nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong chúa apis cerana nuôi tại thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––
––––––––––
NGUYỄN THỊ THẮM
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
SINH SẢN CỦA ONG CHÚA APIS CERANA
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Nguyễn Duy Hoan

THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu
và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chƣa hề đƣợc sử dụng
để bảo vệ ở một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.

TÁC GIẢ
học và thầy giáo hướng dẫn tôi đã hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, các thầy cô trong khoa Sau
Đại học, khoa Chăn nuôi - thú y, phòng Thí nghiệm trung tâm, Công ty
Ong Trung ương và các ban ngành có liên quan tại địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của
thầy giáo hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Duy Hoan.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của gia
đình, bạn bè đã tạo các điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành
bản luận văn này.

TÁC GIẢ Nguyễn Thị Thắm
ii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC

Nội dung Trang
TRANG PHỤ BÌA

1.3.1. Buồng trứng của ong chúa 16
1.3.2. Sự phát triển của trứng 17
1.3.3. Quá trình giao phối của ong chúa 17
1.3.4. Sự đẻ trứng của ong chúa 18
1.3.5. Giai đoạn phát dục từ trứng đến trƣởng thành 19
1.3.6. Pheromon của ong chúa 21
1.3.7. Nguồn gốc ra đời của ong chúa 22
1.3.8. Tạo chúa bằng phƣơng pháp di trùng 23
1.3.9. Sự hình thành các mũ chúa tự nhiên và các yếu tố thúc đẩy sự
hình thành các mũ tự nhiên 24
1.3.9.1. Sự hình thành các mũ chúa tự nhiên 24
1.3.9.2. Các yếu tố thúc đẩy quá trình hình thành mũ chúa 26
1.3.10. Mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học với năng suất, chất
lƣợng mật ong 28
1.4. Cơ sở khoa học của chọn giống ong mật 30
1.4.1. Ong đực đơn bội, ong đực lƣỡng bội và vấn đề cận huyết
của đàn ong 30
1.4.2. Cơ sở di truyền 32
1.4.3. Kiểm soát giao phối và ứng dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo 32
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 35
2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 35
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 35
iv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn 2.1.3. Thời gian nghiên cứu 35
2.2. Nội dung nghiên cứu 35


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

A. cerana : Apis cerana
A. mellifera: Apis mellifera
SĐT : Sức đẻ trứng
CNĐVQH : Chăn nuôi Động vật Quý hiếm
ĐHNL : Đại học Nông Lâm



vii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tên biểu đồ Trang

Biểu đồ 3.1: Mối quan hệ giữa quy mô đàn và tỷ lệ số đàn xây mũ chúa 49
Biểu đồ 3.2: Mối quan hệ giữa quy mô đàn và số lƣợng mũ chúa đƣợc xây . 49
Biểu đồ 3.3: Khối lƣợng của ong chúa tự nhiên và ong chúa nhân tạo ở vụ
Xuân - Hè và Thu - Đông 53
Biểu đồ 3.4: Sức đẻ trứng của ong chúa qua các tuần khảo sát 61
Hình 3.4. Thao tác cân ong chúa 54
Hình 3.5. Sức đẻ trứng của ong chúa thí nghiệm 61
Hình 1. Lồng nhốt ong chúa 75
Hình 2. Các mũ chúa thu thập 75
Hình 3. Ngâm ong chúa trong dung dịch hoá chất 75
Hình 4. Cây nguồn mật 75
Hình 5. Di trùng ong 76
ix

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nhiệt đới có vĩ tuyến nằm trong khoảng 23 độ 23
phút Bắc (cực Bắc) và 8 độ 34 phút Bắc (cực Nam) nên thảm thực vật rất
phong phú và đa dạng, trăm hoa đua nở là tiền đề để phát triển nghề nuôi ong.
Chính vì vậy mà nghề nuôi ong đã có từ rất lâu đời ở nước ta.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nước ta đã và đang hình thành
nên các vùng chuyên canh về cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, cây nông
nghiệp và cây ăn quả, các phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống
đồi núi trọc, chương trình cây ăn quả V.A.C đang phát triển mạnh, là nguồn
thức ăn mới tạo điều kiện cho nghề nuôi ong ngày càng phát triển.
Ong nội Apis cerana là loài ong mật bản địa có ngòi đốt ở Việt Nam.
Có thể quản lý, thuần hoá và đem lại giá trị kinh tế cao từ các sản phẩm của
chúng như: Mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong và keo ong. Đây là
những sản phẩm sinh học độc đáo, có giá trị dinh dưỡng rất cao dùng để bồi
dưỡng sức khoẻ cho con người, bài thuốc y học cổ truyền có giá trị chữa bệnh

sinh vật học của ong nội Apis cerana từ lâu đã thu hút được sự chú ý của
nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Trong quá trình
nghiên cứu nhiều vấn đề lý thú về mặt sinh học của loài ong này đã dần dần
được hé mở làm căn cứ cho việc từng bước hoàn thiện quy trình kỹ thuật chăn
nuôi góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của nghề
nuôi ong. Tuy đã được nghiên cứu song còn rất nhiều vấn đề, đặc biệt là các
tập tính sinh học của từng cấp ong trong đàn ong vẫn còn là những câu hỏi
còn bỏ ngỏ đối với không chỉ người nuôi ong mà cả với các nhà khoa học của
Việt Nam và thế giới. Cũng như các loài vật nuôi khác, con cái đóng vai trò
rất quan trọng quyết định năng suất chăn nuôi, đối với nuôi ong con cái còn
có vai trò quan trọng hơn ở chỗ chỉ có một con cái duy nhất trong đàn có khả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3
năng sinh sản (ong chúa), chính vì vậy ong chúa quyết định đặc tính di truyền
không chỉ đối với ong thợ mà với cả ong đực trong đàn và như vậy, vô hình
trung ong chúa đóng vai trò di truyền của cả con đực và con cái. Để bổ sung
thêm những hiểu biết còn chưa được nghiên cứu đầy đủ về ong chúa, chúng
tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ong
chúa Apis cerana nuôi tại Thái Nguyên”.
2. Mục đích của đề tài
Xác định một cách đầy đủ và có hệ thống các thông tin về các đặc điểm
sinh học sinh sản của ong chúa Apis cerana làm căn cứ khoa học để xây dựng
các biện pháp khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
của nghề nuôi ong.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài hoàn thành sẽ bổ sung một cách đầy đủ và có hệ thống các thông

đõ bắt đầu ít nhất từ 4.500 năm nay.
Hiểu biết về lịch sử săn ong và nuôi ong của chúng ta đã tăng lên rất
nhiều trong mấy thập kỷ qua nhờ kết quả của các công trình nghiên cứu khảo
cổ, ngôn ngữ, qua những văn bản lưu trữ và nhờ giao thông thuận lợi cho
phép người ta đi đến khắp nơi trên trái đất. Ở miền Đông Tây Ban Nha người
ta đã phát hiện một bức vẽ trên vách đá từ thời kỳ đồ đá trước công nguyên
khoảng 6.000 năm. Người Ai Cập đã có nghề nuôi ong Apis mellifera từ
5.000 năm trước công nguyên. Vào khoảng năm 2.500 năm trước công
nguyên, ở Ai Cập cổ đại đã thực sự hình thành một nghề nuôi ong thịnh
vượng. Những tư liệu sớm nhất ghi chép về nuôi ong trong đõ được ra đời
khoảng 1.500 năm trước công nguyên: Đó là một phần của bộ luật Hittile ghi
trên những phiến đá sét, tìm thấy ở cao nguyên Anatoli không cây cối, cách
Ai Cập 100 km về phía Bắc. Ong Apis mellifera được nuôi trong các đõ bằng
đất nung, gỗ, đất bùn, sành,… Những đõ ong ra đời sớm nhất vào khoảng
những năm 2.450 trước công nguyên được thể hiện trong cảnh lấy mật ong,
một phần của bức hội họa tại một ngôi đền thờ mặt trời Ai Cập, gần vùng hạ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5
sông Nil. Có 4 bức tranh tương tự đã được phát hiện, mô tả mật ong được cất
trong những bình chứa, những trại ong cổ truyền có hàng trăm đõ ong với
cảnh lấy mật y như ngày nay còn phổ biến ở Ai Cập và kiểu đõ hình trụ đặt
nằm ngang cổ truyền ngày nay vẫn được sử dụng nhiều nơi trên thế giới: Ở
châu Phi, Nam Hy Lạp, các đảo vùng Địa Trung Hải, từ miền Nam Balkan
đến Tiểu Á, từ Nam Ấn Độ đến Kasmia, một phần Afghanistan, Nam Thái
Lan, Bali - Indonexia (Eva Crane, 1990) [6].
Lịch sử nuôi ong Apis cerana ở châu Á cũng lâu đời như lịch sử nuôi
ong Apis mellifera ở châu Âu, như ở Trung Quốc là hơn 3.000 năm, Ấn Độ

(trích từ tài liệu của Nguyễn Ngọc Vững, 2006) [21] đã sáng tạo ra kiểu thùng
có khung cầu di động nhờ phát hiện ra khoảng cách con ong. Với kiểu thùng
này rất thuận tiện cho việc nuôi ong, nhờ áp dụng nó mà nghề nuôi ong A.
mellifera được phát triển rất nhanh ở châu Âu và Bắc Mỹ, sau đó phát triển
tới các châu khác trên thế giới (Eva Crane, 1990) [6]. Kiểu thùng này cho
phép người nuôi ong kiểm tra tình hình đàn ong, từ đó tác động những biện
pháp kỹ thuật một cách dễ dàng, cho phép trao đổi giữa các đàn ong với nhau
và giữa người nuôi ong khác. Ngày nay, kiểu thùng này vẫn đang được áp
dụng phổ biến ở khắp nơi và được cải tiến tuỳ theo yêu cầu người sử dụng.
Hình 1.1: Kiểu thùng ong đƣợc dùng phổ biến
Năm 1863, Dadant đã xuất bản sách về những cải tiến và sáng kiến của
ông. Nhờ đó nhiều sáng kiến khác được nảy sinh ra từ nước Mỹ, trong đó
quan trọng nhất là sáng kiến làm những tấm sáp in hình lỗ tổ ong hay còn gọi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7
là tầng chân, theo đó là các khung cầu được căng dây thép có gắn tầng chân,
có khả năng chịu được sức văng khi quay mật ở thùng ly tâm (trích từ tài liệu
của Nguyễn Ngọc Vững, 2006) [21].
Eva Crane (1990) [6] đã tổng kết tình hình nuôi ong ở châu Âu và trên
thế giới như sau:
Ở châu Âu, tỷ lệ cây xanh cao hơn các lục địa khác, có truyền thống
nuôi ong lâu đời nên nghề nuôi ong ở châu Âu rất tập trung, có mật độ 3,2
đàn/km
2
. Có tổng số 13 - 15 triệu đàn ong đều là giống ong A. mellifera, sản
lượng mật là 123 - 165 ngàn tấn, năng suất mật bình quân 11kg/đàn.
Nước Mỹ có 4,3 triệu đàn ong thuộc loài A. mellifera, năng suất năm

Thái Lan đã nhập ong A. mellifera nuôi tại Chiềng Mai, nơi đây có cây
nhãn là cây nguồn mật chính và cho sản lượng cao.
Tại Miến Điện, vùng trồng cây Guizotia absyssinica, cây hướng dương,
ong A. mellifera đã được nhập với số lượng lớn để phù hợp với nguồn mật và
phấn từ hai loại cây trồng này.
1.1.2. Sơ lược lịch sử và tình hình nuôi ong ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghề nuôi ong đã được khai thác và nuôi từ lâu đời. Ngay
từ thế kỷ thứ VIII, thượng thư phụ trách về nông nghiệp Phạm Lê đã viết tài
liệu bằng chữ Hán về kỹ thuật nuôi ong (Phùng Hữu Chính, Vũ Văn Luyện,
1999) [3]. Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII đã có một số nhận xét về đặc điểm sinh
học của đàn ong. Trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm và cải tiến kỹ thuật,
nghề nuôi ong Việt Nam đã dần dần được cải tiến từ đơn giản đến hoàn thiện
như ngày nay.
Người Việt Nam đã có thói quen đi lấy mật, săn ong từ rất lâu dựa vào
kinh nghiệm qua nhiều đời được truyền lại, họ khai thác từ những loại ong
mật khác nhau như: Ong ruồi A. florea, ong nội A. cerana, ong khoái A.
dorsata, ong đá A. laboriosa. Giống ong A. cerana rất phổ biến ở tự nhiên, có
ở khắp đất nước, thường làm tổ ở nơi kín như trong hốc cây, hốc đá, trong các
hang, đôi khi cả trong các tổ mối. Dựa vào những kinh nghiệm thực tế và đặc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
điểm tự nhiên của ong nội, các kiểu nuôi ong dần được hình thành và không
ngừng được cải tiến từ kiểu đõ nằm ngang chuyển sang kiểu đõ đứng rồi đõ
đứng có thanh xà di động và cuối cùng là các kiểu thùng cải tiến có khung cầu
di động như ngày nay. Khi áp dụng nuôi ong trong thùng cải tiến có khung
cầu di động cho phép sử dụng thùng quay và dùng tầng chân nhân tạo gắn vào
khung cầu, làm nền để ong xây lên các bánh tổ đã làm năng suất mật tăng lên

dùng: Năm 2002 sản lượng mật đạt 14.000 tấn, xuất khẩu mật ong đạt 12.000
tấn. Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) năm 2009
cả nước sản xuất được khoảng 18,6 nghìn tấn mật ong, xuất khẩu được hơn 14
nghìn tấn, thu về khoảng 23 triệu USD. Hiện nay nước ta xuất khẩu 80 - 85%
tổng sản lượng mật ong, và 80% số này là vào thị trường Mỹ. Năm 2008 là
năm thành công nhất của nước ta từ trước đến nay trong việc xuất khẩu mật
ong vào thị trường Mỹ. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) năm 2008 nước
này nhập khẩu 19.387 tấn mật ong của Việt Nam, tăng 23% so với năm 2007.
Thị phần mật ong của Việt Nam tiêu thụ tại Mỹ chiếm khoảng 17% nhập
khẩu mật ong của Mỹ, trở thành nước xuất khẩu mật ong lớn nhất vào Mỹ
(Chu Khôi, 2010) [9].
1.2. Nghiên cứu hình thái, cấu tạo cơ thể ong nội trên thế giới và ở Việt
Nam
1.2.1. Nghiên cứu hình thái ong nội trên thế giới
1.2.1.1. Lịch sử hệ thống học và phân loại ong mật
Ong mật có ở khắp mọi nơi do giá trị kinh tế và tầm quan trọng của
chúng trong văn hoá của con người. Chúng xuất hiện ở hầu hết những vùng
mà con người sinh sống. Chúng đã gây sự chú ý rất sớm cho các nhà khoa học
phân loại. Một loài mới được mô tả lặp lại với những phỏng đoán thiếu chính
xác như năm 1758 Linné đặt tên cho tất cả các loài ong mật mà ông biết là
Apis mellifera, chỉ 3 năm sau chính ông lại đổi thành tên là Apis mellifica vì
mellifera có nghĩa là “lấy mật” còn mellifica có nghĩa là ong “làm mật”. Kể từ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
đó thế giới phải chấp nhận cả hai tên của ong mật. Đến đầu thế kỷ XX, một số
nhà khoa học đã xem xét lại và cải thiện cách đặt tên của ong mật trước đây
(Ruttner F., 1988) [24]. Từ những rắc rối trong hệ thống học các nhà khoa học

loài chưa được đặt tên: A. cerana cerana (Fabricius 1793), A. cerana indica
(Fabricius 1798), A. cerana japonica (Radoszkowski 1877), A. cerana javana
(Enderlein 1906), A. cerana himalaya (Maa 1944), A. cerana skorikovi (Maa
1944), A. cerana abaensis (Yun and Kuang 1982), A. cerana hainanensis
(Yun and Kuang 1982) và A. cerana philipina (Skorikovi 1929). Radloff
S.E.et al (2005), thu thập 58 đàn ong A. cerana vùng phía tây dãy Himalaya
với 27 chỉ tiêu hình thái được xử lí thống kê bằng phương pháp phân tích đa
biến đã xác định được khu vực này có 2 nhóm là: Hindu Kush - Kashmir và
Himachal Pradesh (trích từ tài liệu của Phạm Hồng Thái, 2008) [15].
Tóm lại: ong nội Apis cerana Fabricius 1793 là một trong 9 loài ong mật
có ngòi đốt của thế giới (Sheppard W.S and Smith D.R., 2000) và đến nay xác
định được có tới 33 phân loài trong đó có 9 phân loài đã được đặt tên (Hepburn
H.L.et al., 2001; Kuang B.Y.and Ken T., 1996; Peng Y.S.et al., 1989) (trích từ
tài liệu của Phạm Hồng Thái, 2008) [15].
1.2.1.3. Phân bố và vị trí phân loại của ong nội
Loài ong nội Apis cerana Fabricius 1793 có vùng phân bố tự nhiên từ
Viễn Đông (Nga) sang Pakistan qua Ấn Độ tới Đông Timor.
Loài ong nội này có vị trí trong hệ thống phân loại như sau:
- Ngành chân đốt (Arthropoda),
- Lớp côn trùng (Insecta),
- Bộ cánh màng (Hymenoptera),
- Họ ong mật (Apisdae),
- Tộc (Apini),
- Chi (giống) (Apis),
- Loài (Apis cerana)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
14
 Phần ngực ong:
Ngực ong gồm 3 đốt: Đốt ngực trước, đốt ngực giữa và đốt ngực sau.
Phần ngực của ong mang các cơ quan vận động là cánh và chân ong. Trong
phần ngực thì đốt ngực giữa giữ vai trò quan trọng nhất, các đốt ngực được
chia làm nửa lưng và nửa bụng. Nửa lưng có 2 đôi cánh: Đôi cánh trước lớn
hơn đôi cánh sau. Khi ong bay, cánh trước ghép lại với cánh sau thông qua hệ
thống móc cánh. Nửa bụng của phần ngực ong mật có 3 đôi chân gắn vào 3
đốt ngực tương ứng.
 Phần bụng ong:
Bụng ong mật có 6 đốt và nối với phần ngực qua đốt chuyển tiếp, mỗi
đốt gồm 2 nửa: Nửa lưng và nửa bụng các đốt bụng nối với nhau bằng màng
kitin mỏng, đàn hồi. Nhờ các màng mỏng này mà ong có thể thay đổi thể tích
bụng. Hai bên mỗi bên đốt bụng có lỗ thở, ở phần bụng có 4 đốt bụng cuối
cùng có các cơ quan tiết sáp, cuối bụng là ngòi đốt. Riêng ong đực không có
bộ phận ngòi đốt, ong chúa trưởng thành thì bộ phận ngòi đốt làm chức năng
như một máng đẻ trứng và là phương tiện chiến đấu với các ong chúa khác.
Giữa đốt bụng 5 và 6 của ong mật có tuyến Nasônôp (do nhà bác học người
Nga N.V Nasônôp phát hiện ra) tiết ra vị hương đặc trưng cho mỗi đàn ong, ở
ong chúa tuyến Nasônôp phát triển và tiết ra mùi đặc trưng của ong chúa gọi
là “chất chúa”. “Chất chúa” điều khiển đàn ong hoạt động bình thường (Ngô
Đắc Thắng, 2000) [17].
1.2.3.2. Các cơ quan bên trong cơ thể ong
 Cơ quan tiêu hoá: Ong mật thuộc vào các côn trùng dinh dưỡng
chuyên tính, cơ quan tiêu hoá của ong còn là nơi dự trữ tạm thời mật hoa khi
thu nhận và vận chuyển về tổ, đồng thời thích hợp với việc dự trữ dinh dưỡng
khi qua đông ở xứ lạnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status