và học tập theo các
chiến lược hiệu quả.
2.4. Tuy nhiên khảo sát thực trạng cũng cho thấy ở trường sư phạm đã
có những tiền đề cần thiết để thay đổi chương trình đào tạo NVSP, đổi mới
phương thức học tập và phương pháp dạy học, cải thiện cách thức quản lí
đào tạo NVSP sao cho các hoạt động đào tạo tập trung vào năng lực nghề
nghiệp (tay nghề) và dựa vào những chiến lược dạy học hiện đại để nâng
cao hiệu quả đào tạo.
3.2.1.3. Ví dụ minh họa: Thiết kế tình huống dạy học dưới dạng câu chuyện
giáo dục:"Em muốn trở thành người giáo viên tiểu học"
3.2.2. Trường hợp dưới dạng các chủ đề học tập NVSP
3.2.2.1. Mục đích, yêu cầu
3.2.2.2. Qui trình thiết kế
a) Bước 1. Lựa chọn chủ đề học tập
b) Bước 2: Dự kiến thời lượng, thời điểm cho chủ đề học tập
c) Bước 3. Xác định mục tiêu dạy học của chủ đề học tập
d) Bước 4. Xây dựng nội dung hoạt động dạy học,học tập
e) Bước 5. Đánh giá, tổng kết hoạt động và tiếp tục hướng dẫn SV học tập
3.2.2.3. Ví dụ minh họa: Thiết kế một số chủ đề thực hành NVSP cho SV
năm thứ 2 ngành GDTH hệ CĐSP trước khi đi TTSP.
3.2.3. Trường hợp dưới dạng các đề tài nghiên cứu HS
3.2.3.1. Mục đích, yêu cầu
21
3.2.3.2. Qui trình thiết kế
a) Bước 1: Xác định đề tài nghiên cứu
b) Bước 2: Lựa chọn thiết kế nghiên cứu
c) Bước 3: Đo lường - Thu thập dữ liệu
d) Bước 4: Phân tích dữ liệu
e) Bước 5: Báo cáo kết quả nghiên cứu
3.2.3.3. Ví dụ minh họa
a) Nghiên cứu kinh nghiệm học tập của em NVA, HS lớp 5A Trường
Tiểu học Tân Trào
b) Nghiên cứu kĩ năng tìm kiếm và tiếp nhận thông tin học tập của
học sinh lớp 5
c) Nghiên cứu đặc điểm tình bạn khác giới của học sinh tiểu học trong
f) Bước 6: Tổng kết và hướng dẫn học tập.
3.3.2.3. Ví dụ minh họa: Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép và công não trong chủ
đề học tập “Tri thức nghề nghiệp của GVTH”
3.3.3. Kĩ thuật nghiên cứu bài học trong nghiên cứu trường hợp
3.3.3.1. Mục đích, yêu cầu
3.3.3.2. Tiến trình dạy học
a) Bước 1: Chuẩn bị bài dạy minh họa
b) Bước 2: Thiết kế các hoạt động học tập và dạy học
c) Bước 3: Dạy minh họa và dự giờ
d) Bước 4: Thảo luận sau dự giờ (Bảo vệ)
e) Bước 5: So sánh và kết luận
3.3.3.3. Ví dụ minh họa: Áp dụng NCBH trong NCTH với bài dạy minh
họa “Tri thức nghề nghiệp của GVTH”
3.4. Thực hiện đánh giá kết quả học tập NVSP theo tiếp cận năng lực
3.4.1. Nguyên tắc đánh giá
3.4.2. Qui trình đánh giá: 3 giai đoạn và 10 bước như sau:
3.4.2.1. Giai đoạn 1: Chuẩn bị đánh giá (5 bước)
3.4.2.2. Giai đoạn 2: Tổ chức đánh giá (3 bước)
3.4.2.3. Giai đoạn 3: Đánh giá của cơ sở giáo dục, cộng đồng (2 bước)
3.4.3. Kĩ thuật đánh giá: (i) Tiêu chí đánh giá; (ii) Chuẩn đánh giá;
(iii) Thang đánh giá
Kết luận chương 3
3.1. Các biện pháp dạy học NVSP dựa vào NCTH trực tiếp tác động
vào lĩnh vực nội dung học tập, kĩ năng và phương pháp học tập NVSP theo
kiểu nghiên cứu, tác động vào hoạt động học tập-nghiên cứu của SV dựa
trên những trường hợp gắn liền với hoạt động của trường tiểu học.
3.2. Việc sắp xếp lại và thiết kế nội dung đào tạo NVSP theo chiến
lược NCTH có thể tạo nhiều điều kiện thuận lợi để giúp SV rèn luyện
4.1. Kết quả thực nghiệm cho thấy, các biện pháp dạy học NVSP dựa
vào NCTH đã có tác động tích cực đến kết quả học tập của SV. TNSP được
tiến hành theo đúng trình tự qua 2 giai đoạn là TN thăm dò và TN tác động
chính. Kết quả của đợt TNSP thăm dò đã giúp GV điều chỉnh kịp thời các
24
biện pháp dạy học phù hợp hơn ở đợt TNSP chính nên kết quả TN chính
cao hơn TN thăm dò. Đa số SV ở các lớp thực nghiệm đều tỏ ra thích thú
với các giờ học NVSP. Kết quả học tập NVSP ở các lớp thực nghiệm đều
cao hơn so với các lớp đối chứng.
4.2. Qua việc đánh giá bằng phương pháp chuyên gia đã khẳng định
việc lựa chọn hoặc thiết kế các TH và sử dụng một số kĩ thuật dạy học
NVSP dựa vào NCTH nhằm mục tiêu rèn luyện kĩ năng GQVĐ và tích lũy
kinh nghiệm thực tế cho SV là cần thiết, khả thi và hiệu quả không chỉ với
NVSP mà với cả các học phần/ môn học khác.
4.3. Dạy học NVSP cho SV CĐ ngành GDTH là một lĩnh vực rất
rộng, thực nghiệm mới chỉ chọn lấy một phần quan trọng là tri thức về kĩ
năng dạy học cơ bản. Trong số các kĩ năng dạy học cơ bản, thực nghiệm
cũng mới chỉ tập trung vào nhóm kĩ năng nghiên cứu HS và học tập. Để
khẳng định một cách chắc chắn hơn tính đúng đắn, tính khả thi và tính hiệu
quả của các biện pháp dạy học NVSP dựa vào NCTH được đề xuất, cần
phải TNSP nhiều lần và thực nghiệm trên diện rộng, trong đó có tính đến
năng lực đầu vào của SV, đặc thù của văn hóa vùng, miền và mục tiêu, nội
dung môn học NVSP ở các cơ sở đào tạo GVTH trình độ CĐSP.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Luận án đã tổng hợp, bổ sung và phát triển thêm một số vấn đề về
cơ sở lí luận của dạy học dựa vào NCTH và áp dụng vào trong lĩnh vực dạy
nghiệm thông qua TNSP và xin ý kiến chuyên gia. TNSP tiến hành ở khoa
GDTH, Trường Cao đẳng Tuyên Quang (nay là Trường Đại học Tân Trào)
đã khẳng định tính được tính đúng đắn của giả thuyết khoa học. Kết quả
của phương pháp chuyên gia đã khẳng định tính cần thiết, tính khả thi và
tính hiệu quả của các biện pháp dạy học. Với những kết quả thu được,
chứng tỏ luận án đã thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và giả
thuyết khoa học đã đề ra.
2. Kiến nghị
2.1. Với các cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học
- Nên xem xét để thiết kế, xây dựng lại chương trình đào tạo NVSP
theo hướng tích hợp liên môn, xuyên môn để có thể áp dụng nhiều chiến
lược dạy học hiện đại khác nhau trong đào tạo NVSP. Đảm bảo nội dung
chương trình vừa cơ bản, hiện đại, vừa sát với thực tiễn và mang tính hội
nhập khu vực, quốc tế.
- Cần phải tạo cơ chế và môi trường thuận lợi để có thể áp dụng các
chiến lược dạy học hiện đại, trong đó có chiến lược dạy học NVSP dựa vào
NCTH trong đào tạo GVTH.