Chứng cứ trong tố tụng theo pháp luật việt nam - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN QUANG ANH

CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN QUANG ANH

CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:TS. NGUYỄN CÔNG BÌNH

Hà Nội – 2015


HĐTPTANDTC

: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

LSĐBSBLTTDS

: Luật Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự

Nghị quyết số

: Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng

04/2012/NQ-HĐTP

12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về

“Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật Tố tụng
dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
PLTTGQCVADS

: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT

: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

PLTTGQCTCLĐ



Khái niệm chứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ và

14

mối liên hệ giữa chứng cứ với chứng minh trong tố tụng
dân sự
1.1.1.

Khái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự

14

1.1.2 .

Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng dân sự

20

1.1.3.

Mối liên hệ giữa chứng cứ với chứng minh trong tố tụng

26

dân sự
1.2.

Ý nghĩa của chứng cứ và cơ sở pháp luật tố tụng dân sự



Phân loại chứng cứ trong tố tụng dân sự

35

1.3.3.

Xác định chứng cứ, bảo quản, bảo vệ và sử dụng chứng cứ

41

trong tố tụng dân sự
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG

45

DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ CHỨNG CỨ

2.1.

Sơ lƣợc sự hình thành và phát triểncác quy định của pháp

45

luâ ̣t tố tụng dân sự Viêṭ Nam về chứng cứ
2.1.1.

Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

45


Các quy định về định nghĩa chứng cứ và nguồn chứng cứ

58

2.2.2.

Các quy định về xác định chứng cứ trong tố tụng dân sự

62

2.2.3.

Các quy định về bảo quản, bảo vệ và sử dụng chứng cứ

73

trong tố tụng dân sự
Chƣơng 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA

77

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ CHỨNG CỨ
VÀ KIẾN NGHỊ

3.1.

Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng

77

3.2.2.

Kiến nghị về thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng

104

dân sự Việt Nam về chứng cứ
KẾT LUẬN

107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

109

6


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ở xã hội ta mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm kỷ cương xã hội, trong những năm
qua Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện công cuộc cải cách hành
chính, cải cách tư pháp làm cho hệ thống pháp luậtnước ta ngày một hoàn
thiện và các cơ quan bảo vệ pháp luật hoạt động có hiệu quả hơn trong việc
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của người dân.
Trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp dân sự, các quy định về
trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự cũng không ngừng được hoàn
thiện. Ngày 15/6/2004, Quốc hội khóa XI thông qua Bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đánh

sửa đổi. Từ đó, các vấn đề về chứng minh và chứng cứ trong TTDS được
quy định rõ ràng, đầy đủ và khoa học hơn. Theo các quy định của
BLTTDS, LSĐBSBLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành thì các
phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra,
xem xét tại phiên toà, kết quả việc hỏi tại phiên toà và phải xem xét đầy đủ ý
kiến của những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên.Tuy vậy, thực tiễn giải
quyết các vụ, việc dân sự những năm gần đây cũng cho thấy tỷ lệ án bị hủy,
bị sửa và qua nhiều cấp xét xử vẫn còn khá cao. Nguyên nhân của tình
trạng này một phần cơ bản xuất phát từ việc chưa có sự nhận thức thống
nhất, đúng đắn về vấn đề chứng cứ, chứng minh như chưa xác định đúng
chứng cứ, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể chứng minh v.v…
Những thiếu sót này được đề cập đến khá nhiều trong hầu hết các báo cáo
tổng kết công tác hằng năm của ngành Tòa án. Thực trạng này là một vấn
đề gây nhiều trăn trở không chỉ đối với các nhà hoạt động thực tiễn mà cả
đối với nhưng nhà lập pháp và những nhà nghiên cứu nhằm tìm ra những
giải pháp khắc phục để hoạt động xét xử của Tòa án đáp ứng yêu cầu của
đời sống kinh tế, xã hội và cải cách tư pháp ở Việt Nam.Với những lý do
đó, học viên đã chọn đề tài: “Chứng cứ trong tố tụng theo pháp luật Việt
Nam”nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ luật học.
8


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chứng cứ là một vấn đề cớ bản của TTDS. Từ trước đến nay đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này ở những khía cạnh
khác nhau. Về đề tài khoa học, có “Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự”, đề tài khoa học cấp Bộ của
Toà án nhân dân tối cao, năm 1996; “Những quan điểm cơ bản về BLTTDS
Việt Nam”, đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nhà nước và pháp luật, năm
2002; “Thu thập và đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân

bản năm 2011; “Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam” của Khoa Luật
trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
xuất bản năm 2014; sách tham khảo “Tiến tới xây dựng Bộ luật Tố tụng
dân sự của thời kỳ đổi mới”của tác giả Phan Hữu Thư do Nhà xuất bản Tư
pháp xuất bản năm 2004; sách tham khảo “Luật tố tụng dân sự Việt Nam
nghiên cứu và so sánh” của tác giả Tống Công Cường do Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007; sách tham khảo
“Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi”, chủ biên TS Nguyễn
Văn Cường, TS Trần Anh Tuấn và ThS Đặng Thanh Nga do Nhà xuất Lao
động – Xã hội xuất bản năm 2012 v.v…Về các bài viết trên các tạp chí khoa
học pháp lý, có bài “Đánh giá toàn bộ chứng cứ mới tìm ra bản chất sự
việc” của tác giả Duy Kiên, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 1/2000; bài
“Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” củatác giả Hoàng Ngọc
Thỉnh, Tạp chí Luật học, số đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự,
tháng 4/2004); bài “Chứng cứ và chứng minh - Sự thay đổi nhận thức trong
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Tưởng Duy Lượng, Đặc san
Nghề luật, số 10 tháng 01/2005; bài “Một số vướng mắc trong quá trình
thực hiện Bộ luật Tố tụng dân sự - Những kiến nghị hoàn thiện” của tác giả
Nguyễn Văn Cường đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 2/2010; “Một số
bất cập và vướng mắc của Bộ luật Tố tụng dân sự chưa được hướng dân thi
hành” của tác giả Trần Văn Trung đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số
4/2011; bài “Bàn về Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự về định giá tài sản”
đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 20/2012 v.v... Ở những khía cạnh
khác nhau, những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến một số vấn
đề về chứng cứ trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
10


đó mới chỉ dừng lại ở những vấn đề chung và tiếp cận dưới góc độchứng
minh trong tố tụng dân sự là chủ yếu. Vì vậy, cho đến nay vẫn chưa có

cứ trong TTDS và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án Việt nam.
Nếu theo tên gọi, thì đề tài có nội dung nghiên cứu rất rộng, bao gồm
cả chứng cứ trong tố tụng dân sự, chứng cứ trong tố tụng hình sự và chứng
cứ trong tố tụng hành chính. Tuy vậy, trong khuôn khổ của đề tài thuộc
chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự và trong khuôn khổ của một
luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ
bản về chứng cứ trong TTDS như khái niệm chứng cứ, các thuộc tính của
chứng cứ, ý nghĩa của chứng cứ, cơ sở pháp luật quy định chứng cứ, nguồn
chứng cứ, phân loại chứng cứ, xác định chứng cứ, bảo quản, bảo vệ và sử
dụng chứng cứ trong TTDS.Đối với những vấn đề khác, kể cả những vấn
đề có liên quan chặt chẽ đến chứng cứ như cung cấp, thu thập và nghiên
cứu chứng cứ thuộc về chứng minh trong TTDS tác giả cũng không nghiên
cứu ở đây mà sẽ nghiên cứu sau ở đề tài khác khi có điều kiện.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận duy vật
của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
pháp luật, đường lối và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách
hành chính và cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở nước ta.
Ngoài ra, việc nghiên cứu còn sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu khoa học truyền thống và hiện đại như phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp quy nạp,
phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thăm dò thực tiễn v.v…để làm
sáng tỏ những vấn đề thuộc nội dung của đề tài cần nghiên cứu.
12


6. Điểm mới và ý nghĩa của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên, chuyên
sâu vàcó tính hệ thống vấn đề về chứng cứ trong TTDS, có những điểm


1.1.1. Khái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có nhiều tình tiết, sự kiện
khác khác nhau liên quan đến vụ việc dân sự đòi hỏi Tòa án phải nhận thức
và đánh giá. Ở mỗi tình tiết, sự kiện lại có những đặc tính khác nhau, có
những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các
giác quan nhưng cũng có những đặc tính không thể nhận biết ngay được
bằng các giác quan mà phải trải qua một quá trình tư duy logic phân
tích,tổng hợp, móc nối các tình tiết, sự kiện liên quan đến chúng v.v…
sau đó mới có thể đi đến kết luận cuối cùng về chúng.Quá trình xác định,
nhận thức các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự trong quá trình giải
quyết vụ việc dân sự trong khoa học pháp lý được gọi là chứng minh.
Nhờ quá trình chứng minh làm rõ các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ
việc dân sự mà Tòa án có thể nhận thức đúng vụ việc dân sự và giải
quyết đúng vụ việc dân sự. Để thực hiện được chứng minh trong TTDS
thì cần phải có chứng cứ. Vì vậy, khi giải quyết một vụ việc dân sự cụ thể
bên cạnh việc xem xét, xác định những vấn đề về chứng minh như đối
tượng chứng minh, chủ thể chứng minh, quyền và nghĩa vụ chứng minh
v.v…thì không thể không xem xét, xác định những vấn đề về chứng cứ.
Cơ sở hình thành hệ thống lý luận về chứng cứ là lý luận nhận
thức.Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì quá trình nhận thức
đi từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng. Trong mối liên hệ phổ biến
giữa các sự kiện, hiện tượng, thì các sự kiện, hiện tượng đều có quan hệ
qua lại, ảnh hưởng đối với nhau. Mỗi sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thế
14


giới khách quan đều kéo theo sự thay đổi của thế giới xung quanh, không
một sự kiện nào xảy ra lại không để lại dấu vết. Những sự kiện mà trong đó
có sự tham gia của con người và những sự kiện con người không trực tiếp



có thể chứng minh; những phương tiện nào có thể dùng để chứng minh và
ai sẽ xuất trình chứng cứ và phải chịu trách nhiệm chứng minh. Vào nửa
đầu Thế kỷ XIX, trình tự tố tụng hỗn hợp kết hợp giữa tranh tụng và xét hỏi
ra đời và cùng với nó lý luận chứng cứ Thẩm phán tự do đánh giá chứng cứ
căn cứ vào niềm tin nội tâm của mình đã ra đời. Theo đó, Thẩm phán tự do
đánh giá chứng cứ căn cứ vào niềm tin nội tâm của mình chỉ rõ trong xét
xử của mình Thẩm phán có quyền tự do đánh giá chứng cứ theo sự chỉ dẫn
của lương tâm, ý thức pháp luật và niềm tin của mình. Ý thức pháp luật bảo
đảm cho Thẩm phán xác định được phương hướng tố tụng, đánh giá chứng
cứ được sáng suốt và chính xác nhất là trong những tình huống phức tạp.
Niềm tin nội tâm của Thẩm phán được hình thành trên cơ sở Thẩm phán
xem xét các tình tiết, sự kiện của vụ việc với lương tâm của mình bảo đảm
cho Thẩm phán xét xử độc lập và phù hợp với thực tế khách quan của vụ
việc.[53]
Trong khoa học pháp lí, có nhiều quan niệm về chứng cứ. Theo
Bentham thì “chứng cứ là một sự kiện giả định là có thật, sự kiện ấy được
coi là sự kiện đương nhiên làm lý do để tin tưởng có hay không có một sự
kiện khác.”[53]Theo đó, chứng cứ được xác định phụ thuộc vào ý chí chủ
quan của người sử dụng, không phụ thuộc vào tính khách quan của sự kiện,
tình tiết được coi là chứng cứ. Theo Vơlađiamiaôp thì “chứng cứ là tất cả
những gì trong thế giới vật chất, thế giới tinh thần mà con người có thể lĩnh
hội được.[53]Quan niệm này đã mở rộng nội hàm khái niệm chứng cứ
nhưng không làm rõ được bản chất của chúng làm cho việc xác định khó
khăn và tuỳ tiện trong sử dụng.Trong Black’s Law dictionnarythì định
nghĩa: “Chứng cứ là cái để chứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của
một sự kiện liên quan đến vụ án.”[89, tr. 212]Quan niệm này phần nào đã
chỉ rõ được bản chất và mục đích của việc sử dụng chứng cứ.Trong Từ điển
pháp luật của P.H.Collin thì định nghĩa: “Chứng cứ là những gì chứa đựng

pháp xuất bản năm 2012 định nghĩa: “Chứng cứ là cái có thật, theo một
trình tự do luật định toà án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân
sự.”[77, tr.171] Định nghĩa này cô đọng nhưng bao quát được các vấn đề
liên quan đến chứng cứ và chỉ rõ mục đích của việc sử dụng chứng cứ.
Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của TS Nguyễn Công Bình chủ
biên do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2011 thì định nghĩa: “Chứng
17


cứ là những thông tin, sự kiện, tình tiết có thật, liên quan đến vụ việc dân
sự theo một trình tự do luật định Toà án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ
việc dân sự.”[2, tr.101] Định nghĩa này cô đọng nhưng bao quát được các
vấn đề liên quan đến chứng cứ, chỉ rõ mục đích của việc sử dụng chứng cứ
và những cái có thể trở thành chứng cứ. Trong cuốn Luật tố tụng dân sự
Việt Nam nghiên cứu và so sánh thì ThS.Tống Công Cường lại định nghĩa:
“Chứng cứ trong tố tụng dân sự là những gì chứa đựng sự thật nhằm
chứng minh một luận điểm nào đó của đương sự trong vụ việc dân
sự.”[6,tr.251] Định nghĩa này không thể hiện đầy đủ và rõ ràng mục đích
sử dụng chứng cứ và các thuộc tính của chứng cứ.
Chứng cứ có vai trò quan trọng làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự nên được coi là “linh hồn” của tố tụng. Vì vậy, trong pháp luật
tố tụng dân sự của các nước, ở cả hai hệ thống pháp luật là hệ thống pháp
luật Án lệ (Common Law) và hệ thống pháp luật dân sự (Civil Law) đều
trực tiếp hoặc gián tiếp quy định định nghĩa về chứng cứ. Theo quy định tại
Điều 401 Luật chứng cứ liên bang Mỹ, thì chứng cứ được định nghĩa là
những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà
bản thân sự hàm chứa đó có ảnh hưởng tới việc xác định được một hành
động hơn hoặc kém hơn.Theo Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự của Nhật
Bản thì chứng cứ phải xác định những tình tiết cần chứng minh.Theo Điều
55 của Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga thì chứng cứ trong vụ án dân

dân sự của Liên bang Nga. Tuy vậy, theo các nhà khoa học định nghĩa này
vẫn còn một số hạn chế là chưa làm rõ được tất cả các vấn đề về bản chất
của chứng cứ như tính khách quan của chứng cứ, các chủ thể tham gia thu
thập, đánh giá chứng cứ v.v…
Qua nghiên cứ cho thấy, chứng cứ phải bao gồm những thông tin, sự
kiện, tình tiết có thật và liên quan đến vụ việc dân sự do Tòa án giải quyết.
Những thông tin, sự kiện, tình tiết này được đương sự hay người khác cung
cấp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập. Mục đích của việc sử dụng những
thông tin, sự kiện, tình tiết này là để xác định yêu cầu của đương sự và
những người khác đưa ra trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có cơ sở
không. Yêu cầu của quá trình cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá và
19


sử dụng thông tin, sự kiện, tình tiết phải tuân theo các quy định của
BLTTDS. Từ những vấn đề đã trình bày, phân tích ở trên có thể rút ra kết
luận: “Chứng cứ là những thông tin, sự kiện, tình tiết có thật, theo một
trình tự do pháp luật quy định các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức
khác thu thập giao nộp cho Tòa ánhoặc do Tòa án thu thậpdùng làm căn
cứ để xác định cơ sở yêu cầu hay sự phản đối của đương sự và những
người khác là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết
khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.”
1.1.2. Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng dân sự
Thuộc tính là đặc tính vốn có của sự vật, hiện tượng.[40, tr.101]Nhờ
thuộc tính của sự vật, hiện tượng mà người ta nhận biết được sự vật, hiện
tượng. Với tư cách là cơ sở để xác định làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự, chững cứ phải có đầy các thuộc tính sau đây:
Thứ nhất, chứng cứ có tính khách quan.
Nhận thức là quá trình phản ánh sự kiện, hiện tượng từ trực quan
sinh động đến tư duy trìu tượng.“Theo lý luận về nhận thức thì người ta chỉ

sự.Khi sự kiện, tình tiết đó đã ra đời và được coi là chứng cứ của vụ việc
thì nó lại tồn tại khách quan với ý thức của con người, kể cả người tạo ra
nó. Vì vậy, tất cả những gì mà ai đó do các động cơ khác nhau cố tình tạo
ra để làm thay đổi hiện tượng, bản chất của sự việc đã diễn ra đều bị coi là
sự kiện giả, tình tiết giả mạo và đều không được coi là chứng cứ.”[2, tr.99]
Trong giải quyết một vụ việc dân sự cụ thể, những tình tiết, sự kiện
được sử dụng với tư cách là chứng cứ có thể được thu thập từ nhiều nguồn
khác nhau vì vậy để xác định chính xác được chúng cần nghiên cứu, đánh
giá một cách toàn diện các mặt, các mối liên hệ giữa chúng với nhau và
giữa chúng với vụ việc dân sự được giải quyết. Trước hết, Tòa án cần phải
xem xét, xác định sự kiện, tình tiết được coi là chứng cứ có nguồn gốc hình
thành, tồn tại, phát triển như thế nào, do ai cung cấp. Đối với các sự kiện,
tình tiết mà các bên đương sự đưa ra để chứng minh cho quyền lợi của
mình thì thường là những sự kiện, tình tiết có lợi cho họ. Trong nhiều
trường hợp họ còn cung cấp cho Tòa án cả những sự kiện, tình tiết không
21


liên quan đến vụ việc dân sự hoặc không có thật. Vì vậy, để bảo đảm tính
khách quan của các chứng cứ được sử dụng sau nữa Tòa án phải xem xét
kỹ các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của tình tiết, sự kiện họ đưa ra.
Ngoài ra, việc xem xét, đánh giá chúng của Tòa án cũng phải thực sự khách
quan tức là không được có định kiến trước về chúng, xem xét, đánh giá
chúng như chúng vốn có. Căn cứ vào tính hợp pháp của chứng cứ, trong
quá trình giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chọn lọc, loại bỏ những thông
tin, tình tiết, sự kiện không được hình thành, tồn tại khách quan, không có ý
nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc dân sự, bảo đảm việc giải quyết vụ
việc dân sự được đúng đắn.
Thứ hai, chứng cứ có tính liên quan.
Chứng cứ là những căn cứ để xác định cơ sở yêu cầu hay phản yêu

Tòa án vẫn có thể căn cứ vào nó để xác định trong thực tế có hay không
những tình tiết, sự kiện làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự hay những
người khác đề ra trong quá trình TTDS. Ví dụ: Trong vụ kiện đòi bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tai nạn về giao thông bị đơn chống lại
nguyên đơn và nại ra rằng trong ngày xảy ra tai nạn bị đơn ở địa điểm khác.
Để khẳng định điều này, bị đơn đã xuất trình hóa đơn thanh toán tiền nghỉ
khách sạn, giấy đi công tác, yêu cầu hỏi thêm một số người làm chứng. Sự
kiện bị đơn ở địa điểm khác không ở địa điểm xảy ra tai nạn không phải là
sự kiện pháp lý mà quan hệ giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó nhưng
nếu bị đơn chứng minh được bằng các chứng cứ kể trên thì cho phép kết
luận không có sự kiện pháp lý bị đơn gây tai nạn cho nguyên đơn như
nguyên đơn nêu. Tuy nhiên, việc xem xét, đánh giá và sử dụng chúng khá
phức tạp. Khi xem xét, dánh giá và sử dụng chúng bao giờ Tòa án cũng
phải kết hợp cùng với những chứng cứ khác mới đảm được sự chính xác.
“Trong một vụ việc dân sự, có thể có nhiều thông tin, sự kiện, tình tiết liên
quan đến vụ việc dân sự.Các thông tin đó có thể thống nhất hoặc mâu
thuẫn nhau. Trong trường hợp này, việc sử dụng thông tin, sự kiện, tình tiết
nào để giải quyết vụ việc dân sự phụ thuộc vào việc đánh giá chứng cứ của
Tòa án. Do đó, chỉ những thông tin, sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ việc
dân sự được Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự mới
23


được coi là chứng cứ.”[2, tr.101]
Thứ ba, chứng cứ có tính hợp pháp.
Quá trình xem xét, đánh giá và sử dụng chứng cứ nói riêng và quá
trình giải quyết vụ việc dân sự nói chung đều rất phức tạp. Để giải quyết
đúng vụ việc dân sự pháp luật phải quy định rất chặt chẽ, cụ thể quá trình
giải quyết vụ việc dân sự, trong đó có quá trình xem xét, đánh giá và sử
dụng chứng cứ.Các thông tin, tình tiết, sự kiện là chứng cứ được sử dụng

xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm,
thu hình đó cho phép Tòa án xác định được tính khách quan của các tài liệu
nghe được, nhìn được. Nếu không xuất trình được văn bản xác nhận xuất
xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu
hình đó thì Tòa án không thể xác định được tính khách quan của các tài liệu
nghe được, nhìn được. Hoặc theo quy định tại Khoản 3 Điều 68 BLTTDS,
thì người giám định phải thay đổi hoặc từ chối tham gia tố tụng nếu đồng
thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự.Việc thay
đổi hoặc từ chối tham gia tố tụng của người giám định trong những trường
hợp này nhằm bảo đảm cho việc giám định được khách quan, kết luận giám
định được chính xác. Vì vậy, nếu người giám định không thay đổi hoặc từ
chối tham gia tố tụng trong trường hợp đồng thời là đương sự, người đại
diện, người thân thích của đương sự thì sẽ dẫn đến hậu quả việc giải quyết
vụ việc dân sự của Tòa án có thể không đúng đắn. “Tính hợp pháp là một
đặc tính mang tính hình thức, phản ánh các đặc tính mang tính nội dung
của chứng cứ. Trong quá trình tố tụng, chứng cứ phải được thu thập theo
đúng các trình tự, thủ tục do pháp luật về tố tụng quy định. Việc quy định
trình tự, thủ tục này để đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ là đúng đắn
và cần thiết.”[17, tr.101]
Như vậy, chỉ những thông tin, tình tiết, sự kiện có đủ ba thuộc tính
nêu trên mới là chứng cứ. Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Học
viện Tư pháp thì “ba thuộc tính của chứng cứ: tính khách quan, tính liên
quan và tính hợp pháp là một thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng,
tác động qua lại lẫn nhau. Chứng cứ phải là sự thống nhất của ba thuộc
tính đó, trong đó tính khách quan (thuộc tính hình thức) là tiền đề của tính
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status