DẠY HỌC DỰA VÀO NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
TRONG ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
Nguyễn Khải Hoàn
1
Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề nhất định. Nghiệp vụ sư
phạm là các hoạt động dạy học và giáo dục học sinh của nhà giáo. Tuy nhiên,
việc dạy học nghiệp vụ sư phạm hiện nay còn nhiều bất cập. Sinh viên ra
trường vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giáo dục hiện nay. Bài
viết này giới thiệu về khả năng áp dụng nghiên cứu trường hợp trong đào tạo
nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên.
1. Bối cảnh và vấn đề
Nghiên cứu trường hợp (Case Study - NCTH) bắt đầu được khởi xướng từ những năm 40
của thế kỷ 20 bởi James B.Conant ở Đại học Havard, Hoa Kỳ (1949). Tuy nhiên, sự khởi xướng
này đã không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nhà giáo dục thời ấy bởi Conant không sử
dụng các “case” như vấn đề cho sinh viên (SV) thảo luận mà chỉ đưa vào bài giảng của mình.
Đến những năm 80, các trường Luật và Thương mại của Đại học Havard bắt đầu sử dụng
rộng rãi các “case” là các ví dụ điển hình trong thực tế để làm nội dung chính cho sinh viên SV thảo
luận trong các môn học (Christensen, 1986). Từ thành công ở các trường này, NCTH đã dần được
mở rộng sang các ngành đào tạo khác. Nhiều trường đại học thành lập riêng các trung tâm nghiên
cứu và phát triển NCTH, tiêu biểu như Đại học Buffalo - Hoa Kỳ.
Hiện nay, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Đại học Đại Nam, Đại học Nha Trang và một số trường đại học khác đã áp dụng NCTH
vào việc thực hiện một số chuyên đề nghiên cứu, một số môn học thực hành cho giáo viên (GV),
SV và đã thu được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về áp
dụng NCTH trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm (NVSP) cho SV.
Trong dạy học, ngay cả khái niệm NCTH cũng được giải thích rất khác nhau, theo một số
hướng sau:
- NCTH đồng nghĩa với phương pháp dạy học theo tình huống, đây là điểm chồng chéo lâu
nay giữa các khái niệm như dạy học nêu vấn đề, dạy học theo tình huống, vấn đáp, dạy học tìm
2. Nội dung
2.1. Khái niệm nghiên cứu trường hợp (NCTH)
Thuật ngữ “Case Study” trong tiếng Anh được hiểu là nghiên cứu trường hợp (NCTH) - là
phương pháp nhận thức cụ thể về một trường hợp (biến cố, sự kiện, công việc, nhiệm vụ…) dựa
trên sự hiểu biết toàn diện về trường hợp đó; hiểu biết này có được nhờ vào sự mô tả và phân tích
trường hợp này như một thực thể toàn diện trong bối cảnh riêng biệt của nó, và giải quyết vấn đề
nếu có trong trường hợp đó.
Trường hợp (Case) là biến cố xảy ra ngẫu nhiên, không liên quan đến chủ định của ai cả.
Khi người ta phát hiện, quan tâm đến tính chất của trường hợp nào đó và chọn nó để tìm hiểu,
nghiên cứu thì lúc đó quá trình nhận thức trường hợp này được gọi là nghiên cứu trường hợp
(Case Study) [Đặng Thành Hưng, 2002]. Theo chúng tôi, NCTH là một trong các chiến lược học
tập, hay phương pháp học tập có tính chất nghiên cứu dựa trên những trường hợp đặc trưng được
sử dụng phổ biến trong các ngành y học, xã hội học, quản trị học, luật học và giáo dục học. Nó
dựa trên sự tìm hiểu sâu sắc về một cá nhân, một nhóm hoặc thậm chí là một sự kiện để tìm ra
nguyên nhân của một vấn đề và thấu hiểu được những nguyên lý gốc rễ, cơ bản của nó.
Mục tiêu cơ bản của phương pháp này là tìm hiểu rõ về trường hợp nghiên cứu bằng cách
theo dõi sát sao và toàn diện trường hợp đã chọn trong một thời gian đủ dài và ngay tại môi
trường tự nhiên của nó. Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra lời giải thích tại sao mọi việc xảy ra như đã
xảy ra, và thông qua đó xác định các vấn đề quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi hơn
trong tương lai.
2.2. Đặc điểm, phân loại và các bước tiến hành NCTH
2.2.1. Đặc điểm của NCTH
Theo các nghiên cứu trước đây, NCTH trước hết là một nghiên cứu điều tra một cá nhân
hay một tập thể về một vấn đề cụ thể như tâm lý, xã hội học… NCTH được thực hiện thông qua
điều tra nghiên cứu một hay nhiều trường hợp; các trường hợp được lựa chọn căn cứ theo mục
đích nghiên cứu.
Về cơ bản, NCTH là loại nghiên cứu chuyên sâu trong hoàn cảnh cụ thể chứ không phải là
một thống kê khảo sát sâu rộng. Nó là một phương pháp được sử dụng để thu hẹp một lĩnh vực
nghiên cứu rất rộng vào một chủ đề nghiên cứu dễ dàng hơn. NCTH có các đặc điểm cơ bản sau:
(1) Nghiên cứu hoạt động của con người trong bối cảnh thực tiễn.
trong một quá trình tiến hành NCTH như sau:
- Xác định vấn đề cần nghiên cứu: hình thành các câu hỏi về tình hình hoặc vấn đề được
nghiên cứu và xác định mục đích để nghiên cứu. Các đối tượng nghiên cứu trong một NCTH
thường là một chương trình, một thực thể, một người, hoặc một nhóm người.
- Chọn các trường hợp, xác định dữ liệu thu thập và kỹ thuật phân tích.
Lựa chọn một hoặc nhiều trường hợp thực tế và phương pháp tiếp cận để thu thập dữ
liệu. NCTH cần lựa chọn kỹ các trường hợp và cẩn thận xem xét các lựa chọn về nội dung, chủ
đề nghiên cứu để có để tăng hiệu lực của nghiên cứu.
- Chuẩn bị thu thập dữ liệu: NCTH tạo ra một lượng lớn dữ liệu từ nhiều nguồn khác
nhau cho nên cần chuẩn bị cơ sở dữ liệu để hỗ trợ phân loại, lưu trữ và lấy dữ liệu để phân
tích.
- Thu thập dữ liệu trong thực tế: các dữ liệu phải được thu thập và lưu trữ một cách toàn
diện và có hệ thống.
- Đánh giá và phân tích dữ liệu: đánh giá, phân tích dữ liệu bằng nhiều cách diễn giải để
tìm ra mối liên kết giữa các đối tượng nghiên cứu và các kết quả với tài liệu tham khảo cho các
câu hỏi nghiên cứu ban đầu.
- Xây dựng báo cáo: báo cáo NCTH cần tổng hợp, thu gọn vấn đề phức tạp thành vấn đề
đơn giản, dễ hiểu để áp dụng các kinh nghiệm trong tình huống vào cuộc sống thực.
2.3. NCTH trong dạy học
NCTH đã được các nền giáo dục trên thế giới áp dụng từ rất lâu, nó hướng cho SV tới những
bài tập mang tính chất tư duy, suy luận, phân tích và một môi trường học tập đầy tính cạnh tranh.
SV nước ngoài thường xuyên phải trả bài bằng các buổi thuyết trình, các buổi tranh luận sôi nổi và
các bài tập thực hành với thời lượng lên tới 80% tổng số tiết học. Đó chính là lí do tại sao SV nước
ngoài tuy không quá giỏi lý thuyết nhưng lại rất giỏi trong thực hành, trong xử lí tình huống thực tế,
giải quyết vấn đề thực tế và họ hoàn toàn tự tin bắt đầu công việc khi ra trường.
NCTH là phương pháp học tích hợp nhiều hình thức học tập nên tích cực hóa động cơ
người học. NCTH nhằm rèn luyện kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn cho SV. Với NCTH
trong dạy học đòi hỏi cả GV và SV cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi lên lớp. Trong quá
trình dạy học, SV chủ động, tự lực nghiên cứu bài học còn GV chỉ là người điều phối, dẫn dắt.
Để dạy học dựa vào NCTH thành công, giáo viên cần trải qua (và có kĩ năng) những nhiệm
Dạy học NVSP dựa vào NCTH tạo cơ hội cho người học phát triển toàn diện các kỹ năng
như: Phân tích để xác định vấn đề; xây dựng và viết tình huống; thu thập và xử lý thông tin; giao
tiếp và làm việc theo nhóm; trình bày vấn đề/ quan điểm trước tập thể; tranh luận, đưa ra luận
điểm và bảo vệ ý kiến; năng lực tư duy phê phán, phản biện; so sánh, đánh giá các phương án; ra
quyết định và giải quyết vấn đề; sáng tạo khi đưa ra các giải pháp cho vấn đề.
NCTH trong dạy học NVSP có thể mang lại những ưu điểm nổi trội như: Tăng tính thực
tiễn của môn học; nâng cao tính chủ động, sáng tạo và hứng thú của SV; cung cấp kinh nghiệm,
cách nhìn và giải pháp mới cho cả GV và SV.
c) Áp dụng NCTH trong dạy học NVSP cho phép phát huy khả năng tự đào sâu kiến thức
của cả GV và SV
Trong dạy học NVSP, GV luôn phải hướng dẫn SV xử lý các tình huống sư phạm, giải
quyết các vấn đề trong học tập có liên quan đến hoạt động sư phạm sau này. Trong quá trình
hướng dẫn SV nghiên cứu, GV cũng tự rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân như: Cách
gợi ý dẫn dắt vấn đề cần nghiên cứu, cách điều phối thảo luận vấn đề đi đúng trọng tâm không bị
lệch hướng, cách phân phối thời gian NCTH một cách phù hợp không gây ảnh hưởng đến tiến độ
bài học, cách khai thác và phát triển các vấn đề, tình huống sư phạm thành các “Case” NVSP để
SV tự nghiên cứu GQVĐ… Như vậy, không chỉ SV mà bản thân GV cũng được rèn luyện kỹ
năng GQVĐ nảy sinh từ thực tế, tự nâng cao năng lực chuyên môn và sư phạm cho mỗi GV.
Áp dụng NCTH trong dạy học NVSP mang lại những thách thức và cơ hội lớn cho cả
người dạy và người học, như: GV cần nhiều thời gian chuẩn bị, xây dựng các trường hợp phù hợp
với nội dung môn học, thường xuyên phải cập nhật thông tin, đưa ra các ý tưởng (vấn đề) và có
các biện pháp quản lý, theo dõi sự tiến bộ của SV; SV được rèn luyện khả năng tư duy độc lập,
tích cực, năng động, sáng tạo trong GQVĐ, còn NCTH là môi trường, điều kiện hoạt động, có tác
dụng khuyến khích và định hướng cho việc GQVĐ nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng dạy học
của cả GV và SV.
d) Là môi trường rất hữu ích để đảm bảo một cách tiếp cận toàn diện hơn cho các chuyên
đề, bài học, môn học tiếp theo
Áp dụng NCTH trong đào tạo NVSP, SV được tiến hành NCTH với các trường hợp (case),
gắn với các tình huống cụ thể theo phương châm “Dạy bằng cách học - Học bằng cách thực
hành” - mô hình mà các nền giáo dục tiên tiến hiện nay đang áp dụng ở đại học bởi nó có thể
trong dạy học NVSP và các môn học thực hành khác.
- Phân tích, tổng hợp các thành tựu nghiên cứu về áp dụng NCTH trong dạy học các môn
thực hành nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho việc thiết kế các “case” trong dạy học
NVSP ở trường đại học, cao đẳng có đào tạo giáo viên.
- Sắp xếp lại nội dung, chương trình đào tạo NVSP theo hướng tích hợp và có sự liên thông
theo chuẩn NVSP, chuẩn đầu ra của các hệ đào tạo và đặc biệt là theo chuẩn nghề nghiệp GV các
bậc học do Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ban hành.
- Thiết kế và tiến hành các hoạt động để SV thực hiện các NCTH phù hợp với nội dung đào
tạo NVSP ở trường đại học, cao đẳng theo phương châm “Dạy bằng cách học - Học bằng cách
thực hành” .
- Hướng dẫn SV nghiên cứu, thiết kế các “case” để sau khi hoàn thành công việc, SV nắm được
nội dung, bản chất của môn học NVSP và quan trọng hơn, đó là được tham gia vào thực tiễn nghiên
cứu khoa học, thực tiễn cuộc sống, nghề nghiệp ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường đại học,
cao đẳng. Sau này các em có thể áp dụng NCTH vào dạy học.
- Phải thay đổi cốt lõi các chiến lược dạy học từ phía giáo viên - phải xác định dạy HSSV
cái gì, dạy như thế nào và nhằm mục đích gì. Tập trung chú ý đến tính liên tục trong quá trình
phát triển của người giáo sinh sư phạm, từ việc tăng cường kiến thức nội dung và những kỹ năng
sư phạm cơ bản cho đến việc trau dồi tu dưỡng năng lực và những phương pháp thực hành chung
của một xã hội tri thức.
- Chú trọng hình thành kỹ năng tự học, tự nghiên cứu của SV, để SV có thể tiếp tục trưởng
thành trong nghề nghiệp, điều này liên quan mật thiết đến yêu cầu đổi mới phương pháp giảng
dạy, đổi mới về kiểm tra, đánh giá và tiếp cận được những vấn đề mới trong giáo dục.
- Xây dựng một ngân hàng các trường hợp phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu một cách
chuyên nghiệp và chất lượng.
3. Kết luận
- Đào tạo NVSP dựa vào NCTH là một cách thức tiếp cận phù hợp với việc dạy và học
trong một xã hội tri thức như ngày nay vì nó tích hợp nhiều hình thức học tập giúp SV dễ dàng
tiếp cận hơn với nội dung, chương trình môn học. Việc học của sinh viên cũng tiếp cận hoạt động
nghiên cứu.
- Việc áp dụng NCTH trong dạy học NVSP là một hướng đi phù hợp, là hoạt động cơ bản