Bước đầu nghiên cứu công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố hải phòng trên quan điểm kinh tế môi trường hướng tới phát triển bền vững - Pdf 35

MỞ ĐẦU
Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hoá đất nước,
xã hội phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của con người, song
cũng dẫn tới những vấn đề nan giải như gây ra sự ô nhiễm môi trường ngày càng
tăng cao. Lượng rác thải thải ra từ gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm
trọng ở nhiều vùng khác nhau, sinh hoạt cũng như các hoạt động sản xuất của
con người ngày càng nhiều, và mức độ gây ô nhiễm môi trường ngày càng
nghiêm trọng ở nhiều vùng khác nhau.
Hải Phòng là một trong những thành phố lớn của nước ta, có vị trí địa lý
và điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Cách Hà Nội
khoảng 100km về phía Đông, Hải Phòng với số dân khoảng 1.900.000 người. Là
một trong những trung tâm công nghiệp chính của Việt Nam và là một cực của
tam giác phát triển kinh tế ở phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Để
xứng tầm với đô thi loại I cấp quốc gia, Hải Phòng đang nỗ lực tăng trưởng phát
triển kinh tế, xây dựng mở rộng thành phố, tăng cường quan hệ đầu tư hợp tác
với các liên doanh trong nước và ngoài nước. Bên cạnh sự phát triển đi lên về
mọi mặt, Hải Phòng cùng phải đối diện với các vấn đề mà các thành phố trong
nước cũng như ngoài nước đang vấp phải như vấn đề bùng nổ dân số, tệ nạn xã
hội ngày càng tăng, vấn đề ô nhiễm môi trường. Hiện nay, môi trường thành phố
được quan tâm nhiều hơn đặc biệt là vấn đề quản lý rác thải sinh hoạt nên đòi
hỏi phải có sự quản lý cấp thiết về vấn đề này.
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu công tác quản lý rác thải
sinh hoạt tại thành phố Hải Phòng trên quan điểm kinh tế môi trường hướng
tới phát triển bền vững” với mục đích đi sâu vào tìm hiểu thực trạng và công tác
quản lý rác thải sinh hoạt của thành phố Hải Phòng. Đồng thời đề xuất ra 1 số
giải pháp nhằm góp phần xây dựng thành phố văn minh, giàu đẹp.

i


CHƯƠNG I


Xut phỏt t cỏc vn trờn, chuyờn ngnh kinh t mụi trng ra i.
Kinh t mụi trng khụng cao quan im no m t ngang nhau c hai mc
tiờu chin lc : s tng trng kinh t (EG) v cht lng mụi trng (EQ) vi
mc tiờu tng trng kinh t bn vng. Núi cỏch khỏc trong quyt inh la chn
cú tớnh chin lc tt c cỏc cp xó hi, mt bc khụng th thiu v b
qua c l xem xột nh hng ca mụi trng trong quỏ trỡnh ra quyt nh.
1.1.2. Kinh t mụi trng vi s tht bi ca th trng
a) C ch giỏ c trong nn kinh t th trng
Trong nn kinh t th trng, yu t cung v cu hng húa chu s tỏc
ng ca c ch giỏ. Nú nh ra cho th trng nhng quyt nh c bn : Cn
phi sn xut hng húa no, sn xut bao nhiờu, sn xut nh th no v bỏn cho
ai.
Giá cả (P)
Đường cung thị trường

Đường cầu thị trường

0

Số lượng (Q)
Hỡnh 1.1: ng cung cu th trng

ng cu th trng th hin giỏ m xó hi sn sng tr cú thờm mt
n v (cn biờn). Khi giỏ c i vi mt n v hng húa gim thỡ lng hng
mua tng lờn. Thụng thng ng cu c mụ t nh mt chu trỡnh sn sng
thanh toỏn (WTP)
ng cung th trng mụ t chi phớ sn phm cn biờn ngha l chi phớ
sn xut thờm mt n v sn phm. Khi giỏ c ca hng húa gim thỡ lng
cung i vi hng húa ú s gim.

hóa không được xác định đúng đắn. Ngay cả khi một người sở hữu một hồ nước
hay một dòng sông, điều đó cũng không thể ngăn chặn kẻ khác tước đoạt đi một
số lợi ích, ít nhất là về phong cảnh chẳng hạn. Rút cuộc là cần phải chú ý cả ba

3


điều kiện liên quan đến nhau này. Nếu một trong ba điều kiện bị vi phạm thì các
điều kiện còn lại cũng bị vi phạm theo.
c) Hàng hóa công cộng
Hàng hóa công cộng là một loại hàng hóa mà ở đó sự tiêu thụ của mỗi
người có thể cân bằng với số hàng hóa sẵn có. Mỗi khi một hàng hóa công cộng
được cung cấp, thì mỗi người có thể tiêu dùng một lượng hàng hóa cũng bằng
một lượng hàng hóa có sẵn mà không loại trừ bất cứ một ai khác tiêu dùng
lượng hàng hóa sẵn có đó.
Hàng hóa công cộng có hai quyền sở hữu quan trọng là :
- Không loại trừ : Một khi hàng hóa được cung cấp, nó không thể từ chối
cung cấp hàng hóa sẵn có đó cho bất cứ ai.
- Chi phí cận biên bằng không : Quyền sở hữu này được rót ra từ quyền
sở hữu thứ nhất là chúng ta không thể từ chối cung cấp hàng hóa sẵn có đó cho
bất cứ ai, khi mà giá cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu thụ thêm vào là bằng
không.
Hầu hết các hàng hóa môi trường gần như là hàng hóa công cộng hay là
hàng hóa hỗn hợp. Nếu đưa sở hữu hàng hoá công cộng lên một điểm nào đó mà
nếu vượt qua điểm đó thì hàng hoá sẽ trở thành hàng hoá cá nhân. ở giai đoạn
đầu của việc tiêu thụ hàng hoá sự tiêu dùng thêm của những người khác không
làm ảnh hưởng đến người khác, chi phí cận biên là bằng không. Nhưng đến một
điểm ngưỡng nào đó sự tiêu dùng thêm sẽ làm cho chi phí cận biên trở thành
dương và có xu hướng lên đến vô cùng, sự tiêu dùng hàng hóa công cộng trở
thành tắc nghẽn.

xem xột s tht bi ca th trng c gõy ra bi ngoi ng tiờu cc.
Giá hoặc
chi phí
(P)

MSC = MPC + MEC
MPC

P2
P1

MEC
Đường cầu thị trường
0

Q2

Q1

Sản lượng (Q)

Hỡnh 1.2: Ngoi ng tiờu cc
5


Giá cả trên thị trường được xem xét trên quan điểm đường cung và
đường cầu thị trường. Đường cung mà không tính tới ảnh hưởng của ngoại ứng
gọi là chi phí cận biên cá nhân (MPC) bởi vì nó chỉ bao gồm chi phí sinh ra bởi
một nhóm người. Giá cả được tính trên thị trường được xác định (P 1,Q1) bằng
chi phí cận biên cá nhân gây nên sự thất bại trên thị trường do giá cả không

là việc bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường cũng chính là đảm bảo được
tính sẵn có của chúng cho thế hệ tương lai. Tuy nhiên hai chỉ tiêu này lại thường
mâu thuẫn với chỉ tiêu EG.
1.2. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.2.1. Khái niệm quản lý môi trường
Xã hội loài người đã trải qua các thời kỳ, các hình thái xã hội khác nhau.
Đó là các thời kỳ :
- Thời kỳ hái lượm
- Thời kỳ văn minh nông nghiệp
- Thời kỳ văn minh công nghiệp
Trải qua các giai đoạn phát triển, cuộc sống của con người ngày càng văn
minh, đầy đủ và phát triển vượt bậc. Nhưng bên cạnh những mặt tích cực thì
chính những hoạt động sản xuất của con người lại đem lại những tác động xấu
cho môi trường. Xã hội càng đi lên hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng
phong phú, đa dạng, con người càng khai thác nhiều tài nguyên thiên nhiên.
Chúng ta sử dụng tài nguyên thiên nhiên để sản xuất và lại thải ra môi trường
những rác thải và đến một lúc nào đó chính môi trường cũng không thể tiếp nhận.
Chính vì vậy cùng với tăng trưởng kinh tế, con người đã làm đảo lộn thế giới tự
nhiên, làm chất lượng môi trường ngày càng suy giảm, các hệ sinh thái bị nghèo
kiệt, sức khoẻ con người bị đe doạ.
Trước tính cấp bách của môi trường như vậy đòi hỏi phải có sự quản lý
chặt chẽ trên góc độ môi trường đối với sinh hoạt, các hoạt động sản xuất kinh
doanh của con người nhằm làm hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trường. Từ đó ta có khái niệm về quản lý môi trường :

7


“Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách
Kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống

- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các
cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi
trường, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường, xử lý
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường, giáo dục, tuyên
truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường.
- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường.
- Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
1.3. QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
1.3.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt,
hoạt động, sản xuất của con người và động vật. Rác phát sinh từ các hộ gia đình,
khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải…
Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất
khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Bất kỳ
một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công
cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể. Thành phần chủ yếu của chúng là
chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất. Cho nên, rác
sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho
hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi
trường sống.
1.3.2. Phân loại rác thải sinh hoạt
Việc phân loại rác thải nhằm mục đích tuỳ theo yêu cầu mà quản lý tốt
hơn các chất thải. Tuy nhiên việc phân loại này chỉ có tính chất tương đối.

9


Đường truyền chất ô nhiễm
(sự lan truyền ô nhiễm)

Đối tượng bị ô
nhiễm

Cơ quan giám sát tiếp
xúc

Cơ quan giám sát
môi trường
Cơ quan ĐTM

Cơ quan ra quyết
định

Hỡnh 1.3: S qun lý cht thi [4]
1.3.4. H thng c quan qun lý Nh nc trong qun lý rỏc thi sinh hot
Chính phủ
Bộ Khoa học, công nghệ
& môi trường

Bộ xây dựng

Sở GTCC

UBND thành phố

Sở Khoa học, Công
nghệ và Môi trường

trình sinh trưởng. Tại Việt Nam nếu phát triển phương pháp này sẽ góp phần
giải quyết tình trạng thiếu phân bón do không đủ kinh phí nhập khẩu. Chi phí
sản xuất 8 – 10 USD/tấn, chu trình sản xuất dài khoảng 2 tháng và diện tích xây
dựng nhà máy khoảng 5 ha cho công suất 100.000 tấn/năm.
b) Phương pháp đốt
Đốt rác là “quá trình kỹ thuật sử dụng quá trình đốt bằng ngọn lửa có
điều khiển nhằm phân huỷ các chất thải bằng nhiệt”. Chất bã còn lại của quá
trình cháy và khí thải ra thường phải tiếp tục được xử lý. Nhiệt phát sinh trong
quá trình này được thu hồi và sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Công nghệ đốt rác có ưu điểm ít gây ra nguy cơ làm nước ngầm bị
nhiễm bẩn. Quá trình đốt rác làm giảm đáng kể khối lượng rác chôn lấp. Tuy
nhiên công nghệ đốt là quá trình cần phải có vốn đầu tư ban đầu cũng như chi
phí vận hành khá lớn, dễ vượt quá khả năng của hầu hết các thành phố ở các
nước đang phát triển. Do đó công nghệ đốt rác chủ yếu được chấp nhận ở các
nước công nghiệp hoá vì sẽ làm giảm bớt nhu cầu về mặt bằng đất đai. Đối với
12


các nước đang phát triển việc đốt rác chủ yếu được áp dụng với các chất thải y tế
và công nghiệp độc hại.
c) Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh
Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát
phân huỷ chất thải trong đất bằng cách chôn nén chặt và phủ lấp bề mặt.
Chất thải rắn đọng lại trong chôn lấp bị tan rữa ra về mặt hoá học và sinh
học rồi tạo ra các chất rắn, lỏng, khí.
Chi phí để vận hành bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tương đối thấp so với
phương pháp đốt, do đó phương pháp xử lý rác bằng chôn lấp hợp vệ sinh
thường được áp dụng đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên việc vận hành
bãi chôn lấp phải được kiểm tra, xử lý thường xuyên độ nguy hại của rác thải,
khí và nước rác được tạo ra trong quá trình xử lý để tránh nguy hại cho môi

màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con người nơi đây.
Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng, nước biển
Đồ Sơn hơi đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát mịn
vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ
sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các
14


vịnh Lan Hạ.... đẹp và kì thú. Cát Bà cũng là đảo lớn nhất thuộc khu vực Vịnh
Hạ Long.
Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó diện tích đất liền là
1208,49 km². Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn ha trong đó đất ở chiếm
8,61%; đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%; đất lâm nghiệp chiếm 14,45%;
còn lại là đất chuyên dụng. Nằm ở ven biển nên chủ yếu là đất phèn, đất mặn,
phù sa, đất đồi feralit màu nâu vàng.
Hải Phòng nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, sát biển Đông
nên chịu ảnh hưởng của gió mùa. Gió mùa bấc (mùa đông) lạnh và khô kéo dài
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa gió nồm (mùa hè) mát mẻ, mưa nhiều kéo
dài từ tháng 5 đến tháng 10. Thời tiết Hải phòng mang tính chất cận nhiệt đới
ẩm ấm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều,
mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt
độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C và nhiệt độ
trung bình năm là trên 23,9 °C. Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 –
1800 mm. Độ ẩm trong không khí trung bình 85 - 86%. [8]
Tuy nhiên, Hải Phòng có một chút khác biệt so với Hà Nội về mặt nhiệt
độ và thời tiết. Do giáp biển, thành phố này ấm hơn 1 °C vào mùa đông và mát
hơn 1 đến 2 độ vào mùa hè.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
a) Đất đai, dân số [8]
Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó

phát triển rất mạnh mẽ tuy nhiên việc phát triển cơ sở hạ tầng vẫn còn chậm và
chưa theo kịp. Hệ thống cơ sở hạ tầng vẫn còn nhiều những bất cập như hệ
thống đường xá, giao thông và đặc biệt là công tác quản lý rác thải sinh hoạt của
thành phố vẫn còn chưa triệt để từ khâu thu gom, vận chuyển đến xử lý.
2.2. HIỆN TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.2.1. Nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt
Rác thải của khu dân cư : Đây là nguồn thải chính của rác thải sinh hoạt.
Hoạt động của con người hàng ngày luôn tạo ra một lượng rác thải nhất định rất
16


đa dạng, phức tạp. Nó bao gồm các thực phẩm thừa, túi, bao bì các loại…
Nguồn rác này luôn có xu hướng gia tăng và thay đổi về tỉ lệ các thành phần.
Rác thải của nhà hàng, khách sạn : Nguồn thải này bao gồm thức ăn
thừa, chai lọ, đồ hộp, giấy, vải vụn… Nguồn rác thải này thường được thu gom
bởi các xí nghiệp môi trường đô thị và một phần nhỏ được bán cho tư nhân làm
thức ăn chăn nuôi.
Rác thải của các công sở, trường học, công trình công cộng : Nguồn thải
này không gây nhiều tác động xấu tới môi trường do thành phần của nó không
phức tạp lắm gồm giấy vụn, văn phòng phẩm … và được thu gom phần lớn bởi
các xí nghiệp môi trường đô thị.
Rác thải từ các chợ : chiếm một lượng lớn rác thu gom. Rác thải này có
thành phần phức tạp, bao gồm rau quả, các loại bao bì, túi nilon, chai lọ… và tác
động mạnh tới môi trường xung quanh. Lượng rác này có hàm lượng hữu cơ cao
nên thường được sử dụng để ủ phân compost.
Rác thải sinh hoạt từ các bệnh viện : bao gồm rác thải của cán bộ công nhân
viên bệnh viện, rác thải của người nhà bệnh nhân và rác thải từ bếp ăn. Lượng rác
này cũng được thu gom cùng với rác thải sinh hoạt của thành phố.
2.2.2. Khối lượng rác thải
Trong vòng hơn 10 năm qua Hải Phòng có tốc độ phát triển nhanh, mạnh

505
505
855,000
942,50
1036,60
1251,46
1513,96
1726,55

630
662
662
1034,580
1102,51
1198,97
1309,61
1573,08
1785,28

75
76
76
82,3
85,67
87,67
95,56
96,24
96,71

Nguồn: Viện quy hoạch – Sở xây dựng TP Hải Phòng, 2012

nội thành
0
Các thị trấn 300.000
Tổng rác sinh hoạt

Khối
lượng
(tấn/ngày)

1,3

100

2.730

1,2

90

324,0
3.054,0

Nguồn: Viện Quy hoạch – Sở Xây dựng TP Hải Phòng, 2010

Với sự gia tăng một cách nhanh chóng cả về số lượng dân cư và khối lượng rác
thải sinh hoạt trên địa bàn Hải Phòng đã đặt ra một câu hỏi khó cho chính quyền thành
phố nói chung và sở Tài nguyên và Môi trường thành phố nói riêng về việc xử lý rác thải
sinh hoạt. Đây là một câu hỏi cần được sự quan tâm của cả lãnh đạo thành phố và người

18

Kim loại
5
Thủy tinh, gốm, sứ
6
Đất, đá, cát, gạch vụn
Độ ẩm (%)
Độ tro (%)
Tỷ trọng, tấn/m3

Tỉ lệ( %)
52,58
4,52
7,62
0,32
0,43
34,53
45 – 48
16,62
0,45

Nguồn: Số liệu quan trắc – CEETIA, 2012

19


Như vậy, với hàm lượng chất hữu cơ trong rác thải đô thị của Hải Phòng rất
cao( trên 50%) sẽ là một nguồn nguyên liệu rất dồi dào cung cấp cho hoạt động
sản xuất phân hữu cơ. Góp phần quan trọng trong việc thay thế dần phân vô cơ
bằng phân hữu cơ trong hoạt động nông nghiệp.
Theo kết quả nghiên cứu của Đề tài “Xây dựng luận cứ phục vụ quy hoạch

3,11
Kim loại
1,95
Thủy tinh, gốm
3,83
sứ
Tổng cộng
100

Thị

Thị

Thị

Thị

trấn

trấn

trấn

trấn

Núi

An

An

6,35

10,57
0,58

2,76
2,07

8,70
1,75

8,72
3,30

7,91
4,62

1,36

4,83

2,87

3,89

4,82

100

100

Phòng là đơn vị quản lý rác thải đô thị thành phố Hải Phòng.
Trên Thành phố Hải Phòng hiện có 3 đơn vị doanh nghiệp Nhà nước thực
hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ quét, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh
hoạt, cụ thể là:
-

Công ty Môi trường đô thị Hải Phòng (Hải Phòng URENCO)

-

Công ty TNHH Một thành viên CTCC & Xây dựng Hải Phòng

-

Công ty công trình công cộng và dịch vụ du lịch Hải Phòng

2.3.2. Công tác thu gom và vận chuyển
Quy trình hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt hiện
nay của 03 công ty trên là:
- Công đoạn ban đầu là dùng các xe đẩy tay (xe gom rác) thu rác từ các
nguồn phát sinh để chuyển đến các địa điểm ga rác đã quy định và đổ rác từ xe
gom sang container đặt sẵn tại các ga rác; theo đó khi container (12m 3) đã đầy
rác, thì xe ôtô chuyên dụng có trọng tải lớn sẽ vận chuyển rác từ container ra bãi
rác để xử lý.
Hoặc rác từ các xe gom (không đổ rác vào container ở các ga rác) mà đổ
rác trực tiếp từ xe gom rác vào xe ép rác (xe ôtô chuyên dụng) và khi các xe ép
rác loại 11m3, 10m3, 6m3 đã chứa đủ khối lượng rác cho phép, theo đó xe vận
chuyển rác về bãi rác và nhà máy xử lý chất thải để xử lý.
- Các khu xử lý chất thải rắn: Hiện nay trên địa bàn nội thành Thành phố có
04 khu xử lý chất thải rắn (CTR) là:

gom rác từ các hô dân trong ngõ và đường chính, sau đó đẩy tới các điểm hẹn để
đưa lên xe vận chuyển đi. Nói chung vẫn là hình thức đổ xuống các điểm hẹn
công nhân dùng xẻng xúc lên xe vận chuyển.
2.3.4. Phí thu gom rác thải

22


Xí nghiệp sẽ thu phí vệ sinh bằng biên lai thu phí do cục thuế phát hành
với mức thuế quy định 30.000đ/hộ/tháng. Thông thường việc thu phí được tiến
hành hàng tháng, song một số địa bàn, một số hộ có thời gian làm việc bận rộn
có thể tiến hành thu theo quý.
Tuy nhiên theo việc thu phí chưa đạt được 100% tổng số dân 1 tháng
gây thất thu phí. Nguyên nhân của việc thất thu phí thì có nhiều nhưng có các
nguyên nhân cơ bản sau:
Dân trên địa bàn được phân chia thành các loại :
- Những người có hộ khẩu thường chú tại nơi ở thu được tỉ lệ lớn nhất.
Có một phần nhỏ người dân chây lì không chịu đóng phí vệ sinh.
- Những người chuyển khỏi địa bàn nhưng không chuyển hộ khẩu nên
trên sổ quản lý họ vẫn thuộc địa bàn nhưng thực tế họ không đóng phí tại địa
bàn đó.
- Những dân từ các tỉnh khác về làm thêm trên thành phố, có cuộc sống,
chỗ ở không ổn định cũng không thể thu phí được từ họ.
- Những người thuộc diện khó khăn, phải trợ cấp từ chính quyền địa
phương cũng không thu được phí.
Công tác thu phí hiện nay còn khó khăn chưa thể giải quyết. Công ty
chưa có những chức năng và quyền hạn cụ thể để buộc người dân phải đóng phí
mà chỉ có thể tuyên truyền vận động mọi người chấp hành.
Hiện nay, tổng số phí thu được phần lớn nộp lên công ty để bù đắp cho ngân
sách Nhà nước, phần còn lại để lại các xí nghiệp dùng vào các công việc sau : Chi

chưa được sử dụng để xử lý rác thải sinh hoạt. Công nghệ này mới chỉ được áp
dụng đối với rác thải nguy hại bệnh viện.
2.4. XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI KHU LIÊN HIỆP XỬ LÝ
CHẤT THẢI RẮN TRÀNG CÁT
Trung tâm Xử lý chất thải Tràng Cát nằm về phía Đông Nam trung tâm
Thành phố, tại đầm Quyết Thắng và đầm Cát Bi-phường Tràng Cát-quận Hải
An, cách trung tâm Thành phố 14km, cách sân bay Cát Bi khoảng 2km, cách
cảng Hải Phòng khoảng 7km. Tổng diện tích là 60 ha, thời gian hoạt động 30
năm.
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status