VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN - TƯ LIỆU
-----------------------------------------------------------------------------ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
I. AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA THẾ GIỚI
1. An ninh lương thực của cả loài người
2. Tình hình an ninh lương thực trên thế giới
3. Tác động của an ninh lương thực thế giới đến các quốc gia, dân tộc
4. Định hướng giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới
II. AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA VIỆT NAM
1. An ninh lương thực quốc gia
1.1. An ninh lương thực quốc gia (toàn dân tộc)
1.2. An ninh lương thực ở Việt Nam
2. Tình hình lương thực, thực phẩm ở Việt Nam
2.1. Tình hình sản xuất lương thực, thực phẩm
2.2. Tình hình lưu thông và tiêu dùng lương thực, thực phẩm
3. Những vấn đề cần giải quyết
3.1. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp nhanh chóng
3.2. Ảnh hưởng của tình trạng biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh
3.3. Sức ép về dân số, lao động, việc làm
3.4. Hiện tượng đầu cơ và tình trạng thiếu thông tin, thông tin không
minh bạch trên thị trường lương thực
3.5. Hạn chế về kết cấu hạ tầng
1
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
có độ trễ trong sản xuất. Những đặc điểm nêu trên của cầu và cung hàng hóa nông
nghiệp khiến cho những thay đổi nhỏ trong sản xuất nông nghiệp do những nhân tố
bên ngoài như thay đổi về các điều kiện tự nhiên hay thời tiết cũng có thể dẫn đến
sự dao động lớn về giá cả. Đối với các sản phẩm lương thực cơ bản, giá cả thị
trường- và do vậy thu nhập của người nông dân- là không ổn định. Từ lâu, vấn đề
an ninh lương thực đã được hết sức quan tâm, không chỉ ở phạm vi mỗi quốc gia
mà còn trên toàn cầu, phản ánh rõ tính chất dễ thay đổi của giá cả hàng nông
nghiệp và sự bất trắc trong cung ứng các sản phẩm lương thực.
Thừa nhận tầm quan trọng của an ninh lương thực, Hội nghị Thượng đỉnh
Lương thực Thế giới (WFS), dưới sự bảo trợ của Tổ chức Nông lương Liên hợp
quốc (FAO), năm 1996 đã đưa ra khái niệm về an ninh lương thực trong Kế hoạch
hành động của mình như sau: “An ninh lương thực là trạng thái mà ở đó tất cả mọi
người, tại mọi thời điểm, đều có sự tiếp cận cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn
lương thực đầy đủ, an toàn và đủ dinh dưỡng, đáp ứng chế độ ăn uống và thị hiếu
lương thực của mình, đảm bảo một cuộc sống năng động và khỏe mạnh” (WFS,
1996). Khái niệm an ninh lương thực có thể được sử dụng ở nhiều cấp độ khác
nhau, từ gia đình, cộng đồng cho đến quốc gia và toàn thế giới. Theo nghĩa này, an
ninh lương thực của cả loài người được hiểu là luôn luôn đảm bảo có sự cung cấp
đầy đủ lương thực cho cả loài người, đảm bảo trên toàn thế giới không ai bị đói và
mọi người đều được hưởng thụ cuộc sống năng động và khỏe mạnh.
Từ khái niệm trên đây, FAO đã nêu ra một số điều kiện cơ bản cần phải
được đáp ứng để đảm bảo có an ninh lương thực.
(1) Sự sẵn có nguồn lương thực: sự cung ứng đầy đủ lương thực phải được
đảm bảo một cách bền vững, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới do
dân số gia tăng và chế độ ăn uống đang thay đổi.
(2) Sự tiếp cận với nguồn lương thực: an ninh lương thực chỉ có thể đạt được
khi đảm bảo có sự tiếp cận cả về mặt vật chất và kinh tế với nguồn lương thực.
Trong khi những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận về mặt vật chất, chẳng hạn
như chiến tranh, cấm vận xuất khẩu hoặc những vấn đề liên quan đến vận tải là phổ
3
vấn đề an ninh lương thực.
2. Tình hình an ninh lương thực trên thế giới
Đánh giá khái quát, trong vòng vài thập kỷ qua tình hình an ninh lương thực
trên thế giới đã có sự cải thiện đáng kể, tuy nhiên mức độ cải thiện của mỗi khu
vực là không giống nhau, và điều đáng quan ngại là thời gian gần đây đã xuất hiện
những dấu hiệu cho thấy sự xấu đi của an ninh lương thực. Những tiến bộ vượt bậc
trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những thành tựu đạt được từ cái gọi là “kỳ
tích liên hoàn” giữa phân bón – cây trồng – tưới tiêu suốt hàng thập kỷ qua, đã góp
phần làm gia tăng nhanh chóng sản lượng lương thực trên thế giới. Trong vòng 4
4
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
thập kỷ, từ năm 1955- 1995, tổng sản lượng lương thực thế giới đã tăng 124%,
trong khi dân số thế giới chỉ tăng 105%. Xu hướng gia tăng sản lượng lương thực
tiếp tục kéo dài sang những năm đầu của thế kỷ 21 (Bảng 1).
Bảng 1. Sản lượng lương thực toàn thế giới
Đơn vị: Triệu tấn
Bình quân
2001
2004
2006
2007
Ước
tính
687,7
685,8
...
...
...
...
Trong đó: châu Phi
113,0
174,0
...
...
...
...
1989-1991
Lương thực có hạt
Nguồn: FAO (2008).
Bảng 2. Dự trữ lúa gạo trên thế giới (cuối năm)
(Chỉ kể các quốc gia có dự trữ trên 500 nghìn tấn trong 4 năm gần đây)
Đơn vị: Nghìn tấn
Quốc gia
2000/01
2004/05
2005/06
2006/07
2007/08
Trung Quốc
97.350
38.931
36.915
35.915
37.317
Inđônêsia
4.605
1.386
Ấn Độ
25.051
8.500
10.520
11.430
12.000
Iran
1.872
759
775
755
683
EU (gồm 27 nước)
888
618
1.171
1.746
1.114
564
354
355
431
515
182
25
Braxin
Ôxtrâylia
Nguồn: FAO (2008).
Nhân tố tiếp theo khiến cho cuộc khủng hoảng lương thực trở nên trầm trọng
là sự tăng vọt của giá cả lương thực từ năm 2006. Theo tính toán của FAO, chỉ số
87
72
105
Chỉ số giá lương thực của FAO là giá trị trung bình của giá 6 mặt hàng cơ bản (thịt, sữa, ngũ
cốc, dầu ăn, chất béo và đường) chia cho số lượng xuất khẩu trung bình của một mặt hàng trong
giai đoạn 1998-2000.
6
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
2001
95
100
117
89
72
111
2002
118
130
111
117
92
2005
117
121
145
106
109
127
2006
127
115
239
250
154
Tháng 2/2008
217
130
278
282
273
173
Tháng 3/2008
220
133
276
284
163
Nguồn: FAO (2008).
Có thể thấy rõ hơn sự gia tăng đến chóng mặt của giá lương thực qua giá
xuất khẩu một số loại lương thực của một số quốc gia (Bảng ).
Bảng 3. Giá xuất khẩu một số loại lương thực của một số nước
Đơn vị: USD/tấn
Mỹ
Achentina
Thái Lan
Lúa mì
Ngô
Lúa mì
Ngô
Gạo trắng
Gạo (gẫy)
Tháng
7/2007
250
146
249
141
337
261
Tháng
nghiêm trọng, và điều này khiến cho khả năng tiếp cận nguồn lương thực của
người nghèo vốn đã khó khăn càng trở nên khó khăn hơn.
Điều đáng quan ngại là có nhiều yếu tố ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến
sản lượng và giá cả lương thực, đáng chú ý là:
-Thứ nhất, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên thế giới đang giảm nhanh.
Theo FAO, mỗi năm thế giới mất đi từ 5-10 triệu ha đất nông nghiệp do đất bị
7
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
thoái hóa; tính trong 30 năm qua, có trên 100 triệu ha bị thoái hóa. Bên cạnh đó,
quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở các nước đang phát triển, nhất là ở châu Á,
đã phải sử dụng không ít diện tích tự nhiên, trong đó một tỷ lệ lớn là diện tích đất
nông nghiệp, đất trồng cây lương thực. Ở Trung Quốc, 10 năm qua diện tích đất
canh tác giảm từ 1,95 tỷ mẫu còn 1,82 tỷ mẫu; Bănglađét mỗi năm mất 80.000 ha
đất nông nghiệp (phần lớn là đất chất lượng tốt); Philippin, một thí dụ điển hình vì
việc giảm diện tích trồng lương thực xuống còn khoảng 60% so với những năm 80
của thế kỷ trước. Ở Việt Nam chúng ta, trong vòng 5 năm 2001-2005, đất nông
nghiệp đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp là 366.440 ha (chiếm 3,89% đất
sản xuất nông nghiệp đang sử dụng).
-Thứ hai, từ ba thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đến nay, thế giới có nhiều tiến bộ
nhảy vọt về khoa học và công nghệ, nhưng nhiều nước, nhiều vùng đã không chú ý
tới việc tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lương thực
nói riêng. Nếu như những năm 60-70 của thế kỷ trước thế giới bước vào cuộc cách
mạng xanh (trong đó việc lai tạo thành công và đưa các giống mới của các loại cây
lương thực vào sản xuất đại trà), đã tạo nên những bước nhảy về sản lượng lương
thực, mà chủ yếu do tăng năng suất, thì nhiều năm gần đây không được chú ý đúng
mức không chỉ về giống, mà còn về kỹ thuật canh tác, thu hoạch và sau thu hoạch.
Vì vậy, tốc độ tăng năng suất nông nghiệp thế giới ngày càng giảm: nếu như trong
thời kỳ 1950-1990, tốc độ tăng năng suất nông nghiệp bình quân là 2,1%/năm, thì
48.462 tỷ USD, gấp 1,52 lần năm 2000 (theo giá thực tế). Các nhu cầu về lương
thực không chỉ tăng do dân số tăng, mà còn do nhu cầu của các ngành kinh tế khác.
Đặc biệt, nhiều nước như Mỹ, Tây Âu, và cả Trung Quốc, tuy ở mức độ khác nhau,
đang thay năng lượng được khai thác từ dưới đất bằng năng lượng sinh học, sử
dụng nhiều lương thực (chủ yếu là ngô, lúa mì,...) để sản xuất nhiên liệu sạch
(ethanol và diesel sinh học). Mỹ dùng khoảng 18% ngũ cốc, 30% ngô (dự kiến
tăng lên 50%) để sản xuất nhiên liệu sinh học. Hiện nay, 15% quỹ đất nông nghiệp
ở Đức và Pháp, khoảng 20% đất trồng ngô tại Mỹ được dùng để sản xuất nhiên liệu
sinh học. Theo Liên hợp quốc, sản xuất nhiên liệu sinh học có thể làm tăng giá các
hạt có dầu và ngũ cốc 30%.
- Thứ sáu, thị trường nông sản thế giới bị bóp méo vì chính sách trợ cấp
nông nghiệp của các nước công nghiệp phát triển. Theo OECD, hàng năm, Mỹ và
châu Âu trợ cấp 283 tỷ USD cho nông nghiệp. Theo WB, chính sách trợ cấp này và
mức thuế quan cao trong nông nghiệp của các nước phát triển đã khiến các nước
đang phát triển mất khoảng 100 tỷ USD thu nhập hàng năm. Vì vậy, ngay từ vòng
đàm phán Urugoay (năm 1987), các nước đang phát triển, đặc biệt là nhóm các
nước xuất khẩu nông sản, đã thúc đẩy đàm phán tự do hóa nông nghiệp. Dù vậy,
đàm phán nông nghiệp tiến triển rất chậm, hiện là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến bế tắc của vòng đàm phán Đôha. Có ý kiến cho rằng bế tắc trong tự
do hóa nông nghiệp dẫn đến thực tiễn thương mại xấu ở một số nước, làm tăng
mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng lương thực. Ví dụ, theo cam kết với WTO,
hàng năm Nhật Bản nhập khẩu gần 800.000 tấn gạo chỉ để cất trữ trong khi nhiều
nước không thể tiếp cận nguồn cung lương thực.
- Thứ bẩy, việc nhiều nước xuất khẩu lương thực, khởi đầu là Ấn Độ (cuối
năm 2007), và sau đó Ai Cập, Cămpuchia, Mêxicô, Kadắctan…(quý I/2008) hạn
chế xuất khẩu càng khiến giá lương thực tăng cao. Theo FAO, về tổng thể cungcầu gạo trên thế giới tương đối cân bằng (năm 2007, tổng cung gạo là 538 triệu tấn,
9
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
hưởng mạnh đến các nước chậm phát triển có tỷ trọng lương thực cao trong tiêu
dùng. Theo IMF, giá lương thực tăng gây ra khoảng 44% lạm phát toàn cầu (67%
lạm phát ở châu Á, 43% ở Trung Đông và châu Phi). Thành quả thực hiện mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ, nhất là trong xóa đói giảm nghèo đang bị thách thức gay
gắt. Theo WB, giá lương thực tăng 20% thì thêm có 100 triệu người quay lại mức
nghèo đói và giá lương thực tăng trong 3 năm qua khiến thành tựu giảm đói nghèo
10
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
bị đẩy lùi 7 năm, tỷ lệ đói nghèo trên thế giới tăng từ 3-5%. Hơn nữa, cuộc khủng
hoảng lần này có thể làm tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng (hiện đã là 2 tỷ người), nhất là
ở châu Phi và châu Á, tác động lâu dài đến nguồn nhân lực của các châu lục này.
- Cuộc khủng hoảng lương thực thế giới có tác động nghiêm trọng đến tình
hình an ninh - chính trị của không ít nước. Giá lương thực tăng cao tác động trực
tiếp đến chất lượng sống của người dân, thậm chí là sự sống còn của người nghèo.
Khủng hoảng lương thực có thể dễ dàng thổi bùng bạo lực ở những nơi nghèo khó,
làm sâu sắc thêm xung đột bạo lực giữa các sắc tộc. Thậm chí ở nhiều nước đã xảy
ra bạo động, biểu tình như Haiiti, Camơrun, Xênêgan, Buốckina Phaxô... Hơn nữa,
cuộc khủng hoảng còn đào sâu hố ngăn cách giàu- nghèo, đẩy các nước chậm phát
triển lún sâu hơn vào vòng xoáy đói nghèo và bất ổn.
Bên cạnh những tác động tiêu cực nêu trên, cuộc khủng hoảng lương thực
lần này cũng khiến cộng đồng thế giới và các quốc gia phải nhìn nhận lại nhiều vấn
đề liên quan đến tự do hóa nông nghiệp, chính sách phát triển nông nghiệp, nông
thôn, hay vấn đề đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp. Cụ thể là:
- Cuộc khủng hoảng lương thực tác động khá phức tạp và nhiều chiều đến
vòng đàm phán Đôha, nhất là đàm phán nông nghiệp. Một mặt, phần lớn các thành
viên WTO cho rằng việc sớm kết thúc vòng Đôha sẽ giúp giải quyết khủng hoảng
lương thực trong trung và dài hạn do: (i) việc hạ thấp hàng rào thuế và xóa bỏ trợ
công nghệ trong nông nghiệp. Khủng hoảng lương thực thế giới 1971-1973 đã thúc
đẩy mạnh cách mạng “xanh”, cách mạng “trắng” ở các nước đang phát triển, giúp
tăng năng suất nông nghiệp. Tổng Thư ký Liên hợp quốc nhấn mạnh cộng đồng
quốc tế cần phát triển một thế hệ công nghệ mới, tạo ra cuộc “cách mạng xanh lần
thứ 2”, nâng cao sản lượng nông nghiệp một cách bền vững với những thiệt hại
nhỏ nhất về môi trường.
4. Định hướng giải pháp nhằm đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới
Các phần trình bày trên đây cho thấy rằng an ninh lương thực là vấn đề có
tính chất toàn cầu. Vì vậy, việc thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế và ngăn chặn
khủng hoảng lương thực hiện nay, tiến tới đảm bảo an ninh lương thực bền vững,
đòi hỏi sự nỗ lực và đóng góp của tất cả các quốc gia trên thế giới. Về nguyên tắc,
các giải pháp cần tập trung vào việc đảm bảo những nhân tố cấu thành của an ninh
lương thực, đó là: sự sẵn có và ổn định của nguồn cung lương thực; khả năng tiếp
cận với nguồn cung lương thực; và sự an toàn của nguồn cung lương thực. Cụ thể
trong bối cảnh hiện nay, các giải pháp cần hướng tới việc tăng cung lương thực và
cải thiện khả năng tiếp cận với nguồn lương thực của người dân trên toàn thế giới,
đặc biệt là ở những nước nghèo, những nước phải chịu tác động nghiêm trọng của
khủng hoảng lương thực.
- Thứ nhất, tăng cường đầu tư cho phát triển nông nghiệp, trong đó quan
trọng là tập trung đầu tư cho khoa học và công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng khoa học
và công nghệ rộng khắp trên toàn thế giới từ khâu giống đến kỹ thuật trồng trọt,
thu hoạch và sau thu hoạch, đặc biệt nhấn mạnh hạn chế việc giảm diện tích đất
nông nghiệp, và cải tạo nâng cao độ mầu mỡ của đất đai. Từ đó nâng cao năng suất
cây trồng, tăng sản lượng lương thực, hay nói cách khác là đưa thế giới bước vào
cuộc “Cách mạng xanh lần thứ 2”. Điều này cần có sự đầu tư rất lớn và liên tục
trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển, mà ở đó năng suất thu hoạch
12
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
thế giới. Lâu dài hơn, cần kết thúc vòng đàm phán Đôha để loại bỏ những biến
dạng thị trường do trợ cấp và thuế nông sản, để tạo ra một thị trường lương thực
toàn cầu linh hoạt, hiệu quả và công bằng hơn.
2
Sản lượng ngô trên toàn cầu đã gia tăng trong 3 năm qua, nhưng chương trình chiết xuất
ethanol của Mỹ đã tiêu tốn 75% số gia tăng đó.
13
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
- Thứ tư, cần phải đẩy mạnh đầu tư vào các doanh nghiệp nông nghiệp để có
thể huy động khu vực tư nhân vào toàn bộ chuỗi giá trị: phát triển đất và nước bền
vững; chuỗi cung ứng; giảm lãng phí; cơ sở hạ tầng và hậu cần, giúp những nhà
sản xuất ở các nước đang phát triển đạt chuẩn an toàn lương thực; kết nối từ bán lẻ
tới nông dân ở các nước đang phát triển; và hỗ trợ tài chính cho buôn bán lương
thực. Điều này sẽ góp phần cải thiện hệ thống phân phối lương thực, nhất là ở
những nước nghèo, những nước sản xuất dư thừa lương thực nhưng người dân vẫn
khó khăn tiếp cận với nguồn cung lương thực.
- Thứ năm, cộng đồng quốc tế cần có hành động tập thể để hóa giải những
rủi ro toàn cầu. Những thách thức về năng lượng, lương thực và nước có mối liên
quan lẫn nhau, sẽ là những yếu tố thúc đẩy kinh tế và an ninh toàn cầu. Theo sáng
kiến của WB, các nước phát triển và đang phát triển cần nghiên cứu để cùng tạo ra
một kho “sản phẩm toàn cầu” theo mô hình Cơ quan Năng lượng Quốc tế, với
những quy định rõ ràng và minh bạch. Đây có thể sẽ là nguồn bảo hiểm cho người
nghèo nhất, nhằm cung cấp lương thực ở mức giá chấp nhận được.
Trước mắt, các tổ chức quốc tế cần dành một quỹ (không chỉ bằng tiền, mà
còn bằng lương thực) nhất định và có sự thực thi nhanh chóng để góp phần như
một lực lượng “phản ứng nhanh” để cứu trợ cho các vùng bị khủng hoảng lương
Chuyên đề này đã đề cập đến an ninh lương thực của cả loài người ở cấp độ toàn
cầu. Còn ở cấp độ quốc gia, an ninh lương thực của toàn dân tộc được hiểu là luôn
luôn đảm bảo có sự cung cấp đầy đủ lương thực cho toàn dân tộc, đảm bảo trên
phạm vi toàn quốc không ai bị đói và mọi người đều được hưởng thụ cuộc sống
năng động và khỏe mạnh.
Để đảm bảo an ninh lương thực của một quốc gia thì quốc gia ấy phải đáp
ứng được những điều kiện cơ bản của an ninh lương thực nói chung, bao gồm: (1)
Sự sẵn có nguồn lương thực; (2) Sự tiếp cận với nguồn lương thực;(3) Sự ổn định
của nguồn cung lương thực; và (4) Sự an toàn, chất lượng của nguồn lương thực
cung ứng.
Theo quan điểm toàn diện về an ninh lương thực của mỗi quốc gia, vấn đề
không chỉ là sản xuất ra lượng lương thực để đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của
người dân mà còn cần phải quan tâm đến cả ba vấn đề sau đây:
(1) Vấn đề sản xuất: Phải có đủ lương thực để cung cấp cho toàn xã hội
trong mọi hoàn cảnh, ở tất cả các vùng miền, địa phương trong cả nước, tại mọi
thời điểm.
(2) Vấn đề phân phối: Phải có hệ thống cung ứng lương thực đến tay người
tiêu dùng với mức giá mà cả người mua và người bán chấp nhận được.
(3) Vấn đề thu nhập: Phải tạo điều kiện để mọi người đều có việc làm, có thu
nhập để có đủ tiền mua lương thực đáp ứng nhu cầu của bản thân và gia đình.
1.2. An ninh lương thực ở Việt Nam
Từ vai trò đặc biệt quan trọng của an ninh lương thực đối với đời sống xã
hội, Việt Nam đã xác định đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là yếu tố quan
trọng, là nền tảng để ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế bền vững. Đại hội
Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: "Phát triển nông nghiệp toàn diện hướng vào đảm bảo an
ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, tăng nhanh nguồn thực phẩm và
rau quả, cải thiện chất lượng bữa ăn, giảm suy dinh dưỡng". Đại hội Đảng lần thứ
15
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
Trước tình trạng thiếu hụt lương thực đang gây xáo động toàn cầu, tình trạng
chao đảo của thị trường lương thực, thực phẩm đang diễn ra liên tục ở nhiều nước,
Đảng và Nhà nước ta đã xác định rằng việc đảm bảo an ninh lương thực trong
tương lai hướng tới việc đảm bảo khả năng tiếp cận và có thu nhập đủ để mua
lương thực ở mọi vùng, mọi gia đình, trong mọi biến động thời tiết và thị trường.
Bên cạnh đó, chú ý tới các khía cạnh khác của an ninh lương thực như chất lượng
16
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
bữa ăn cân đối dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
nhân dân.
2. Tình hình lương thực, thực phẩm ở Việt Nam
Từ năm 1988 đến nay, nhờ các chính sách đổi mới trong sản xuất nông
nghiệp, sản lượng lương thực quy thóc đều tăng mỗi năm, tốc độ tăng lương thực
cao hơn tốc độ tăng dân số khoảng 3 lần, do vậy bình quân lương thực đầu
người/năm đã tăng lên liên tục, ngay cả trong những năm thiên tai diễn ra nghiêm
trọng. Giá cả lương thực vẫn bình ổn, lương thực được phân phối cho các vùng khó
khăn một cách kịp thời, đảm bảo an ninh lương thực cho hầu hết nhân dân. Tuy
nhiên, trước những biến động về giá gạo những tháng đầu năm 2008, chúng ta
cũng bị ảnh hưởng theo xu thế chung của thế giới.
2.1. Tình hình sản xuất lương thực, thực phẩm
Với những chủ trương và chính sách cụ thể đầu tư cho phát triển sản xuất
nông nghiệp, tăng sản lượng nhằm đảm bảo an ninh lương thực, trong những năm
vừa qua Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tích đáng ghi nhận về sản xuất
lương thực, thực phẩm (Bảng 4).
Bảng 4. Sản lượng cây lương thực qua các năm
Đơn vị: Triệu tấn
Năm
39,3
39,56
39,65
39,98
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Sản lượng cây lương thực vẫn được giữ ổn định và tăng lên qua các năm,
không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực trong nước, dự trữ quốc gia mà còn phục
vụ xuất khẩu. Sản xuất lúa đã dịch chuyển theo hướng giảm dần diện tích, tăng
năng suất và chất lượng gạo để phù hợp với nhu cầu thị trường trong nước và xuất
khẩu. Tuy diện tích trồng lúa giảm, nhưng mục tiêu về sản lượng lương thực vẫn
được đảm bảo, một trong những giải pháp mà Việt Nam đang áp dụng là mở rộng
diện tích lúa lai. Áp dụng chiến lược tạo giống lúa lai có thời gian sinh trưởng từ
90 – 100 ngày để trồng trước và sau mùa lũ ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Bên
cạnh đó, để tăng sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, các tỉnh
trọng điểm lúa thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đã đầu tư mở rộng diện tích
trồng lúa chất lượng cao, áp dụng rộng rãi các chương trình phòng trừ dịch hại tổng
17
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
hợp (IPM), 3 giảm 3 tăng (3 giảm gồm giảm giống, phân bón, thuốc trừ sâu; 3 tăng
gồm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả), nhờ đó mà chất lượng gạo của Việt
Nam đã được cải thiện đáng kể.
Nét mới trong sản xuất lương thực ở Việt Nam hiện nay thể hiện ở sự
chuyển dịch cơ cấu sản lượng: tăng dần tỷ trọng ngô và các cây lương thực khác.
đầu người của Việt Nam đã tăng liên tục. Ngay cả với những năm thiên tai diễn ra
18
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
nghiêm trọng, lương thực vẫn được phân phối cho những vùng khó khăn kịp thời,
đảm bảo an ninh lương thực cho hầu hết nhân dân.
Cùng với sự gia tăng thu nhập, nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân Việt
Nam đang có xu hướng giảm xuống (Bảng 5). Trong khi đó, tỷ lệ thịt, cá, trái
cây… trong bữa ăn hàng ngày của người dân tăng lên. Người dân đã chú trọng hơn
đến chất lượng dinh dưỡng, độ an toàn của lương thực, thực phẩm, qua đó nâng
cao chất lượng cuộc sống toàn diện của mình.
Bảng 5. Tiêu dùng gạo bình quân đầu người mỗi năm
Đơn vị: Kg
Năm
1992
1998
2002
2004
Sản lượng gạo
tiêu dùng
155,6
149
885
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
- Về lưu thông, phân phối lương thực: Thị trường lưu thông lương thực ngày
càng được mở rộng cả về quy mô, cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia, đảm bảo
lưu thông thuận lợi giữa các vùng, các khu vực, kể cả các vùng núi, vùng xa xôi
hẻo lánh, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và
từng địa phương.
Doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh lương thực,
thực phẩm tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trên thị trường, nhất là các thời kỳ giáp hạt,
thiên tai, thường xuyên đảm bảo dự trữ lưu thông và cung ứng kịp thời khi thiên
tai, mất mùa xảy ra. Hoạt động của hệ thống doanh nghiệp này đã góp phần bình
ổn giá lương thực, tránh gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân.
19
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
Hệ thống chợ nông thôn được quan tâm phát triển, là đầu mối tập trung giao
lưu hàng hóa, tạo điều kiện cho hoạt động lưu thông lương thực, thực phẩm được
dễ dàng và kích thích sản xuất phát triển. Bên cạnh đó hệ thống siêu thị và các
trung tâm thương mại đang dần lớn mạnh, góp phần không nhỏ vào lưu thông hàng
hóa, lương thực, thực phẩm. Nếu như năm 1995, Việt Nam chỉ có 10 siêu thị và hai
trung tâm thương mại, thì năm 2007 có khoảng 200 siêu thị và đại siêu thị, 32
trung tâm thương mại, hơn 1.000 cửa hàng tiện lợi, gần 10.000 chợ (trong đó có
khoảng 6.790 chợ tại khu vực nông thôn và 3.210 chợ tại khu vực thành thị), đã và
đang xây dựng hơn 150 chợ đầu mối buôn bán hàng nông sản cấp địa phương. Sự
phát triển nhanh và rộng khắp của hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại tạo
điều kiện cho người dân thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn lương thực, thực
2005
2006
2007
7.504,3
7.452,2
7.445,3
7.326,4
7.325,5
7.201,0
20
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Các chuyên gia nông nghiệp cho rằng, để có được những cánh đồng lúa hai
vụ/năm với năng suất 10 tấn/ha/năm phải trải qua quá trình diễn biến tự nhiên cộng
với sự lao động miệt mài của người nông dân. Tuy nhiên, rất đáng tiếc là nhiều
diện tích đất nông nghiệp sau khi bị thu hồi để chuyển mục đích sử dụng lại bị bỏ
hoang, trong khi không ít nông dân bị mất kế sinh nhai do mất đất. Điều đáng nói
Theo số liệu của Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, trong năm 2006, thiên tai
đã làm 339 người thiệt mạng, 274 người mất tích, 2.065 người bị thương, 75.000 ngôi
nhà bị đổ, trôi… Ảnh hưởng đối với sản xuất do thiên tai gây ra trong năm 2006 ước tính
là 140.000 ha lúa bị ngập, trong đó có hơn 21.000 ha mất trắng; 122.000 ha hoa màu bị
ngập, gần 10.000 ha nuôi trồng thủy sản bị hư hại; hơn 2.000 tàu thuyền bị chìm, hỏng;
gần 1,1 triệu m3 đất đá công trình bị sạt lở, bồi lấp. Tổng thiệt hại về kinh tế ước lên tới
khoảng 1,2 tỷ USD.
Những năm vừa qua chứng kiến nhiều hiện tượng thiên nhiên bất thường. Mưa đá
và lốc kèm theo gió mạnh kéo dài đã xảy ra trên địa bàn nhiều tỉnh và thành phố, làm sập
nhiều nhà cửa, công trình hạ tầng và tàn phá mùa màng. Một số sông hồ lâm vào tình
trạng thiếu nước nghiêm trọng. Mùa khô 2005 - 2006 lượng dòng chảy trên các sông,
suối và lượng nước trên các hồ chứa ở khu vực Bắc bộ rất thấp và có những thời điểm
mực nước hạ lưu sông Hồng đã xuống mức thấp nhất trong vòng 100 năm trở lại đây.
Biến đổi khí hậu làm cho thời tiết trở nên bất thường, khó dự báo hơn. Điển hình
là việc miền Bắc vừa trải qua một đợt rét đâm, rét hại kéo dài nhất trong nhiều năm qua.
Đợt rét kỷ lục kéo dài gần 40 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 vừa qua đã cho
thấy tác động khắc nghiệt của sự biến đổi khí hậu tới tình hình kinh tế - xã hội của Việt
Nam, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn), đợt rét đậm này xảy ra đúng vào thời vụ cấy lúa xuân sớm và gieo
mạ xuân muộn nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất. Tổng hợp từ 16 tỉnh, thành
phố khu vực miền Bắc cho biết, có tới 53.000 ha lúa và trên 5.000 ha mạ bị chết rét. Cục
Chăn nuôi cũng cho biết, rét kéo dài đã làm cho nhiều gia súc bị chết. Những tỉnh có
nhiều trâu, bò chết do rét và đói thường tập trung ở các vùng cao, hộ nông dân nghèo,
chăn nuôi theo tập quán thả rông gia súc. Các tỉnh bị thiệt hại nhiều nhất là Hà Giang
2.000 con, Sơn La 1.458 con, Lạng Sơn 1.000 con… Hiện nay, nông nghiệp, nông thôn
nước ta đang và sẽ là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu.
Nguồn: VNEP, tháng 4/2008.
Các nhà khoa học cho rằng sự biến đổi khí hậu là một trong những nguyên
nhân chính gây ra tình trạng xói mòn và rửa trôi đất, lượng mưa nhiều hơn, nhiệt
trên đàn lợn…
Những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh đã
khiến cho sản lượng lương thực và các sản phẩm nông nghiệp bị giảm đáng kê,
đồng thời thu nhập và cuộc sống của người nông dân trở nên khó khăn hơn, vì vậy
ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương thực.
3.3. Sức ép về dân số, lao động, việc làm
Về cơ bản, nước ta “đất chật người đông”, với 73% dân số sống ở địa bàn
nông thôn, đất canh tác không nhiều, nếu tính theo bình quân đầu người thì thuộc
diện thấp nhất thế giới. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng dân số nhanh hơn
tốc độ tăng sản lượng lúa gạo. Trong vòng 5 năm trở lại đây, năng suất lúa có xu
hướng tăng chậm lại, chỉ còn khoảng 1,23%/năm, trong khi đó sản lượng lúa sử
dụng cho tiêu dùng trong nước chiếm khoảng 75 – 80% tổng sản lượng, còn lại
23
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu
dành cho xuất khẩu và dự trữ quốc gia. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, lượng gạo xuất khẩu hàng năm khoảng 4 triệu tấn và tỷ lệ dự trữ, tiêu dùng
gạo của nước ta tính đến 2007 chỉ còn 1 triệu tấn, chiếm 4,31%. Theo các chuyên
gia, mức sản lượng này chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho khoảng 100 triệu
người. Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2024, nước ta sẽ vượt 100
triệu dân, đạt 100,5 triệu người. Với đà tăng dân số như vậy sẽ làm trầm trọng hóa
thêm những khó khăn trong việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập… qua đó
gây áp lực lên vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung
cấp và hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp. Thế nhưng
tồn tại một thực tế đối với lao động nông thôn hiện nay là thị trường lao động tại
khu vực này chưa phát triển, còn phân mảng, phân tán và sơ khai. Bản thân lao
động nông thôn chưa có cơ hội phát huy khả năng cống hiến của mình cho sự
nghiệp phát triển nông thôn. Đây là thách thức lớn với chính lao động nông thôn
từ lâu. Bắt đầu bằng việc các trường trung cấp kỹ thuật nông nghiệp trong cả nước
chuyển sang đào tạo các lĩnh vực kinh tế, kế toán, công nghệ thông tin… vì không
thu hút được học sinh vào ngành nông nghiệp. Ngành nông nghiệp của các trường
đại học cũng không tuyển đủ sinh viên, hơn nữa phần lớn sinh viên tốt nghiệp
ngành này lại không làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc không trở lại vùng
nông thôn. Trong thời gian qua, mặc dù ngành nông nghiệp và ngành giáo dục đào
tạo đã có cố gắng nhiều, nhưng bức tranh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất
xám để phát triển nông nghiệp, nông thôn vẫn chưa có nhiều điểm sáng.
3.4. Hiện tượng đầu cơ và tình trạng thiếu thông tin, thông tin không minh bạch
trên thị trường lương thực
Có một thực tế lâu nay ít ai để ý là người dân Đồng bằng Sông Cửu Long
mua gạo ngoài chợ với giá luôn cao hơn giá gạo xuất khẩu. Đây là một vấn đề bất
cập được đặt ra cho các nhà quản lý. Thực tế cho thấy rằng, cơn sốt giá gạo mới
đây là hệ quả của việc các doanh nghiệp nhà nước chỉ tập trung lo xuất khẩu, còn
tư thương thì mặc sức thao túng thị trường trong nước. Kênh phân phối nhiều tầng
nấc đã đẩy giá gạo nội địa lên cao hơn giá xuất khẩu. Lúa hàng hoá của nông dân
hiện nay từ đồng ruộng đến xuất khẩu phải trải qua nhiều khâu: thương nhân nhỏchủ vựa lúa- nhà máy xây xát nguyên liệu- nhà máy lau bóng- doanh nghiệp xuất
khẩu. Lúa gạo sau khi qua tay các trung gian đã bị đẩy giá lên quá cao so với giá
mua tại ruộng của nông dân.
Cách đây vài tháng khi các doanh nghiệp kinh doanh lương thực nhà nước
rơi vào tình trạng “cạn kiệt hầu bao” do ngân hàng chậm giải ngân thì thậm chí các
nhà đầu tư chứng khoán đã nhận ra sự hấp dẫn của thị trường lúa gạo. Nhiều đơn vị
không có chức năng kinh doanh lương thực, thực phẩm cũng nhảy vào mua gạo,
thuê thêm các kho chứa hàng ở Đồng bằng Sông Cửu Long để tích trữ gạo. Một số
thị trường bán lẻ gần như lệ thuộc vào 3 - 5 đầu mối cung cấp. Khi các đầu mối
này ghim hàng lập tức đã tạo nên cơn sốt giá. Sở dĩ họ có thể thao túng thị trường
gạo nội địa là vì các doanh nghiệp kinh doanh lương thực nhà nước “bận lo” xuất
khẩu mà quên thị trường nội địa. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho biết họ
không cạnh tranh được với tư thương, nguyên nhân là do bản thân họ phải chịu 5%
thuế giá trị gia tăng khi thu mua lúa gạo nguyên liệu, còn tư thương thì không.