LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Đinh Đức Phương
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kì một công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Hải phòng, ngày
tháng 3 năm 2015
Người cam đoan
Đinh Đức Phương
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành chương trình cao học và luận văn tốt
nghiệp này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của
Thầy, Cô trường Đại học hàng hải Việt Nam.
Đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn đến Quý Thầy, Cô trường Đại học
hàng hải Việt Nam đặc biệt là những Thầy, Cô đã tận tình dạy bảo cho tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin cám ơn Thầy giáo, TS. Trần Văn Lượng đã dành rất nhiều thời
gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp.
Cuối cùng tôi cũng xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn này.
Chất thải nguy hại
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
PCCC
Phòng cháy chữa cháy
CTR
Chất thải rắn
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
2.1
Nhu cầu sử dụng nhiên liệu phục vụ cho công trình
2.2
Hệ số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
4
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Tên hình
2.1
Máy đào gàu dây
2.2
Sà lan chở bùn
2.3
2.4
Sơ đồ của hoạt động nạo vét và các yếu tố tác động môi
trường của hoạt động
Cẩu múc bùn đất lên sà lan
5
Trang
7
SO2, NOx, bụi v.v. vào môi trường, dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm không khí
và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người dân sống gần cạnh khu vực.
- Ô nhiễm ồn và rung đã trở thành vấn đề môi trường, do mối quan tâm
tới ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ con người ngày càng gia tăng, ví dụ như bị
lãng tai, gây bực mình, rối loạn giấc ngủ… Sự phát triển cảng cũng là lý do
chính cho việc gia tăng tiếng ồn trong khu vực.
- Ô nhiễm nước: Các cảng biển ở Hải Phòng nằm trong vùng cửa sông.
Các hoạt động cảng và công nghiệp, dịch vụ đi kèm gây ra các tác động (tiêu
cực) lớn tới chất lượng nước vùng nước cảng và các thuỷ vực lân cận thuộc
sông, cửa sông và biển. Vì vậy cần thiết phải quan trắc chất lượng nước quanh
các khu vực cảng và theo dõi quá trình thay đổi chất lượng môi trường của
các thuỷ vực.
- Chất lượng đất và trầm tích. Việc xây dựng và duy tu cảng, tuyến
luồng trên khu vực sông đòi hỏi việc nạo vét trầm tích khu vực cảng nhằm
phát triển cơ sở hạ tầng cảng, các xí nghiệp khu cầu cảng, các công trình trên
sông ... và đảm bảo độ sâu cần thiết cho luồng tàu ra vào cảng. Vì vậy, chất
lượng đất và trầm tích có thể bị ảnh hưởng tiêu cực qua sự phát triển của
cảng.
Trong nội dung luận văn tốt nghiệp này tác giả sẽ trình bày về “ Nghiên
cứu, đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường biển của
hoạt động nạo vét tuyến luồng sông Cấm - Hải Phòng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường biển;
- Tác động tiêu cực của hoạt động nạo vét đến môi trường biển;
8
dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn.
• Môi trường biển bị ô nhiễm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, việc
chúng ta xác định các nguyên nhân, tác động để từ đó đề xuất ra
các giải pháp làm giảm thiểu tác động gây ô nhiễm từ hoạt động
nạo vét là việc làm có ý nghĩa.
Nhờ hoạt động bảo vệ môi trường đã phần nào hạn chế được những tác
hại do chất thải và khí thải của các nhà máy, xí nghiệp… Bên cạnh đó hoạt
động bảo vệ môi trường môi trường càng có ý nghĩa hơn nữa khi thế giới hiện
nay đang đứng trước thực trạng là Trái đất đang nóng dần lên, thì vấn đề bảo
vệ môi trường không còn là nhiệm vụ của mỗi cá nhân mà là của toàn nhân
loại. Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là
nhân tố đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần
quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc
gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1. Quy định, pháp luật về bảo vệ môi trường biển.
Với sự phát triển của luật biển quốc tế và xu hướng tiển ra biển của các
nước nên ngày càng có nhiều đường biên giới xuất hiện trên biển. Trong một
thế giới ngày càng phức tạp hơn, có nhiều mối quan hệ vượt ra khỏi phạm vi
quốc gia, luật pháp cũng ngày càng được sử dụng nhiều như một công cụ hợp
tác để thực hiện các mục tiêu chung. Hợp tác quốc tế không chỉ đơn thuần là
một sự lựa chọn, nó là một sự cần thiết. Các nghĩa vụ cơ bản của quốc gia
trong bảo vệ môi trường đã dần được thiết lập và ghi nhận trong các điều ước
quốc tế. Đó là:
- Nghĩa vụ không gây hại về môi trường. Các chủ quyền của quốc gia
+ Xác định nguồn ô nhiễm môi trường biển: Công ước đã đưa ra cách
phân loại các nguồn ô nhiễm môi trường một cách khoa học và thống nhất.
Công ước yêu cầu các quốc gia tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết để
ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ bất kỳ nguồn
nào.
+ Nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo vệ môi trường biển. Quốc
gia có quyền tối cao để khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình nhưng
họ vẫn phải thi hành các chính sách về môi trường để bảo vệ môi trường biển.
12
Có thể nói, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 là đạo
luật cơ bản chứa đựng những quy tắc chung nhất về chống ô nhiễm biển ở cấp
độ toàn cầu, của khu vực cũng như của quốc gia.
- Công ước MARPOL 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu gây ra
[6]
Công ước có hiệu lực từ năm 1983, và hàng năm đều được sửa đổi bổ
sung. Công ước bao gồm 6 phụ lục và 2 Nghị định kèm theo với mục tiêu là
thông qua các biện pháp toàn diện tiến tới chấm dứt toàn bộ việc chủ tâm làm
ô nhiễm môi trường biển nhưng trước mắt là kiểm soát, chế ngự và hạn chế
tới mức thấp nhất các việc thải các chất có hại xuống biển. Để đạt được mục
đích này, Công ước đưa ra:
+ Các quy định giới hạn nghiêm ngặt về đổ thải xuống biển dầu, các
chất độc hại và hóa chất, rác và nước thải từ các hoạt động thường ngày của
tàu;
+ Các quy định về các tiêu chuẩn cho tàu vận chuyển các chất độc hại
đóng gói;
+ Các quy định về các giới hạn cho việc thải các chất ô nhiễm khí thải
từ tàu;
Chương trình Nghị sự 21 quốc gia về tài nguyên và môi trường được
xây dựng dựa trên cách tiếp cận, theo đó mỗi Bộ chủ chốt liên quan đến tài
nguyên và môi trường và mỗi tỉnh sẽ soạn thảo các hợp phần của mình trong
chương trình. Các hợp phần tài nguyên và môi trường đó sẽ được lồng ghép
14
với toàn bộ các Chương trình Nghị sự 21 và các chiến lược, kế hoạch hành
động kinh tế-xã hội của ngành và địa phương. Chương trình Nghị sự 21 quốc
gia về tài nguyên và môi trường không phải là chương trình chỉ một mình Bộ
TN&MT hoặc các nhóm độc lập nào xây dựng và thực hiện.
- Công ước Basel về quản lý và tiêu hủy chất thải qua biên giới [10]
Công ước Basel được thông qua tại Hội nghị Đại sứ Đặc mệnh Toàn
quyền ở Basel vào năm 1989 và bắt đầu có hiệu lực vào năm 1992 với mục
tiêu cơ bản là kiểm soát và giảm thiểu các hoạt động vận chuyển chất thải
nguy hại, các chất thải khác được quy định bởi Công uớc Basel, phòng ngừa
và giảm thiểu sự hình thành cũng như quản lý hợp lý về môi trường những
chất thải này, tích cực thúc đẩy việc chuyển giao và sử dụng các công nghệ
sạch hơn. Việt Nam phê chuẩn tham gia Công ước Basel ngày 13/3/1995.
- Công ước Bunker 2001 về sự cố tràn dầu [11]
Công ước Quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với tổn thất do ô nhiễm
dầu nhiên liệu năm 2001 được Tổ chức Hàng hải Quốc tế thông qua ngày
23/3/2001 và chính thức có hiệu lực từ ngày 21/11/2008. Cho đến nay, đã có
54 quốc gia với tổng dung tích đội tàu chiếm tới 84,66% tổng dung tích đội
tàu thế giới tham gia.
1.3. Bảo vệ môi trường biển trong Luật bảo vệ Môi trường Việt Nam
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25
tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10 trong chương VII,
- Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển (Điều 57)
+ Nguồn thải từ đất liền, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị,
khu dân cư ven biển, trên biển, trên đảo phải được điều tra, thống kê, đánh giá
và có giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển.
+ Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác trên biển phải được
kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
+ Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc hại khác được
sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử
dụng phải được thu gom, lưu giữ trong thiết bị chuyên dụng và phải được xử
lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại.
+ Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông (Điều 59)
+ Bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản
của quy hoạch khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước trong lưu vực
sông.
+ Các địa phương trên lưu vực sông phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ
môi trường nước trong lưu vực sông; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do
tài nguyên nước trong lưu vực sông mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng
đồng dân cư.
17
- Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông (Điều
60)
+ Nguồn thải trên lưu vực sông phải được điều tra, thống kê, đánh giá
và có giải pháp kiểm soát, xử lý trước khi thải vào sông.
1.4.2. Các nguồn gây ô nhiễm
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, ô nhiễm
môi trường biển bao gồm 6 nguồn chính sau:
+Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng
sông, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ công nghiệp.
+Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển, hay xuất phát từ
các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị thuộc quyền tài phán của họ.
+Ô nhiễm do các hoạt động trong vùng lan tới.
+Ô nhiễm do sự nhấn chìm và trút bỏ chất thải.
+Ô nhiễm do hoạt động của các loại tàu thuyền và tai nạn tàu thuyền
trên biển.
+Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển.
20
CHƯƠNG2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NẠO VÉT TÁC ĐỘNG
ĐẾN MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC TUYẾN LUỒNG
SÔNG CẤM - HẢI PHÒNG
2.1. Các đối tượng về kinh tế - xã hội.
- Khu vực xung quanh sông Cấm nếu chạy dọc theo luồng từ ngã 3
Đình Vũ đến cảng Viconship hầu như không có các công trình văn hóa tôn
giáo, di tích lịch sử và các đối tượng nhạy cảm cần phải bảo vệ.
- Dân cư: Dọc theo tuyến luồng chủ yếu là các bãi chứa, kho bãi và các
cảng đang hoạt động, dân cư thưa thớt.
- Giao thông: Khu vực này gần khu công nghiệp Đình Vũ, gần rất nhiều
cảng lớn của Hải Phòng, tiếp giáp với trục đường chính… Hệ thống giao
thông vận tải phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu
vận chuyển nguyên kiệu, hàng hóa, cũng như đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân
+ Xáng cạp được định vị và di chuyển khi nạo vét bằng các tời neo thả
chìm xuống đáy sông (nhằm tránh gây vướng cho sà lan và các phương tiện
lưu thông khác trên sông)
+ Xáng cạp sẽ được đưa vào biên giới khu nạo vét không ảnh hưởng
đến luồng giao thông thủy hiện tại. Từ đây, xáng cạp sẽ múc lớp bùn dất, cát,
sét lên các sà lan đến hết chiều dày lớp bùn đất, cát sét cho tới khi đầy
khoang.
22
+ Để đáy lòng sông sau khi nạo vét không tạo thành các hố nham nhở
thì vị trí xúc của gầu lần thứ hai phải trùng lên vị trí xúc của gầu trước đó ít
nhất 1/3 đến 1/4 chiều rộng của gàu xúc. Sơ đồ khai thác được thực hiện bằng
cách chia thành các luồng, chiều rộng mỗi luồng bằng dây cung do cần máy
cẩu tạo thành góc quay tối đa.
Hình 2.1: Máy đào gàu dây
23
+ Nhược điểm của thiết bị này: thi công chậm dẫn đến kéo dài thời gian
thi công.
+ Ưu điểm: không cần mặt bằng để đổ vật liệu nạo vét, chi phí thấp.
-Sà lan: Dùng để chở đất trong suốt quá trình nạo vét. Để đồng bộ thiết
bị với các cẩu có sức nâng 60-90 tấn, chọn loại sà lan 500 tấn, phù hợp về
năng suất và tải trọng.
Hình 2.2: Sà lan chở bùn
hoạt động
25