LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Đinh Đức Phương
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kì một công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Hải phòng, ngày 20 tháng 3 năm 2015
Người cam đoan
Đinh Đức Phương
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành chương trình cao học và luận văn tốt
nghiệp này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của
Thầy, Cô trường Đại học hàng hải Việt Nam.
Đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn đến Quý Thầy, Cô trường Đại học
hàng hải Việt Nam đặc biệt là những Thầy, Cô đã tận tình dạy bảo cho tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin cám ơn Thầy giáo, TS. Trần Văn Lượng đã dành rất nhiều thời
gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Cuối cùng tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn này.
Tôi đã cố gằng hết sức hoàn thành luận văn bằng tất cả năng lực của
mình, tuy nhiên không để tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
những đóng góp quý báu của các Thầy, Cô và các bạn.
Cán bộ công nhân viên
PCCC
Phòng cháy chữa cháy
CTR
Chất thải rắn
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
2.1
Nhu cầu sử dụng nhiên liệu phục vụ cho công trình
2.2
Hệ số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
2.3
Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
iv
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Tên hình
2.1
Máy đào gàu dây
2.2
Sà lan chở bùn
2.3
2.4
Sơ đồ của hoạt động nạo vét và các yếu tố tác động môi
trường của hoạt động
Cẩu múc bùn đất lên sà lan
v
Trang
- Ô nhiễm ồn và rung đã trở thành vấn đề môi trường, do mối quan tâm
tới ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ con người ngày càng gia tăng, ví dụ như bị
lãng tai, gây bực mình, rối loạn giấc ngủ… Sự phát triển cảng cũng là lý do
chính cho việc gia tăng tiếng ồn trong khu vực.
- Ô nhiễm nước: Các cảng biển ở Hải Phòng nằm trong vùng cửa sông.
Các hoạt động cảng và công nghiệp, dịch vụ đi kèm gây ra các tác động (tiêu
cực) lớn tới chất lượng nước vùng nước cảng và các thuỷ vực lân cận thuộc
sông, cửa sông và biển. Vì vậy cần thiết phải quan trắc chất lượng nước quanh
các khu vực cảng và theo dõi quá trình thay đổi chất lượng môi trường của các
thuỷ vực.
- Chất lượng đất và trầm tích. Việc xây dựng và duy tu cảng, tuyến luồng
trên khu vực sông đòi hỏi việc nạo vét trầm tích khu vực cảng nhằm phát triển
cơ sở hạ tầng cảng, các xí nghiệp khu cầu cảng, các công trình trên sông ... và
đảm bảo độ sâu cần thiết cho luồng tàu ra vào cảng. Vì vậy, chất lượng đất và
trầm tích có thể bị ảnh hưởng tiêu cực qua sự phát triển của cảng.
Trong nội dung luận văn tốt nghiệp này tác giả sẽ trình bày về “ Nghiên
cứu, đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường biển của
hoạt động nạo vét tuyến luồng sông Cấm - Hải Phòng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường biển;
- Tác động tiêu cực của hoạt động nạo vét đến môi trường biển;
- Nghiên cứu, tham khảo về các vấn đề bảo vệ môi trường tại tuyến luồng
sông Cấm - Hải Phòng.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hoạt động thi công, xây dựng,
nạo vét trên tuyến luồng, vũng quay, bến cảng.
2
4. Phạm vi nghiên cứu
bảo vệ môi trường môi trường càng có ý nghĩa hơn nữa khi thế giới hiện nay
đang đứng trước thực trạng là Trái đất đang nóng dần lên, thì vấn đề bảo vệ môi
trường không còn là nhiệm vụ của mỗi cá nhân mà là của toàn nhân loại. Bảo vệ
môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố đảm
bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào
việc phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1. Quy định, pháp luật về bảo vệ môi trường biển.
Với sự phát triển của luật biển quốc tế và xu hướng tiển ra biển của các
nước nên ngày càng có nhiều đường biên giới xuất hiện trên biển. Trong một thế
giới ngày càng phức tạp hơn, có nhiều mối quan hệ vượt ra khỏi phạm vi quốc
gia, luật pháp cũng ngày càng được sử dụng nhiều như một công cụ hợp tác để
thực hiện các mục tiêu chung. Hợp tác quốc tế không chỉ đơn thuần là một sự
lựa chọn, nó là một sự cần thiết. Các nghĩa vụ cơ bản của quốc gia trong bảo vệ
môi trường đã dần được thiết lập và ghi nhận trong các điều ước quốc tế. Đó là:
- Nghĩa vụ không gây hại về môi trường. Các chủ quyền của quốc gia
không được gây ra những thiệt hại về môi trường cho các quốc gia khác
(Nguyên tắc 2 của tuyên bố Stockholm về môi trường của con người năm 1972)
[1]
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường (không khí, đất, biển). Nghĩa vụ bảo vệ môi
trường là trách nhiệm quốc tế của tất cả các quốc gia (Điều 30 của Hiến chương
quyền và nghĩa vụ của các quốc gia năm 1974) [2]
- Nghĩa vụ bảo vệ con người và môi trường chống ô nhiễm không khí
(Điều 2 của Công ước ô nhiễm khí xuyên biên giới năm 1979) [3]
- Nghĩa vụ sử dụng và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
độ toàn cầu, của khu vực cũng như của quốc gia.
- Công ước MARPOL 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu gây ra [6]
Công ước có hiệu lực từ năm 1983, và hàng năm đều được sửa đổi bổ
sung. Công ước bao gồm 6 phụ lục và 2 Nghị định kèm theo với mục tiêu là
thông qua các biện pháp toàn diện tiến tới chấm dứt toàn bộ việc chủ tâm làm ô
6
nhiễm môi trường biển nhưng trước mắt là kiểm soát, chế ngự và hạn chế tới
mức thấp nhất các việc thải các chất có hại xuống biển. Để đạt được mục đích
này, Công ước đưa ra:
+ Các quy định giới hạn nghiêm ngặt về đổ thải xuống biển dầu, các chất
độc hại và hóa chất, rác và nước thải từ các hoạt động thường ngày của tàu;
+ Các quy định về các tiêu chuẩn cho tàu vận chuyển các chất độc hại
đóng gói;
+ Các quy định về các giới hạn cho việc thải các chất ô nhiễm khí thải từ
tàu;
+ Các quy định về các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về đóng tàu và các thủy thủ
nhằm giảm thiểu mức độ tràn dầu và hóa chất trong trường hợp tai nạn;
+ Các quy định về các khu vực đặc biệt và với các chỉ tiều đổ thải tại các
cảng, các công trình trên biển;
+ Các quy định về thanh tra và giám sát thường kỳ bảo đảm sự tuân thủ;
+ Các quy định về chế độ báo cáo sự cố liên quan đến dầu, các chất lỏng
độc hại chở rời, hoăc các chất lỏng đọc hại đóng gói;
+ Thiết lập hệ thống hợp tác giữa các chính phủ trong việc phát hiện ô
nhiễm và cưỡng chế tuân thủ các quy định của Công ước…
- Tuyên bố RiodeJaneiro năm 1992 [7]
Hội nghị họp tại Johannesburg, một thành phố ở Miền Bắc nước cộng hoà
Nam Phi năm 2002, nhằm đánh giá lại 10 năm thực hiện Tuyên bố Rio de
Janeiro và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) năm 1992. Tại Hội nghị, các
phê chuẩn tham gia Công ước Basel ngày 13/3/1995.
- Công ước Bunker 2001 về sự cố tràn dầu [11]
8
Công ước Quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với tổn thất do ô nhiễm dầu
nhiên liệu năm 2001 được Tổ chức Hàng hải Quốc tế thông qua ngày 23/3/2001
và chính thức có hiệu lực từ ngày 21/11/2008. Cho đến nay, đã có 54 quốc gia
với tổng dung tích đội tàu chiếm tới 84,66% tổng dung tích đội tàu thế giới tham
gia.
1.3. Bảo vệ môi trường biển trong Luật bảo vệ Môi trường Việt Nam
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng
12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 trong chương VII, mục 1 Luật
bảo vệ môi trường [12] có quy định :
- Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển(Điều 55)
+ Bảo vệ môi trường là một nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế biển nhằm giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường biển và tăng hiệu
quả kinh tế biển.
+ Phòng ngừa và hạn chế chất thải từ đất liền và từ các hoạt động trên
biển; chủ động, phối hợp ứng phó sự cố môi trường biển.
+ Bảo vệ môi trường biển phải trên cơ sở phân vùng chức năng bảo vệ và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
+ Bảo vệ môi trường biển phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên và
môi trường biển phục vụ phát triển bền vững.
- Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển (Điều 56)
+ Các nguồn tài nguyên biển phải được điều tra, đánh giá về trữ lượng,
khả năng tái sinh và giá trị kinh tế phục vụ việc quản lý và bảo vệ môi trường
môi trường nước trong lưu vực sông; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do
10
tài nguyên nước trong lưu vực sông mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng đồng
dân cư.
- Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông (Điều 60)
+ Nguồn thải trên lưu vực sông phải được điều tra, thống kê, đánh giá và
có giải pháp kiểm soát, xử lý trước khi thải vào sông.
+ Chất thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao
thông vận tải, khai thác khoáng sản dưới lòng sông và chất thải sinh hoạt của các
hộ gia đình sinh sống trên sông phải được kiểm soát và bảo đảm yêu cầu về bảo
vệ môi trường trước khi thải vào sông.
+ Việc phát triển mới các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân
cư tập trung trong lưu vực sông phải được xem xét trong tổng thể toàn lưu vực,
có tính đến các yếu tố dòng chảy, chế độ thuỷ văn, sức chịu tải, khả năng tự làm
sạch của dòng sông và hiện trạng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phát triển đô
thị trên toàn lưu vực.
+ Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án
phát triển mới khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung, cơ sở
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy mô lớn trong lưu vực phải có sự tham gia ý
kiến của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có sông chảy qua.
1.4. Ô nhiễm môi trường biển
1.4.1. Định nghĩa ô nhiễm môi trường biển
Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 điều 1 khoản 4 đưa ra
định nghĩa: “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp
đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường, bao gồm cả các cửa sông, khi
việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến
hệ động vật và thực vật biển gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở
2.1. Các đối tượng về kinh tế - xã hội.
- Khu vực xung quanh sông Cấm nếu chạy dọc theo luồng từ ngã 3 Đình
Vũ đến cảng Viconship hầu như không có các công trình văn hóa tôn giáo, di
tích lịch sử và các đối tượng nhạy cảm cần phải bảo vệ.
- Dân cư: Dọc theo tuyến luồng chủ yếu là các bãi chứa, kho bãi và các
cảng đang hoạt động, dân cư thưa thớt.
- Giao thông: Khu vực này gần khu công nghiệp Đình Vũ, gần rất nhiều
cảng lớn của Hải Phòng, tiếp giáp với trục đường chính… Hệ thống giao thông
vận tải phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu vận chuyển
nguyên kiệu, hàng hóa, cũng như đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân khu vực.
Bên cạnh đó, công tác quản lý phương tiện, giải tỏa hành lang an toàn giao
thông được tăng cường, thường xuyên thực hiện chế độ duy tu, sửa chữa hệ
thống đường sá… nên nhìn chung, hệ thống giao thông khu vực là khá đảm bảo
khi triển khai các công trình.
- Thông tin liên lạc: Hiện nay, thông tin liên lạc đóng vai trò quan trọng
trong mọi hoạt động kinh doanh, không chỉ là thông tin giữa các doanh nghiệp
với bên ngoài mà các thông tin nội bộ doanh nghiệp cũng rất quan trọng.
Trong những năm gần đây, do nhu cầu mở rộng phát triển, mở rộng giao
thương, đặc biệt chủ trương phát triển mạnh về hoạt động giao thông vận tải
bằng đường biển của Hải Phòng tạo điều kiện để thúc đẩy nền kinh tế khu vực
ngày càng phát triển, tận dụng tiềm năng sẵn có dọc khu vực sông Cấm, các
cảng mới liên tiếp được mở ra, kéo theo đó là hệ thống viễn thông bao gồm cả
hệ thống điện thoại cố định và di động đều đã được phủ sóng và hoạt động tốt.
Do vậy, việc đầu tư hệ thống thông tin liên lạc cho các công trình là khá thuận
lợi.
14
2.2. Phương tiện thi công.
Do đoạn luồng có bề rộng tương đối hẹp,địa chất đáy bùn sét, phạm vi
16
Hình 2.2: Sà lan chở bùn
-Tàu kéo: Tàu kéo có nhiệm vụ kéo thiết bị sà lan trong khu vực khai thác
công trường. Để đồng bộ thiết bị các loại tàu kéo có công suất 350 mã lực.
17
- Ồn
- Khí thải
- Nước thải
Sạt lở,
Máy đào gầu dây
- Rác thải
- Sự cố môi
trường
xói mòn
Sà lan
- Giao thông
thủy
Và các tác động
khác
(1/ca)
liệu (1/ca)
60-90 CV
1
519,75
519.75
Sà lan
500 tấn
1
519,75
519.75
Tàu kéo
350 CV
1
315
nào đáng kể đến môi trường. Ngoại trừ khả năng xảy ra tai nạn giao thông thủy
do việc tập kết thiết bị và thả phao. Do vây, các tác động trong giai đoạn này có
thể bỏ qua.
20