ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––
NGUYỄN THỊ THẮM
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
SINH SẢN CỦA ONG CHÚA APIS CERANA
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THẮM
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
SINH SẢN CỦA ONG CHÚA APIS CERANA
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngà nh: Chă n nuôi
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG
NGHIỆP
Người hướng dẫ n khoa học:
PGS.TS. Ng uyễn Duy Hoan
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thắm
iii
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................
i
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT........................................ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................ vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ................................................................ viii
DANH MỤC CÁC ẢNH .......................................................................... ix
MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................... 1
2. Mục đích của đề tài .......................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ............................... 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................... 4
1.3.10. Mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học với năng suất, chất
lượng mật ong................................................................................. 28
1.4. Cơ sở khoa học của chọn giống ong mật ......................................... 30
1.4.1. Ong đực đơn bội, ong đực lưỡng bội và vấn đề cận huyết
của đàn ong..................................................................................... 30
1.4.2. Cơ sở di truyền ...................................................................... 32
1.4.3. Kiểm soát giao phối và ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo .... 32
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU......................................................................................... 35
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu .................................. 35
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................ 35
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu .............................................................. 35
v
2.1.3. Thời gian nghiên cứu ............................................................. 35
2.2. Nội dung nghiên cứu ..................................................................... 35
2.3. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu .............. 36
2.4. Phương pháp xử lý số liệu.............................................................. 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .............................................. 39
3.1. Tình hình thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng đến
nghề nuôi ong mật ............................................................................... 39
3.2. Cây nguồn mật và thời gian nở hoa tại vùng điều tra ....................... 40
3.3. Thể tích và kích thước mũ chúa...................................................... 41
3.4. Tình hình chia đàn tự nhiên của chúa tự nhiên và chúa nhân tạo ...... 43
3.5. Số lượng mũ chúa chia đàn tự nhiên ............................................... 46
3.6. Thời gian phát dục từ trứng đến khi nở của ong chúa ...................... 51
3.7. Khối lượng của ong chúa tơ và chúa đã đẻ...................................... 51
3.8. Thời gian tập bay và định hướng cửa tổ của ong chúa ..................... 55
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1. Tình hình thời tiết khí hậu năm 2009 .......................................... 39
Bảng 3.2. Cây nguồn mật và thời gian nở hoa tại vùng điều tra ................... 40
Bảng 3.3. Thể tích và kích thước mũ chúa ................................................. 41
Bảng 3.4. Tình hình chia đàn tự nhiên của ong chúa ................................... 44
Bảng 3.5. Số lượng mũ chúa chia đàn tự nhiên vụ Xuân - Hè...................... 47
Bảng 3.6. Số lượng mũ chúa chia đàn tự nhiên vụ Thu - Đông.................... 48
Bảng 3.7. Thời gian phát dục của ong chúa ................................................ 51
Bảng 3.8. Khối lượng của ong chúa tơ và chúa đã đẻ.................................. 52
Bảng 3.9. Thời gian tập bay và định hướng cửa tổ của ong chúa ................. 55
Bảng 3.10. Tuổi thành thục của ong chúa................................................... 56
Bảng 3.11. Thời gian bay giao phối trong ngày của ong chúa...................... 57
Bảng 3.12. Số lần bay giao phối trong đời của ong chúa ............................. 58
Bảng 3.13. Sức đẻ trứng của ong chúa sau khi giao phối............................. 59
viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 3.1: Mố i quan hệ giữa quy mô đàn và tỷ lệ số đàn xây mũ chúa ..... 49
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nhiệt đới có vĩ tuyến nằm trong khoảng 23 độ 23
phút Bắc (cực Bắc) và 8 độ 34 phút Bắc (cực Nam) nên thảm thực vật rất
phong phú và đa dạng, trăm hoa đua nở là tiền đề để phát triển nghề nuô i ong.
Chính vì vậy mà nghề nuô i ong đã có từ rất lâu đời ở nước ta.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nước ta đã và đang hình thành
nên các vùng chuyên canh về cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, cây nông
nghiệp và cây ăn quả, các phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống
đồi núi trọc, chương trình cây ăn quả V.A.C đang phát triển mạnh, là nguồn
thức ăn mới tạo điều kiện cho nghề nuôi ong ngày càng phát triển.
Ong nội Apis cerana là loài ong mật bản đ ịa có ngò i đốt ở Việt Nam.
Có thể quản lý, thuần hoá và đem lại giá trị kinh tế cao từ các sản phẩm của
chúng như: Mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong và keo ong. Đây là
những sản phẩm s inh học độc đáo, có giá trị dinh dưỡng rất cao dùng để bồi
dưỡng sức khoẻ cho con người, bài thuốc y học cổ truyền có giá trị chữa bệnh
cao, là các nguyên liệu để chế biến các mỹ phẩm cao cấp và nhiều sản phẩm
của ngành công nghiệp khác. Thực tế, từ một đàn ong nội địa trong một năm
có thể cho từ 2 - 40 kg mật ong, 0,2 - 0,3 kg sữa chúa (Nguyễn Duy Hoan,
Phùng Đức Hoàn, Ngô Nhật Thắng, 2008) [7].
Ngoài ra, con ong còn có vai trò hết sức quan trọng là thụ phấn chéo
cho các cây trồng và cây tự nhiên, nhờ đó mà năng suất và phẩm chất của các
cây nông - lâm nghiệp tăng lên rõ rệt, nó cũng góp phần bảo vệ sự đa dạng
của các cây trồng tự nhiên, sự bền vững của môi trường sinh thái. Giá trị kinh
tế từ hoạt động thụ phấn của ong cho cây trồng cao hơn rất nhiều lần (trên 143
2
lần) so với giá trị kinh tế từ các sản phẩm mà chúng mang lại (Sivaram V.,
2004) [25].
không chỉ đối với ong thợ mà với cả ong đực trong đàn và như vậy, vô hình
trung ong chúa đóng vai trò di truyền của cả con đực và con cái. Để bổ sung
thêm những hiểu b iết còn chưa được nghiên cứu đầy đủ về ong chúa, chúng
tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong
chúa Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên”.
2. Mục đích của đề tài
Xác định một cách đầy đủ và có hệ thống các thông tin về các đặc điểm
sinh học sinh sản của ong chúa Apis cerana làm căn cứ khoa học để xây dựng
các biện pháp khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
của nghề nuô i ong.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài hoàn thành sẽ bổ sung một cách đầy đủ và có hệ thống các thông
tin về các đặc điểm sinh học sinh sản của ong chúa Apis cerana ở Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Giải quyết được các vấn đề số liệu, thông tin về các đặc điểm sinh học
sinh sản của ong chúa Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên, nhằm bổ sung một
cách đầy đủ và hoàn thiện về quy trình, kỹ thuật nuôi ong trong nhân dân.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong trên thế giới
Theo Eva Crane (1990) [6] từ xa xưa con người đã biết săn ong lấy mật
để thu được các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của họ và tập quán
săn bắt ong rừng vẫn còn duy trì tới ngày nay, việc khai thác mật ong được
tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Những tổ ong mà người ta thường
Lịch sử nuôi ong Apis cerana ở châu Á cũng lâu đời như lịch sử nuô i
ong Apis mellifera ở châu Âu, như ở Trung Quốc là hơn 3.000 năm, Ấn Độ
2.000 năm (Shahid, 1992; Punchihewa, 1994) (trích từ tài liệu của Nguyễn
Ngọc Vững, 2006) [21]. Nghề nuô i ong cổ truyền vẫn được tồn tại ở các nước
và hầu như không thay đổi so với được miêu tả trong các tài liệu cũ. Tất cả
các loại đõ được làm do con người bắt chước tập tính làm tổ tự nhiên trong
các hốc cây, hốc đá. Các loại đõ đều giống nhau ở chỗ ong xây các bánh tổ
gắn chặt vào phía trên của đõ nên người ta gọ i là đõ có bánh tổ cố định. Các
đõ thường được đặt xung quanh nhà, dưới gốc cây, trên giá đỡ, trong rừng
hoặc trên các chãng của các cành cây to.
Sự phát triển của các kiểu thùng ong góp phần quan trọng đối với nghề
nuôi ong và có thể bắt đầu ở Hy Lạp, từ những mô tả của Georg Wheler
(1682) về kiểu đõ có dạng bình hoa lớn sử dụng ở Hy Lạp, có các thanh xà
đặt ở phía trên để ong xây bánh tổ, những thanh ngang không gắn chặt vào đõ
nên có thể lấy bánh tổ ra được, khoảng cách giữa các tâm của các thanh xà
bằng khoảng cách ở bánh tổ tự nhiên. Các tác giả đã nghiên cứu và nhận thấy
tầm quan trọng của khoảng không gian đều giữa các cầu ong và dựa trên
những hiểu biết đó, đã thiết kế ra những thùng ong mới (Eva Crane, 1990) [6].
Năm 1649, William Me ở Anh đã làm thùng ong bằng gỗ nhiều tầng
chồng lên nhau nhưng không có xà hay khung cầu. Năm 1675 Gedde cũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc -tnu.edu.vn
6
sáng tạo ra kiểu thùng tương tự nhưng mỗi tầng có khung cầu để ong gắn
bánh tổ. F. Huber (1792) tạo ra kiểu đõ dạng “quyển sách”. F.I. Prokopovich
(1806), J. Dziezion (1848) tạo ra các kiểu đõ có khung cầu cố định gắn vào
lượng mật là 123 - 165 ngàn tấn, năng suất mật bình quân 11kg/đàn.
Nước Mỹ có 4,3 triệu đàn ong thuộc loài A. mellifera, năng suất năm
1984 đạt 17kg/đàn, tổng sản lượng 75.000 tấn.
Canada có gần 700.000 đàn ong thuộc loài A. mellifera, sản lượng mật
đạt 43.000 tấn, năng suất bình quân cao nhất trên thế giới 63kg/đàn.
Ở châu Đại Dương Australia có nghề nuôi ong A. mellifera phát triển
với hơn 500.000 đàn ong đạt năng suất 46,5kg/đàn.
Châu Phi có các chủng ong đều thuộc loài ong A. mellifera. Bằng chứng
sớm nhất về nghề nuô i ong của nhân loại được phát hiện ở đây 4.500 năm
trước. Etopia có tới 2,52 triệu đàn, năng suất mật 8,3kg/đàn. Kenia có 2,1
triệu đàn, năng suất mật 5,7kg/đàn.
Hiện nay, loài ong A. mellifera được du nhập vào rất nhiều vùng khác
nhau và được những người nuôi ong trên khắp thế giới sử dụng.
Loài ong A. mellifera châu Âu có ưu thế hơn các loài ong nhiệt đới vì
chúng sản xuất mật tốt hơn, hiền lành dễ chăm sóc quản lý, có sức sinh sản
cao, thế đàn lớn, không phản ứng bốc bay với vụ thiếu thức ăn, có màu vàng
được nhiều người ưa chuộng. Người ta tính rằng nuôi giống ong châu Âu phải
chi phí nhiều hơn giống ong châu Á, tuy nhiên nó lại cho hiệu quả kinh tế cao
hơn. Chính vì vậy từ châu Âu chúng được du nhập vào nhiều châu lục khác.
8
Eva Crane (1990) [6] đã mô tả quá trình nhập ong A. mellifera châu Âu
vào vùng nhiệt đới châu Á như sau:
Ở Trung Quốc ong A. mellifera được nhập lần đầu vào năm 1913. Bảy
mươi năm nay ong Ý đã thích nghi và được sử dụng c hính để sản xuất mật
hàng hoá ở khu vực Á nhiệt đới. Việc nhập ong A. mellifera là một cuộc cách
mạng trong nghề nuô i ong ở Trung Quốc, làm cho Trung Quốc trở thành nước
có nghề nuôi ong đứng thứ hai và là nước xuất khẩu nhiều mật nhất thế giới
đáng kể. Việc áp dụng những tiến bộ khoa học đã làm cho năng suất mật
trung bình 15kg/đàn/năm (Phùng Hữu Chính, 1996; Quách Đại Cương,
Nguyễn Huy Du, 1963) [1], [4].
Từ những năm 1960 - 1962 chủng ong Apis mellifera ligustica (ong Ý)
được một số người Hồng Kông đưa vào miền Nam Việt Nam một số đàn
nhưng phát triển kém, phải tiếp tục nhập thêm nhiều lần từ Hồng Kông, Đài
Loan, Úc,…
Trong khi ong Ý (Apis mellifera ligustica) ở một số nước có sức đẻ
trứng 1500 - 2000 trứng/ngày đêm thì ong chúa Ý Việt Nam chỉ đạt trung
bình năm là 846 trứng/ngày đêm, gần bằng ong Ý ở Thái Lan (963 trứng/ngày
đêm) (Nguyễn Ngọc Vững, 2006) [21].
Năm 1977, công ty ong cấp I thuộc Bộ Nông nghiệp đưa 50 đàn ong Ý
ra miền Bắc và tiếp đó năm 1978 trại nghiên cứu o ng Đốc Tín cũng đưa 50
đàn ong Ý ra miền Bắc nuô i thí nghiệm nhưng không phát triển được, đến
năm 1979 bị chết hoàn toàn. Từ năm 1980 - 1985, một số đơn vị sản xuất
cũng đưa ong Ý ra Bắc nhưng không duy trì được quanh năm, ký sinh phát
triển mạnh, đàn ong bị sa sút phải đưa trở lại miền Nam để phục hồi.
Từ sau năm 1985, các đơn vị nuô i ong đã áp dụng các phương pháp
chọn lọc, biện pháp phòng trị ký sinh có hiệu quả nên cho đến nay ong Ý đã
được nuôi quanh năm ở nhiều tỉnh miền Bắc và cho hiệu quả kinh tế cao.
10
Hiện nay, Việt Nam đã hình thành những vùng nuô i ong rõ rệt. Miền
Bắc có nghề nuô i ong nội A. cerana phát triển, thích hợp với điều kiện nguồn
hoa phân tán, miền Nam phù hợp với nuô i ong Ý A. mellifera với quy mô lớn
do có điều kiện thuận lợi là cây nguồn mật tập trung (Nguyễn Ngọc Vững,
2006) [21], hàng năm nước ta đã cung cấp sản lượng mật lớn cho người tiêu
dùng: Năm 2002 sản lượng mật đạt 14.000 tấn, xuất khẩu mật ong đạt 12.000
1.2.1.2. Hình thái và phân loại ong mật
Đầu những năm 1900, từ việc tìm kiếm giống ong mật có vòi hút dài để
thụ phấn cho cỏ 3 lá đỏ Trifolium pratense L (Loại cỏ quan trọng cho chăn nuôi
bò sữa) mà người Nga đã đề xuất ra phương pháp nghiên cứu hình thái của ong
mật. Koshevnikov đã lần đầu tiên tiến hành đo đếm kích thước , hình thái ong
mật vào năm 1900, tiếp đến là Martynov (1901), Kulagin(1906). Vào thời kỳ đó,
trở ngại lớn nhất trong nghiên cứu hình thái về mặt thống kê đó là số mẫu đo
đếm. Năm 1916, Chochlov đã sử dụng số lượng mẫu ong đảm bảo cho phân tích
thống kê về hình thái. Sau đó Michailov (1924, 1926) và Alpatov (1925, 1929)
đã đưa thêm các yếu tố môi trường vào xem xét cùng với hình thái. Vào năm
1964 - 1965, Dupraw là người đầu tiên giới thiệu phương pháp phân tích hình
thái đa biến. Số lượng biến mà ông sử dụng là 15 biến (chỉ tiêu) của 373 cá thể
ong thợ từ châu Âu, châu Phi và châu Á (Hepburn H.R and Radloff S.E., 1998)
(trích từ tài liệu của Phạm Hồng Thái, 2008) [15].
Sau này Ruttner F. (1988) [24] đưa ra số lượng chỉ tiêu “chuẩn” cho
phân tích hình thái là 38 chỉ tiêu (theo tiêu chuẩn quốc tế).
Bằng phương pháp phân tích đa biến đó các nhà khoa học ngành ong đã
xác định được các dạng sinh thái khác nhau của một loài ong mật.
Dựa trên đặc điểm hình thái, phân bố địa lý loài ong nội được chia
thành 4 phân loài: A. cerana indica (Fabricius 1798), A. cerana cerana
(Fabricius 1793), A. cerana himalaya (Maa 1944) và A. cerana japonica
(Radoszkowski 1877) (Ruttner F., 1988) [24]. Còn Heburn H.R.et al (2001)
12
chia ong nội thành 33 phân loài, trong đó có 9 phân loài có tên và 24 phân
loài chưa được đặt tên: A. cerana cerana (Fabricius 1793), A. cerana indica
(Fabricius 1798), A. cerana japonica (Radoszkowski 1877), A. cerana javana
(Enderlein 1906), A. cerana himalaya (Maa 1944), A. cerana skorikovi (Maa
Văn Niệm (1980) [14] và Nguyễn Văn Niệm (1991) [10]. Các tác giả trên đã
kết luận rằng ong mật Apis cerana Fabricius ở miền Bắc và miền Trung có
kích thước cơ thể lớn hơn ở miền Nam.
Một số nhà khoa học ngành ong ở trong nước đã mặc nhiên công nhận
có hai phân loài ong nội ở Việt Nam: Apis cerana cerana (miền Bắc) và Apis
cerana indica (miền Nam).
1.2.3. Đặc điểm hình thái, cấu tạo cơ thể ong nội
1.2.3.1. Hình thái cơ thể
Theo các tác giả Lê Đình Thái, Nguyễn Văn Niệm (1980) [14]; Nguyễn
Văn Niệm (1991) [10] thì cơ thể ong mật gồm 3 phần nối với nhau bởi các
khớp động là phần đầu, ngực, bụng. Cơ thể ong được bao bọc bằng lớp vỏ
kitin, chính lớp vỏ kitin là bộ xương ngoài, là chỗ dựa cho các cơ quan bên
trong và bảo vệ cơ thể ong tránh những tác động bất lợi từ bên ngo ài.
Phần đầu ong:
Đầu ong có cấu tạo hình hộp, trên đầu có hai mắt kép, số mắt kép ở ong
đực là 6.000 mắt nhỏ ghép lại còn ở ong chúa và ở ong thợ chỉ có 4.000. Đỉnh
đầu có 3 mắt đơn phân bố theo dạng hình tam giác.
Ở phần trước đầu ong có một đôi râu, râu ong chia làm nhiều đốt: Râu
ong đực chia làm 13 đốt, ong chúa và ong thợ là 11 đốt. Râu là cơ quan cảm
giác rất nhạy bén.
Miệng và vò i ong có đặc điểm (với chức năng cắn, nghiền, hút) khác
với nhiều loại côn trùng khác, ong dùng hàm trên để cắn các vật cứng khi mở
rộng cửa tổ, cắn nắp lỗ tổ chứa mật, vít nắp, nghiền phấn hoa. Vòi hút của ong
đặc trưng cho từng giống ong dùng để hút mật hoa, nước siro. Mỗi giống ong
khác nhau có chiều dài vò i hút khác nhau.
14
Phần ngực ong: