LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân em.
Các số liệu, kết quả trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực, khách
quan và chưa từng được công bố trên bất cứ tài liệu nào.Nếu có gì sai sót em
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sinh viên
Thân Thị Thúy
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri
ân sâu sắc đối với Ban giám hiệu, thầy chủ nhiệm cùng các thầy cô khoa Y tế
công cộng trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã quan tâm và chỉ bảo tận tình
em trong quá trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới Thạc sỹ, Bác sỹ Trần Thị Bích Hồi đã hết lòng giúp đỡ, dạy
bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn
thành khóa luận tốt nghệp.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ của cơ sở điều trị Methadone An
Lão – Trung tâm Y tế huyện An Lão đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình
thu thập số liệu tại trung tâm.
Cuối cùng, con xin được cảm ơn gia đình đã luôn ủng hộ, động viên và
tạo điều kiện tốt nhất để con hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện khóa luận
không thể tránh khỏi sai sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
Chất dạng thuốc phiện
CS
:
Cộng sự
HIV
:
Vius gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người
LĐ-TB&XH :
Lao động-Thương binh và xã hội
NC
:
Nghiên cứu
NCMT
:
Ủy ban nhân dân
UNODC
:
Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp
Quốc
WHO
:
Tổ chức Y tế thế giới
MỤC LỤC
6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế
giới, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn
xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Những hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra ảnh
hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và trật tự của đất nước.
Tính đến tháng 9 năm 2014, cả nước có 204.377 người nghiện ma túy. Số
người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ
năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình mỗi năm tăng
đó, hàng ngày bệnh nhân phải đến cơ sở điều trị để uống thuốc nên những
bệnh nhân ở xa sẽ rất vất vả. Hơn nữa phải uống thuốc trong giờ hành chính
nên sẽ ảnh hưởng đến công việc của họ. Nhiều người sẽ không theo được mà
bỏ dởđiều trị giữa chừng làm điều trị thất bại, không đạt được kết quả mong
muốn, lãng phí thời gian, nhân lực và tiền của. Những người bỏ trị có nguy cơ
rất cao quay lại với các CDTP bất hợp pháp(heroin, ATS…) làm gia tăng tình
trạng mất trật tự xã hội và tăng tỷ lệ lây nhiễm các bệnh như HIV, viêm gan
B,C… Vì vậy việc tuân thủ điều trị trong điều trị thay thế nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng Methadone là rất quan trọng. Do đó em đã chọn và
nghiên cứu đề tài:“Một số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túyvà sự tuân thủ
điều trị của bệnh nhân điều trị Methadone tại Trung tâm y tế huyện An
Lão từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015” nhằm mục tiêu:
1. Mô tảmột số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân được điều trị
nghiện các CDTP bằng Methadone từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015.
2. Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị và mô tả một số yếu tố liên quan đến việc
bỏ trị của bệnh nhân điều trị nghiện các CDTP bằng methadone từ tháng
1/2012 đến tháng 3/2015.
8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.Ma túy và tình hình sử dụng ma túy
1.1.2. Ma túy
Ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần của tự nhiên hoặc do chiết xuất
tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ gây ức chế, kích thích mạnh
hệ thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây ra trạng thái gọi
là nghiện ma túy [16].
Theo WHO, nghiện ma túy là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể
(đa dạng chất ma túy, đa dạng cách sử dụng) và người nghiện ma túy chủ yếu
là nam giới [16].
1.1.2. Tình hình sử dụng ma túy
Theo báo cáo tình hình ma túy toàn cầu năm 2014 của Cơ quan phòng
chống tội phạm và ma túy của Liên Hợp Quốc (UNODC), tỷ lệ sử dụng ma
túy trên toàn cầu hiện đang ở mức gần 250 triệu người và vẫn không ngừng
gia tăng.
Lượng ma túy hầu hết đến từ 3 khu vực chính, đó là Tam giác vàng ở Châu
Á và Lưỡi liềm vàng ở khu vực Trung Đông cung cấp tới 80% lượng heroin
toàn thế giới. Kết hợp cùng với 2 khu vực trên, cộng với Tam giác trắng ở
Mỹ -Latinh đã tạo nên hiểm họa về cái chết trắng trên toàn thế giới.
Đến cuối tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ
quản lý(trên thực tế số người sử dụng ma túy còn lớn hơn rất nhiều). Kết quả
thống kê cho thấy số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần
trong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình
mỗi năm tăng khoảng 7.000 người). Những năm gần đây số người nghiện ma
túy của Việt Nam luôn gia tăng, mức tăng trung bình mỗi năm khoảng 6%
10
Năm 2000, có khoảng 60.000 người nghiện thì năm 2014 có trên 200.000
người nghiện [25].
Người nghiện ma túy đã có 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận,
huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn. Người nghiện cũng đã xuất
hiện ở mọi thành phần trong xã hội: học sinh, sinh viên, cán bộ công chức,
viên chức, người lao động…[1].
Cơ cấu người nghiện ma túy theo vùng miền cũng đã có những thay đổi
đáng kể. Nếu như giữa những năm90của thế kỷtrước,nghiện matúychủ yếu
phổ biến ở người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chiếm ½ số người lạm
dụng loại ma túy này trên toàn thế giới. Việc gia tăng lạm dụng các loại ma
túy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho nhóm
người nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn [2].
Cáchthức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi. Nếu như năm 1995 chỉ
có chưa đến 8% số người nghiện tiêm chích ma túy và hơn 88% chủ yếu hút,
hít thì tới cuối năm 2009 số người chích ma túy chiếm hơn ¾ tổng số người
nghiện ma túy của cả nước.Hìnhthức sử dụng ma túy chủ yếu là tiêm chích
với việc dùng chung bơm kim tiêmđãdẫn tới tỷ lệ lây nhiễm HIV cao trong
nhómngười nghiệnchíchmatúy(17,2%).Theo số liệutừ Bộ Y tế, người nghiện
chích ma túy cũng là nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những
người nhiễm HIV ở Việt Nam (41,1% tính đến cuối tháng6/2011)[2].
1.2. Tình hình dịch HIV/AIDS ở nhóm nghiện chích ma túy
HIV (Human Immunodefiency Virus) là virus gây ra hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải ở người. HIV gây tổn thương hệ thống miễn dich của cơ
thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
dẫn đến chết người [30].
12
AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là giai đoạn cuối cùng của
quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư
và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong [30].
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng
12/1990, sau đó dịch đã lan rộng khắp cả nước và tăng lên nhanh chóng. Tính
đến hết 30/9/2014, số lũy tích các trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV là
224.223 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 69.617 và đã có 70.734 trường
hợp tử vong do AIDS. Số người nhiễm HIV phát hiện mới có xu hương giảm
trong 7 năm gần đây, tuy nhiên vẫn ở mức cao khoảng 12.000 – 14.000 ca
năm gần đây từ 18,7% năm 2011 xuống còn 14% năm 2014.
1.3.Thông tin chung về điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone
1.3.1. Định nghĩa Methadone
Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các
CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương
và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là
24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội
chứng cai. Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều
trị lâu dài[4].
Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là một điều trị
lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng
siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm
gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao
động và tái hoà nhập cộng đồng.
1.3.2.Mục đích của việc điều trị thay thế bằng Methadone
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện
các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau[4]:
1. Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm
gan B, C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá
14
liều các CDTP và hoạt động tội phạm.
2. Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP.
3. Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định
cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội.
1.3.3. Dược lý lâm sàng của Methadone
1.3.3.1. Dược lực học
Methadone là một chất đồng vận với các CDTP, tác động chủ yếu trên các
b) Độ thanh thải ở thận giảm khi pH nước tiểu tăng.
1.3.3.3. Tác dụng phụ
1.3.3.3.1. Các tác dụng phụ
Các tác dụng không mong muốn phổ biến của Methadone bao gồm táo bón,
khô miệng và tăng tiết mồ hôi.
Các triệu chứng: rối loạn giấc ngủ, buồn nôn, nôn, giãn mạch và gây ngứa,
rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ, chứng vú to ở đàn ông, rối loạn chức năng tình
dục, giữ nước, tăng cân ít gặp hơn và có thể không liên quan đến Methadone.
1.3.3.3.2.Hầuhếtnhững người nghiện CDTP có ít tác dụng không mong muốn,
tuy nhiên triệu chứng táo bón, rối loạn chức năng tình dục, tăng tiết mồ hôi,
có thể vẫn tồn tại trong quá trình điều trị.
1.3.3.4.Tương tác thuốc
1.3.3.4.1. Nhiều người bệnh đang điều trị Methadone đồng thời đang được
điều trị HIV/AIDS hoặc các bệnh lý khác kèm theo, do vậy cần lưu ý đặc biệt
đến các tương tác giữa thuốc Methadone với các thuốc khác như: thuốc kháng
Retrovirus (ARV), thuốc điều trị lao, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội,
thuốc an thần, gây ngủ, thuốc giảm đau các loại. Tương tác giữa thuốc
Methadone với những thuốc tác động vào hệ thống men cytochrome P450
(CYP450) có thể dẫn tới:
-
Giảm hiệu quả của liệu pháp điều trị duy trì bằng Methadone.
Giảm hiệu quả của liệu pháp điều trị ARV.
Ngộ độc và các tác dụng không mong muốn.
Giảm tuân thủ điều trị.
1.3.3.4.2. Việctiênlượng trước những tương tác có thể xảy ra giữa thuốc
Methadone và các thuốc khác là rất quan trọng giúp quyết định đổi loại thuốc
hoặc thay đổi liều Methadone khi cần thiết.
DDI). Ngộ độc AZT có thể biểu hiện giống như các dấu hiệu của hội chứng
cai.
1.3.3.4.4.Nguyên tắc xử trí tương tác thuốc
a) Luôn hỏi người bệnh về những loại thuốc họ đang sử dụng kèm theo với
thuốc Methadone.
b) Tiên lượng các tương tác thuốc có thể xảy ra, cần lưu ý các loại thuốc có
tương tác với Methadone (xem chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo
Hướng dẫn này). Hạn chế tối đa việc sử dụng các loại thuốc có tương tác
với thuốc Methadone. Khi có thể, nên dùng các loại thuốc không có tương
tác với Methadone.
17
c) Sự tương tác thuốc là rất khác nhau ở mỗi người bệnh do vậy rất khó để dự
đoán về mức độ và thời gian tương tác để quyết định thay đổi liều thích
hợp.Khi điều chỉnh liều Methadone nên dựa trên đáp ứng lâm sàng của
người bệnh hơn là dựa trên dự đoán về các tương tác có thể xảy ra.
d) Không nên bắt đầu liệu pháp điều trị bằng thuốc khác (lao, ARV) trong giai
đoạn khởi liều Methadone (2 tuần đầu) để tránh sự nhầm lẫn giữa ngộ độc,
tác dụng không mong muốn và các tương tác thuốc có thể xảy ra. Các
trường hợp bệnh nhân đang mắc các rối loạn tâm thần, cần bắt đầu điều trị
rối loạn tâm thần càng sớm càng tốt.
e) Phải quan sát và theo dõi chặt chẽ người bệnh đang điều trị Methadone mà
sử dụng đồng thời những thuốc có tương tác với Methadone để phát hiện
và xử trí kịp thời.
f) Phải cập nhật và ghi hồ sơ đầy đủ tất cả những thuốc mà người bệnh đang
sử dụng: chẩn đoán, tên thuốc, liều dùng, thời gian sử dụng, cơ sở điều trị
Người bệnh có tiền sử sử dụng naltrexone.
Người bệnh tâm thần đang sử dụng các thuốc hướng thần.
Người bệnh đau mạn tính, hen phế quản, suy thượng thận, suy
giáp, phì đại tuyến tiền liệt, đái tháo đường.
1.4. Tình hình thực tế áp dụng điều trị thay thế các CDTP bằng
Methadone
1.4.1. Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới đã có 80 quốc gia đã triển khai chương trình điều trị
các CDTP phiện bằng thuốc thay thế Methadone như Mỹ, Úc, Áo, Hà Lan,
Na Uy…[21].
Tại Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đang điều trị cho 260.000 người trên tổng số gần 1
triệu người nghiện ma túy tại 1.200 cơ sở điều trị Methadone. Hiệu quả của
chương trình điều trị Methadone tại Hoa Kỳ là rất lớn, chi phí cho một bệnh
nhân trong 1 ngày là dưới 1 USD [26].
Tại Hồng Kông triển khai chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng
Methadone từ năm 1972, hiện nay Hồng Kông có 20 cơ sở điều trị Methadone
đang hoạt động. Tổng số người đăng ký tham gia chương trình Methadone là
8.159 người. Trung bình hàng ngày có khoảng 6.214 trường hợp tham gia
điều trị [26].
Tại Trung Quốc từ đầu năm 2004 đã triển khai chương trình Methadone tại
cơ sở điều trị ở 5 tỉnh. Đến 30/9/2011, Trung Quốc đã có 716 cơ sở điều trị tại
28 tỉnh, thành phố với khoảng 133.000 bệnh nhân đang điều trị [26].
Tại Malaysia từ tháng 10/2005 bắt đầu triển khai chương trình Methadone.
Đến cuối năm 2010 đã điều trị cho gần 20.700 người nghiện tại 211 cơ sở
điều trị bao gồm cả nhà nước và tư nhân [26].
Tại Thái Lan đưa chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng Methadone
19
Phải có đơn tự nguyện tham gia điều trị bằng thuốc Methadone, có
-
xácnhận của gia đình người bệnh hoặc người giám hộ.
Không có chống chỉ định dùng thuốc Methadone.
Có giấy giới thiệu của Ủy ban nhân dân xã/ phường nơi nghiện các chất
dạng thuốc phiện cư trú.
Tiêu chuẩn ưu tiên [13]:
-
Người tham gia tích cực các hoạt động phòng chống HIV/AIDS: nhân
20
viên tiếp cận cộng đồng, giáo viên đồng đẳng từ các dự án, người
nhiễm HIV đang điều trị thuốc kháng virus (ARV) và tuân thủ tốt
-
trong điều trị từ các phòng khám giới thiệu đến.
Người nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng đường tiêm chích.
Thời gian nghiện ít nhất 3 năm.
Đã cai nghiện, từ bỏ ma túy nhiều lần mà không thành công.
Tiêu chuẩn loại trừ [13]:
-
Bệnh nhân có bệnh cơ thể nặng.
Phòng.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015.
22
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu hồ sơ.
2.4.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu
-
Kỹ thuật chọn mẫu
Toàn bộ các bệnh nhân bắt đầu tham gia điều trị bằng Methadone tại cơ
sở điều trị Methadone An Lão – Trung tâm y tế dự phòng huyện An Lão, Hải
Phòng từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2015.
-
Cỡ mẫu
Tính theo công thức tính cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ p:
n = Z21- α/2
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu cần có.
p = 0,898 (tỷ lệ TTĐT Methadone tại Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh
sau 12 tháng triển khai theo báo cáo của tổ chức FHI 360 năm 2014 là 89,8%
[12]).
α = 0,05 (mức ý nghĩa thống kê), Z= 1,96.
Nghề nghiệp
Trình độ học vấn
Tình trạng hôn nhân
Loại ma túy sử dụng
ma túy của Cách thức sử dụng ma túy
bệnh nhân
Thời gian sử dụng ma túy
Tiền sử cai nghiện
Tiền sử mắc một số bệnh
cơ thể
Xác định
tỷ lệ tuân
thủ điều trị
và một số
yếu tố liên
quan đến
việc bỏ trị
của bệnh
nhân
Số ngày dừng thuốc/ lần
Lý do không TTĐT
Tác dụng phụ của
Methadone
Giai đoạn điều trị của
bệnh nhân
Bỏ trị theo tuổi, giới,NN,
học vấn, hôn nhân,GĐ
Tìm hiểu các thông tin cần thu thập từ hồ sơ trước không để thiếu thông
-
tin.
Tập huấn điều tra viên.
Làm sạch số liệu trước khi phân tích.
2.4.7.Đạo đức trong nghiên cứu
-
Nghiên cứu không gây hại cho đối tượng nghiên cứu.
Trong quá trình thu thập thông tin, phân tích số liệu, viết báo cáo đảm
bảo thông tin được mã hóa để đảm bảo tính khuyết danh và bảo mật
thông tin.
25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Một số đặc điểm tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân được điều trị
thay thế các CDTP bằng Methadone
Bảng 3.1: Tỷ lệ (%) bệnh nhân điều trị theo nhóm tuổi
Kết quả NC
Số lượng
(n = 219)
Nhận xét: Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân được điều trị Methadone nhiều
nhất là 47% ở nhóm tuổi 30 – 39. Tiếp theo là 28,3 % ở nhóm tuổi 40 – 49,
nhóm tuổi 20 – 29 chiếm 16,4 %, thấp nhất là nhóm tuổi ≥ 50 chiếm 8,2 %.