Ôn tập văn học Việt Nam hiện đại (1930 1945) - Pdf 35

MỤC LỤC
NAM CAO
1. Tác giả
2. Quan điểm nghệ thuật
3. Phong cách nghệ thuật
4. Đặc Điểm Truyện Ngắn Nam Cao.
- Cách tiếp cận, phản ánh hiện thực
- Đề tài được ông chú ý đến
5. Quan niệm nghệ thuật về Con Nguời.
6. Quan niệm nghệ thuật về sự “sáng tạo” trong văn chương của Nam Cao thể
hiện ở góc độ nào
7. Từ Tắt Đèn (NTT) đến Sống Mòn (NC): là bước tiến mới, là quá trình hiện đại
hóa. (Những đóng góp trong quá trình HĐH)
8. Giá trị nội dung và nghệ thuật của Sống Mòn
II. NGUYỄN CÔNG HOAN
1. Tư tưởng nghệ thuật
2. Quan niệm nghệ thuật
3. Nội dung tư tưởng của tiếng cười
- Phản ánh mâu thuẫn giàu - nghèo, làm nổi bật sự bất công trong xã hội
- Về vấn đề luân lí, đạo đức:
4. Nghệ thuật trào phúng Nguyễn Công Hoan
I.

-

Nhân vật (thủ pháp “nghi binh”)

-

Mâu thuẫn trào phúng


V. NGUYÊN HUY TƯỞNG
1. Tác giả
2. Hoàn cảnh ra đời
3. Tóm tắt vở kịch
4. Bi kịch

4.1. Xung đột - Mâu thuẫn cơ bản
4.2. Nhân vật bi kịch
4.3. Tội lỗi bi kịch
5. Thái độ của tác giả
6. Cách giải quyết mâu thuẫn
7. Ý nghĩa của tác phẩm (VB vở kịch + lời đề tựa)
- Ý nghĩa bề mặt
- Lớp nghĩa bề sâu
VI. VŨ TRỌNG PHỤNG
1. Đặc điểm phóng sự Vũ Trọng Phụng

-

Tính thời sự, chân thực của hiện thực phản ánh

-

Tính chiến đấu

2. Cơm thầy cơm cô
- Tóm tắt
- Nội dung
- Nghệ thuật


3. Phong cách nghệ thuật
- Đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của con
người, coi đó là nguyên nhân của những hoạt động bên ngoài – Đây là phong
cách rất độc đáo của Nam Cao. Quan tâm tới đời sống tinh thần của con người,
luôn hứng thú khám phá "con người trong con người".
- Tâm lý nhân vật trở thành trung tâm của sự chú ý, là đối tượng trực tiếp của
ngòi bút Nam Cao.
- Thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh. Từ cái sự tầm thường quen
thuộc trong đời sống hàng ngày của "Những truyện không muốn viết", tác
phẩm của Nam Cao làm nổi bật vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn triết lý sâu sắc
về con người, cuộc sống và nghệ thuật.
- Giọng điệu riêng, buồn thương, chua chát. Ông có phong cách nghệ thuật triết
lí trữ tình sắc lạnh. Có nhà nghiên cứu đã ví ông với nhà văn Lỗ Tấn của Trung
Quốc với phong cách Téc-mốt
4. Đặc Điểm Truyện Ngắn Nam Cao.
4.1. Cách tiếp cận, phản ánh hiện thực:
- Ông thường đề cập đến những chuyện vụn vặt trong cuộc sống
Vd: Chuyện ăn uống, cãi cọ của những ông giáo, chuyện đứa trẻ học quét nhà,
chuyện mua nhà, chuyện bà lão chết vì ăn quá no,…
*Vì sao ông thường đề cập đến những chuyện vụn vặt trong cuộc sống:
Hoàn cảnh xh lúc bấy giờ đang siết chặt sự kiểm duyệt tư tưởng của người cầm
bút vì vậy ông hay viết những chuyện vụn vặt để khái quát lên thành những
vấn đề có ý nghĩa lớn lao, tránh được sự kiểm duyệt
- Ông phản ánh bi kịch của con người đằng sau những chuyện đời thường.


Vd: Qua câu chuyện anh mỏ tham lam (Tư cách mõ) nhà văn muốn nói lên bi
kịch của con người trong một môi trường đầy tị hiềm, ganh ghét, từ đó khái
quát lên những triết lý sâu sắc: “Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta
có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người

dập, cướp mất cà nhân hình, nhân tính của người nông dân; Kết án đanh thép
cái xã hội tàn bạo đó trước 1945.
b. Đề tài người trí thức:
+ Nam Cao miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người trí thức nghèo trong
xã hội đương thời trước 1945, những "giáo khổ trường tư", những nhà văn
nghèo, những viên chức nhỏ. Họ là những trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị
sự sống và nhân phẩm, có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một
sự nghiệp tinh thần cao quý; nhưng lại bị gánh nặng áo cơm và hoàn cảnh xã
hội ngột ngạt làm cho "chết mòn", phải sống như "một kẻ vô ích, một người


thừa". Phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt, phi nhân đạo bóp ngẹt sự sống, tàn
phá tâm hồn con người, đồng thời nói lên khao khát một lẽ sống lớn, có ích, có
ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người.
+ Nhân vật Hộ trong Đời thừa, phải lo toan không dứt về vật chất để duy trì
cuộc sống. Nhân vật người trí thức của Nam Cao là những người có lý tưởng,
có hoài bảo và từng ôm ấp những dự định lớn lao. Hộ từng mơ ước viết một tác
phẩm đạt giải Nobel. Nhưng những ước mơ, hoài bảo đó lại không có mảnh đất
gieo trồng để nó biến thành hiện thực.
5. Quan Niệm Nghệ Thuật Về Con Nguời.
- Con người tha hóa: sự biến đổi phẩm chất của con người từ tốt sang xấu bởi tác
động của hoàn cảnh (Lang Rận, người cha trong Trẻ con không ăn thịt khó, của
bà cái Đĩ trong Một bữa no…và với Chí Phèo, nó hiện thân trong nhân vật Chí
Phèo, Năm Thọ, Binh Chức.)
Vd: Trong tác phẩm Chí Phèo sự tha hóa của Chí Phèo bắt đầu khi hắn bước ra
khỏi ngưỡng cửa nhà tù trở về làng Vũ Đại. Trong tác phẩm Một bữa no, nhân
vật bà nội Cái Đĩ chỉ vì một bữa ăn mà phải chịu cảnh tha hóa nhân cách của chính
bản thân mình. Lang rận một thầy lang nghèo có tài chửa hiến muộn con cho mọi
người trong làng nhưng vẫn không có dc người yêu, và khi kiếm được cho mình
tình yêu thì lại bị mọi người chối bỏ.


-

-

-

Con người tự ý thức: Ý thức là cái giúp phân biệt con người với loài vật. Tự ý
thức là trình độ cao của ý thức, thể hiện khi con người tự suy ngẫm, nhìn vào cõi
lòng mình để hướng tới sự hoàn thiện. thường gặp ở đề tài người trí thức với nhân
vật Hộ trong “Đời thừa”, Điền trong “Trăng sáng”… Thế nhưng, đọc truyện ngắn
“Chí Phèo”, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng kiểu con người này ở nhân vật Chí
Phèo.
Vd:
+ Hộ trong tác phẩm Đời thừa – nhân vật Hộ là một nhà văn kiếm tiền bằng cách
sống nhờ nghề viết văn, nhưng Hộ luôn có ý thức đối vớivtác phẩm của mình.
Như khi chàng chấp nhận Từ về làm vợ và phải chăm sóc cho gia đình thì cách
viết văn lúc trước đã không thể nào đủ tiền để chăm sóc cho nhiều miệng ăn như
vậy. Nhân vật Hộ luôn tự ý thức tự trách bản thân mình quá cẩu thả trong việc
sáng tác, chỉ vì muốn có tiền để trang trải cuộc sống đã làm cho những tác phẩm
dễ bị lãng quen. Chàng luôn tự trách bản thân mình.
+ Chí Phèo vô thức sống cuộc đời bản năng của con quỹ dữ nhưng cũng có những
khoảng lặng ý thức, tự ngẫm về cuộc đời mình. Vì vậy, hắn khát khao lương thiện,
hắn muốn làm hòa với mọi người. Lần ý thức này mở ra trong Chí hi vọng, mơ
ước, khát khao về những điều tốt đẹp.Thế nhưng, càng hi vọng bao nhiêu thì nỗi
đau đớn tuyệt vọng khi không đạt được càng thẳm sâu bấy nhiêu. Con người dù
tha hóa đến mất nhân tính nhân hình như Chí Phèo thì vẫn có những phút lóe sáng
vẻ đẹp nhân cách. Nam Cao không hề đánh mất niềm tin vào con người. Chính
trên bờ vực của sự tha hóa, sự tự ý thức đã kéo nhân vật đứng vững, không tăm tối
mãi trong cuộc sống như thú vật

6. Quan Niệm Nghệ Thuật Về sự “sáng tạo” trong văn chương của Nam Cao thể
hiện ở góc độ nào
- Nghệ thuật:
+ Kết cấu tâm lý
+ Miêu tả tâm lý, đặc biệt chú ý đến quá trình tâm lý, bởi o6g quan niệm “con
người bên trong con người”, con người bên trong mới quan trọng
+ Nghệ thuật trần thuật: cách tân sáng tạo, điểm nhìn luân phiên
+ Ngôn ngữ cá tính, cá thể hóa, nhân vật nào thì ngôn ngữ ấy
- Nội dung
+ Giá trị hiện thực và nhân đạo
NC có phát hiện mới về đề tài người nông dân - một mảnh đất được cày đi xới lại
nhiều lần, tưởng như không còn gì để nói, đó chính là nỗi khổ của con người về sự
tha hóa “từ khi chưa có CP người ta tưởng rằng chỉ có nổi khổ của CD, anh Pha
nhưng đến khi CP ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của NC, thì người ta
liên nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục
nhất của con người”
+ Triết lý đậm chất nhân văn, tin tưởng vào sự lương thiện của con người
7. Từ Tắt Đẻn (NTT) đến Sống Mòn (NC): có bước tiến mới, là quá trình hiện
đại hóa. (Những đóng góp trong quá trình HĐH)
- Hiện đại: thi pháp
Ngô Tất Tố
Nam Cam
QNNT con người
Rất chú trọng con người bên trong con người.
Chi phối toàn bộ
Ông quan niệm “sống tức là cảm giác và tư
TGNT đem đến
tưởng…”  chi phối cách xây dựng tác phẩm
cái nhìn mới
Miêu tả tâm lý • Xây dựng nhân vật • Xây dựng nhân vật tâm lý

xung đột xã hội
thì Nam Cao lại
tập trung vào
việc mổ sẻ thế
giới nội tâm của
con người, đi
sâu khai thác
xung đột trong
thế giới nội tâm
của nhân vật

Kết cấu

Nam Cao đã miêu tả thành công tâm trạng của
người trí thứ tiểu tư sản trước cách mạng. Nam
Cao đã miêu tả tâm lý nhân vật Hộ rất thành
công trong cảnh túng quẩn và nghèo đói “đang
ngồi hắn đứng phắt dậy, mặt hầm hầm đi ra phố,
vừa đi vừa nuốt nghẹn”. Chỉ bằng một câu văn
ngắn mà Nam Cao đã miêu tả được sự bức bách
trong tâm trí Hộ. Tâm lý ttra8n trở, đau đớn khi
để miếng cơm manh áo làm tha hóa dần con
người nhà văn trong Hộ. Để có tiền mưu sinh Hộ
đã phải viết và nếu viết để có tiền thì Hộ phải
viết những “những tác phẩm người quên ngay
sau lúc đọc” đáp ứng nhu cầu của đám thị dân
lúc bấy giờ. Những tâm huyết của một nhà văn
thật thụ trong Hộ dường như mất dần, anh ta cảm
thấy xấu hổ khi đọc lại những gì mình viết “hắn
đỏ mặt lên”…

Nghệt thuật
trần thuật

• Trần thuật theo sự

Ý định bán chó của lão Hạc được đưa lên đầu tác
phẩm, sau đó tác giả để cho nhân vật ông giáo kể
về người con trai của lão hạc, tiếp đến là nỗi đau
bán cậu vàng của lão Hạc.
Truyện Chí Phèo:
Thứ: dòng ý thức của anh là sự trăn trở về sống
mòn
• Trần thuật theo mạch tâm lý nhân vật  chậm,
rề rà. Ngôi kể t3, trao ngòi bút cho nhân vật,
tác giả có cái nhìn hạn tri vì vậy phải dựa vào
điểm nhìn của nhân vật để bộc lộ nội tâm nhân
vật  gần gũi, như thật, đáng tin cậy. Dịch
chuyển điểm nhìn nhuần nhuyễn

kiện. Nhịp độ trần
thuật nhanh, ngôi kể
t3, không trao ngòi
bút cho nhân vật,
tác giả có cái nhìn
toàn tri
Ngôn ngữ
• Sử dụng nhiều từ • Cá thể hóa, nhân vật nào ngôn ngữ ấy. Đưa
Hán, câu văn biền
ngôn ngữ đời sống vào, gần gũi
ngẫu (đây cũng là • Phức tạp, ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật

- Quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người của các nhà văn hiện thực phê phán nói
riêng và nhà văn Nguyễn Công Hoan nói chung là “nghệ thuật vị nhân sinh”.
- Con người trong quan niệm của Nguyễn Công Hoan hoàn toàn bị tha hóa, thậm chí bị
vật hóa, đồ vật hóa. Từ vị quan huyện béo tốt, một bà lớn với khuôn mặt thịt nung núc,
đến những đứa ăn mày, ăn xin, kẻ cắp, người trốn nợ, bà cụ nhà quê  làm nổi bật những
mâu thuẫn giữa giàu và nghèo, giữa những người bị áp bức và những kẻ áp bức bóc lột
- NCH rất nhạy cảm khi phát hiện những mặt trái xấu xa của xã hội, ông quan niệm rằng:
“Cuộc đời là một sân khấu hài kịch mà ở đó cái gì cũng giả dối, lừa bịp, đáng khôi hài.
Tất cả từ đạo lý, công lý, đạo nghĩa con người trong các mối quan hệ đều trở thành trò
hề, trò bịp bợm…”, ông nhìn vào mặt trái của cuộc đời, của con người, để phỉ nhổ vào
những cái xấu xa, bỉ ổi của xã hội.
3. Nội dung tư tưởng của tiếng cười
3.1. Phản ánh mâu thuẫn giàu - nghèo, làm nổi bật sự bất công trong xã hội


-

-

-

-

-

Miêu tả bọn nhà giàu hiện ra như một lũ sâu mọt. Bọn nha lại, chức sắc chỉ biết ăn
bẩn, đục khoét, hút máu của nhân dân. Chỉ có việc quan ăn tiền, ông đã viết thành
nhiều truyện để miêu tả thủ đoạn đê tiện của chúng (truyện Thịt người chết, Công
dụng của cái miệng, Gánh khoai lang … ):
• Khi miêu tả bọn qua lại, Nguyễn Công Hoan thương miêu tả chúng rất béo:

• Trong truyện Kép Tư Bền, anh kép tài hoa trên sân khấu diễn trò mua vui
cho thiên hạ trong khi anh phải đau đớn nghĩ đến cha bệnh nặng sắp chết.
Khi anh hoàn thành vai diễn và nhận tiền cũng là lúc cha qua đời. Đó là
tình cảnh người nghệ sĩ phải phụ thuộc vào những ông chủ có tiền.

 Khi viết về mâu thuẫn giàu nghèo, Nguyễn Công Hoan đã góp phần vạch rõ bản chất
xã hội xấu xa đồi bại đương thời và nỗi khổ của những người thấp cổ bé họng, nhà văn đã
cho bọn thống trị tự lột mặt nạ mình.


3.2. Về vấn đề luân lí, đạo đức:

Nội dung này xoay quanh vấn đề luyến ái nam nữ, hôn nhân gia đình, các mối quan hệ
gia dình và xã hội. Nguyễn Công Hoan đứng trên lập trường một nhà Nho phong kiến để
phê phán những gì trái với đạo đức phong kiến, trái với những gì thuộc nề nếp gia đình
phong kiến, cái mà Nguyễn Công Hoan cho là nề nếp truyền thống tốt đẹp ngàn đời của
dân tộc.
- Đứng trên quan điểm đạo đức phong kiến:
+ Nhà văn đã lên án thói vô đạo đức, bất hiếu và những hành động đi ngược lại
luân lí
+ Phê phán phê phán bọn nhà giàu bất nhân, những kẻ giày đạp lên đạo đức phong
kiến chỉ vì danh vọng tiền tài: Báo hiếu trả nghĩa cha, báo hiếu trả nghĩa mẹ,
Xuất giá tòng phu
+ Lên án phong trào Âu hóa, lối sống mới, thường đề cập đến những đối tượng là
cô gái nhà giàu ăn diện, đua đòi, yêu đương tự do, suốt ngày chỉ biết mơ mộng:
Cô Kếu gái tân thời, Nỗi lòng ai tỏ.
+ Phê phán tình yêu tự do, vì cho rằng nó phá vỡ nề nếp đạo đức phong kiến. Ông
thường đặt nhân vật trong mói quan hệ nam- nữ, già -trẻ. Ở những chuyện này nói
chung, ông đứng về phía người già và nam giới để phê phán chễ giễu: Oẵn tà
roằn, Cô Kếu gái tân thời, Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn …

là địa chủ, là tư sản, là tiểu tư sản lớp trên, đám gái mới, phụ nữ đua đòi, hư
hỏng)



Những tên quan phụ mẫu thủ đoạn ăn tiền vừa xảo quyệt, vừa trắng
trợn: Đồng hào có ma, Thịt người chết, Cái nạn ô tô, Gánh khoai lang,
Chính sách nhân dân, Thằng ăn cướp



Các ông chủ, bà chủ giàu có về tiền bạc lại bất nghĩa, bất hiếu tận độ: Mất
cái ví, Bà chủ mất trộm, Báo hiếu trả nghĩa cha mẹ



Tầng lớp tiểu tư sản tham lam, mất hết nhân cách, trộm cắp như ranh, đầu cơ
xảo quyệt: Cái ví ấy của ai, Nhân tài, Ông chủ báo chẳng bằng lòng…



Các cô gái mới, những phụ nữ tân thời với đủ sự xa hoa, ăn diện đua đòi và
nhất là thói dâm đãng bị Nguyễn Công Hoan lên án, tố cáo gay gắt trong Cô
Kếu, Gái tân thời, Oẳn tà roằn, Thế là mợ nó đi Tây
 Nhân vật phản diện của Nguyễn Công Hoan trở thành một phương tiện

hữu hiệu để nhà văn khái quát hiện thực, vạch trần bộ mặt thối nát của xã
hội đương thời.
-


với chính sách thể thao, thể của dục bọn thực dân.
• Xung đột giữa phúc - họa
Nhân vật trào phúng loại này được mô tả như những người gặp nhiều may mắn
hạnh phúc nhưng thực ra lại luôn gặp phải tai họa khôn lường.
Vd: Truyện Hé! Hé! Hé! Bà Chánh Tiền được vợ cụ lớn đầu tỉnh thân mật mời
chào, tưởng là may phúc. Nhưng cuộc làm thân lại là một tai họa - vợ cụ lớn lợi
dụng sự thân mật để chuộc lợi.


Xung đột giữa nguyên nhân nhỏ- kết quả to lớn, nghiêm trọng
Vd: Thằng ăn cắp, một tên ăn mày ăn quịt tiền bún riêu, bị gọi là một thằng ăn cắp
bị mọi người đuổi đánh một cách dã man .



Xung đột nội tâm nhân vật
Ở loại này, nhân vật thường tự diễn trò với chính mình, xung đột diễn ra trong nội tâm
nhân vật với tiến cười chua chát, cười ra nước mắt.
Vd:
+ Truyện Kép Tư Bền, anh kép hát phải cười, phải diễn những trò hề để mua
vui cho khán giả, nhưng trong lòng thì lại muốn khóc vì người cha bệnh nặng
sắp chết. Ở đây con người không được làm chủ ngay cả tiếng cười, tiếng khóc
của mình
+ Truyện Ngựa người người ngựa, anh phu xe hy vọng càng cao (kéo thêm
giờ đưa cô gái giang hồ đi kiếm được khách để được trả tiền công) thì thất
vọng càng lớn (qua giao thừa cô gái không kiếm được khách, tính kế chuồn
mất, anh phu xe trở về tay không)


4.3. Các thủ pháp nghệ thuật trào phúng đặc sắc

hơn về không”. Đi qua một nhà săm, cô gái vào vay tiền. Anh xe chờ đợi, hy
vọng nhưng chờ mãi không thấy cô gái ra vì cô đã chuồn cửa sau mất tăm. Anh
xe “choáng người”, nghe như một tiếng “sét đánh”. Bởi vì không những mất
không 6 hào tiền công sau hơn 5 tiếng chạy xe giữa đêm giao thừa rét căm căn,
anh mất thêm 2 hào cô gái “tạm ứng”
+ Truyện Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan xây dựng xung đột trào phúng bi
hài giữa hoàn cảnh đáng khóc của anh kép hát có tên Tư Bền (bố anh ốm nặng
chết) và tình thế buộc phải cười của anh (phải đóng vai hề làm trò mua vui cho
thiên hạ). Xung đột này được phóng đại lên nhiều lần bằng thủ pháp tăng cấp:
khi anh ở nhà đi đến rạp để diễn kịch thì bố anh đã “nguy lắm rồi”, khi đang


diễn trò hề trong cảnh đầu, anh nhận được tin cha anh đã “cấm khẩu rồi”, diễn
xong cảnh thứ hai anh lại nhận được tin báo “cha anh đã mê đặc, chân tay lạnh
cả rồi”, diễn xong cảnh cuối cùng tưởng được về ngay với cha thì anh lại phải
diễn lại theo yêu cầu của khán giả và của ông chủ rạp hát. Xong buổi diễn,
trước khi rời kịch trường để về với cha, anh được tin cha anh đã “hỏng từ ban
nảy mất rồi”. Như vậy các tình tiết của truyện đã được tác giả huy động nhằm
đẩy xung đột trào phúng đã phát triển dần theo lối tăng cấp.
Phóng đại hết cỡ nét ngoại hình đó của nhân vật, đặc biệt là các nhân vật phản
diện đều rất béo, thường làm cho nhân vật không còn giống con người, trở nên
biến dạng, xấu xí đến ghê tởm.
Vd: Trong “Đồng hào có ma”, tên huyện Hinh được miêu tả như sau: “Chà!
Chà! Béo ơi là béo!… Nguyên cái da mặt ông nhỏ, mà có lẽ vì ông béo quá nên
lỗ chân lông căng ra, căng thẳng quá đến nỗi râu không còn chỗ nào lách ra
ngoài được”.  Cách tả tỉ mỉ, chi tiết như tả một con vật ấy đã lột phắt cái mặt
nạ của tên quan phụ mẫu chi dân. Vừa miêu tả ngoại hình nhân vật ông vừa tạt
ngang tạt dọc sang nói về tính cách và phẩm chất của nhân vật. Sự tương phản
gay gắt giữa ngoại hình, phẩm chất với cái danh hão làm nên gương mặt đầy
châm biếm của nhân vật.

Ngôn ngữ trong truyện ngắn NCH rất trong sáng giản dị, bình dân, là lời ăn tiếng
nói hằng ngày trong cuộc sống, vì vậy ngôn ngữ rất gần gũi. Trong cách sử dụng
các biện pháp chơi chữ, lối so sánh, ví von độc đáo
Ví von: Mục đích của ví von là để đả kích thật mạnh vào nét tính cách xấu nào đó
của nhân vật.
Vd:
-

Truyện Thật là phúc, viên quan huyện nhìn chị bánh giò “hai con mắt sáng
quắt như hai ngọn đèn trời”

-

Đào kép mới, đặc tả cái lố bịch của cô gái tân thời “xe thứ bảy thì một cô gái
xấu, nhưng tân thời, mặt phẫn má hồng môi đỏ, rẽ lệch, chiếc áo căng lườn
trông tức anh ách như một bài thơ thất luận”

Chơi chữ:
-

Tên truyện ngắn: Cô Kếu tân thời “tân thời” bị phá vỡ bởi cái tên Kếu
không lấy gì làm đẹp.

-

Trong Oẳn tà rằn, chơi chữ được thể hiện ở tên nhân vật- Phong và Nguyệt
hiểu theo nghĩa Việt là gió và trăng chế giễu việc trai gái quan hệ lăng
nhăng

5. Tiếng cười kế thừa dân gian + hiện đại

đột
Giàu nghèo
Mâu thuẫn trào phúng
Đạo pháp:
đức luân lý
Thủ

Đối tượng
Hiện tượng


+ Cách xây dựng nhân vật
• Nghi binh
• Công thức hóa (phản diện, chính diện)
+ Phóng đại
+ Kể tả
+ Ngôn ngữ
XUÂN DIỆU
1. Tác giả

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông nổi tiếng từ phong
trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích
nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng1936 - 1944, thể hiện một triết lý
bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi
hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Ông
từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam
 Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám:
- Trước cách mạng tháng Tám, thơ Xuân Diệu thể hiện hai tâm trạng dường như
trái ngược nhau: yêu đời, tha thiết với cuộc sông, đồng thời cũng rất chán nản,
hoài nghi, cô đơn. Hai tâm trạng này có mối liên quan nhân quả với nhau.


Giữa lúc cái tôi còn e dè chưa dám bộc lộ một cách trực tiếp thì Xuân Diệu xuất hiện
gạt bỏ những giấc mộng sầu man mác của Lưu Trọng Lư, Hoài bão mơ hồ của hồn
thơ Thế Lữ. XD đã dứt khoát và say sưa phát biểu thẳng thắng những khao khát riêng
tư của mình, có thể nói rằng đến XD cái tôi tiểu tư sản mới bắt đầu ngang nhiên đòi
hỏi được thõa mãn một cách tối đa những nhu cầu của cuộc sống vật chất, của những
tình cảm nồng nàn mãnh liệt nhất.

-

Xuân Diệu không ngần ngại phô bày “cái tôi” của mình.Thơ ông ngập tràn chữ “tôi”.
Trong 47 bài của tập thơ thơ, có 25 bài nhắc đến chữ “tôi”, tỉ lệ đó ở Gửi hương cho
gió là 20/57. Tất nhiên là không thể căn cứ vào số lượng nhiều hay ít của chữ “tôi” để
kết luận Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của cái “tôi” trong phong trào thơ mới.
Điều quan trọng là “cái tôi” ấy được khai thác và biểu hiện ở nhiều gốc độ, cấp độ
khác nhau, nhiều khi nhỏ nhoi, yếu đuối :
Tôi chỉ là một cây kim nhỏ bé
Mà vạn vật là muôn đá nam châm
(Cảm xúc)
Nhưng cũng có lúc trở nên mạnh mẽ quyết liệt :
Tôi là một kẻ điên cuồng
Yêu những ái tình ngây dại
(Thở than)
Nhân vật trữ tình có lúc xưng ‘’anh ‘’, ‘ta’

-

Có một bận em ngồi xa anh quá
Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn


Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sáng thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Đây còn là một cái tôi rất độc đáo thể hiện qua hình thức nghệ thuật: thể thơ, giọng
điệu, hình ảnh, từ ngữ....(hình ảnh thơ mới mẻ, đầy cảm giác, dùng nhiều từ ngữ táo
bạo, nhiều điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp tạo nên một giọng điệu dồn dập, sôi nổi,
hối hả, cuồng nhiệt).


XD viết nhiều về mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ. Bởi vì ông biết trên thế gian này thứ
đẹp nhất là tình yêu và tuổi trẻ. Thời gian quý báu nhất của đời người là tuổi trẻ mà
hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là tình yêu vì vậy con người phải biết thụ hưởng chính
đáng những gì cuộc sống đã dành tặng cho mình, phải sống hết mình nhất là những
tháng năm tuổi trẻ  Cái tôi của Xuân Diệu được bộc lộ trong bài thơ Vội vàng là
một cái tôi rất mới mẻ, tích cực trong quan niệm thẩm mỹ, thời gian, tuổi trẻ, hạnh
phúc, nhân sinh, giúp phân biệt XD với những nhà thơ lãng mạn cùng thời.
- Trong thơ mới, hầu hết các nhà thơ lãng mạng khi không thể hòa nhập vào cái thực
tại bơ vơ, trắc trở đều tìm cho mình một con đường để trốn khỏi thực tại, trở về quá
khứ hay đi vào một thế giới mộng mơ :
Thế Lữ nếu không nuôi giấc mộng lên tiên Bồng lai, Hạc trắng thì cũng da diết
nhớ về «Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa ».
Chế Lan Viên với tâm trạng thường trực : ‘’Trời hỡi hôm nay ta chán hết –
Những sắc màu hình ảnh của trầngian’’.
Huy Cận nhập vào vũ trụ, trăng sao và cũng nói nhiều về những cái ngày xưa ; về

+ Những đổ vỡ, mất mát, thất vọng:
Người ta khổ vì thương không phải cách
Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người
( Dại khờ)
+ Và cuối cùng cũng là chua chát đắng cay:
Long anh là một con mưa lũ
Đã gặp lòng em là lá khoai
(Nước đổ lá khoai)
+ Tác giả Thi nhân Việt Nam đã khái quát: "Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi.
Mất bề rộng ta tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh". Nhận xét đó dường
như tiêu biểu cho Xuân Diệu:
Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo buốt xương da
(Lời kĩ nữ)
+ Nếu trước kia, thiên nhiên từng là đối tượng để Xuân Diệu giử gấm lòng say mê
cuộc sống và khác vọng tình yêu thì giờ đây ông lại tìm lại và ký thác vào đó những
tâm sự buồn và cô đơn của lòng mình. Khiến cả không gian bao trùm, choáng ngập
bởi nỗi buồn tan tóc:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
( Đây mùa thu tới)
Một hàng cây thay hoa, trút lá mà như một nỗi đau chia lìa thân thể:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh
( Đây mùa thu tới)
+ Có những nỗi buồn vô cớ xâm chiếm tâm hồn một cách nhẹ nhàng êm ái:
Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...
(Chiều)
+ Thường dùng thủ pháp nghệ thuật so sánh giúp diễn đạt hiểu quả cảm giác cô

(Nhị Hồ)
- Sử dụng sự tương giao giữa các giác quan (sự chuyển đổi của cảm giác)
Đóng góp của XD
- Phơi trải táo bạo, đầy đủ ý thức cái tôi cá nhân, thể hiện đầy đủ và trọn vẹn nhất,
bộc lộ cái tôi rõ rệt nhất
- Xuân Diệu đã đào sâu đến tận cùng gốc rễ của cái tôi cá nhân, trong khi các nhà
thơ trước vẫn còn e dè, chỉ đến XD mới bộc lộ rõ như thế  do đó Hoài Thanh
mới gọi ông là nhà thơ mới nhât trong các nhà thơ mới (Hoài Thanh chỉ đứng ở
góc độ của nhánh nhà thơ lãng mạn để đánh giá)
- Các đại từ: tôi, ta, anh, em….bộc lộ một cách ngạo nghễ
“Ta là riêng là thứ nhất
Không ai bè bạn nổi cùng ta”
 Ví mình như ngọn núi Hy mã lạp sơn chỉ có một và duy nhất  khẳng định vị
trí của con người trong một thực thể (thơ cô: con người, vũ trụ hòa vào nhau,
thơ mới: khẳng định vị trí trung tâm của con người tạo nên quan điểm thẩm
mĩ mới  chi phối TGNT của XD
- Thơ cổ: thiên nhiên là chuẩn mực. Thơ mới: con người mới là trung tâm cho nên
con người là chuẩn mực của cái đẹp, cái gì cũng ví với con người: “tháng giêng
ngon như..”
- Quan niệm mới mẻ: cuộc sống, tình yêu, tuổi trẻ, thời gian, QNNT
Quan niệm của XD
- QNCS:
+ Hay đề cập đến mùa xuân: cuộc sống bao giờ cũng đẹp
+ Không có gì bất biến và vĩnh cửu, nó có thể đổi thay bất cứ lúc nào “là tôi phút
trước sang tôi phút này”. Chỉ có HT là quan trọng nhất vì vậy XD hay nhắc đến
hiện tại, lo sợ nó trôi đi, mất đi, ông luôn trân trọng cái mình đang có
- QNTG: thơ XD là cảm thức về TG, luôn ám ảnh bởi TG và sợ nó trôi chảy
Xuân Diệu
Trung Đại
Lây khoản thời gian đẹp nhât của đời

được con người của Bác:
• Nghị lực
• Lạc quan
• Nhân đạo
Đại nhân, đại trí, đại dũng
• Yêu nước
• Yêu thiên nhiên
• Khát khao tự do

*Đại trí: cách nhìn nhận cuộc sống, con người. nắm chắt quy luật cuộ sống nên luôn tin
tưởng vào tương lai có nhiều bài thơ mang tính triết lý về con người
Đó còn là bức chân dung của một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa, trí tuệ linh hoạt. Mỗi việc
trong đời sống Bác đều có thể rút ra những bài học về đấu tranh CM hay rèn luyện đạo
đức (Học đánh cờ, Tự khuyên mình). Hoặc phát hiện ra những mâu thuẫn hài hước của
chế độ XH thối nát để tạo nên những tiếng cười đầy trí tuệ (Tiền đèn, Đánh bạc, Chia
nước..).

Nhân đạo đến

“nạn hữu”

mức quên mình

Nhân dận lao động (phu đường, nông dân), vật vô tri vô giác


*Cổ điển – hiện đại: luôn xuyên thấm vào nhau
Thơ cổ

Cảm hứng

• Ẩn sĩ không màn thời cuộc
• Nhưng Bác thì khác. Tập
leo núi cũng ngắm cảnh
làm thơ nhưng tập leo núi
để có sức khỏe quay về
tiếp tục hoạt động CM
• Con người là trung tâm
• Con người nhỏ bé
của vũ trụ, thiên nhiên
Đăng cao nhớ bạn, chiều tối, ngắm
• Bên cạnh đó có những đề
trăng bộc bạch tâm sự v.v……
tài mới: cảnh sinh hoạt
trong tù  thơ Bác đầy
đủ mắm muối tương cà
và cũng đầy chất văn
xuôi: là những cái gì của
cuộc sống rất bình
thường, không thi vị hóa,
đây là đặc điểm không
thể có trong thơ cổ
• Dẫn đến bút pháp tự sự tả
thực, chất phóng sự ghi
chép
Phong, hoa, tuyết, nguyệt
Dùng hình ảnh biểu tượng cao quý
Dùng hình ảnh rất đời
thường
Chủ yếu viết theo thất ngôn tứ tuyệt + Tinh thần lạc quan cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status