Thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai theo pháp luật Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH THÚY
THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH TRONG TƢƠNG
LAI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Thị Thanh Thủy

3
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 7
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH
THÀNH TRONG TƢƠNG LAI 12
1.1. Tổng quan về nhà ở hình thành trong tƣơng lai 12
1.1.1. Khái niệm 12
1.1.1.1. Khái niệm tài sản hình thành trong tương lai 12
1.1.1.2. Khái niệm nhà ở hình thành trong tương lai 16
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của nhà ở hình thành trong tương lai là đối
tượng của hợp đồng thế chấp 17
1.2. Lý luận về thế chấp nhà ở hình thành trong tƣơng lai 20
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm pháp lý của thế chấp nhà ở hình thành
trong tương lai 20
1.2.1.1. Khái niệm thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai 20
1.2.1.2. Đặc điểm pháp lý của thế chấp nhà ở hình thành trong tương
lai 22
1.2.2. Sự hình thành và phát triển của chế định thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai ở Việt Nam 29
1.2.3. Vai trò của thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai 33
1.3. Kinh nghiệm thế giới về thế chấp nhà ở hình thành trong tƣơng lai 37

nhà ở hình thành trong tương lai 87
3.1.2. Vai trò của cơ quan chức năng trong việc xây dựng và thực thi
pháp luật về thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai 88
5
3.1.2.1. Cần có sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành chức năng có
liên quan trong việc xây dựng và thực thi pháp luật 88
3.1.2.2. Nâng cao hơn nữa vai trò trung tâm của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về thế chấp nhà ở
hình thành trong tương lai 89
3.2. Các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thế chấp nhà ở
hình thành trong tƣơng lai 90
3.2.1. Bổ sung quy định về xác định tài sản là nhà ở hình thành trong
tương lai 90
3.2.2. Bổ sung quy định về cách thức định giá tài sản thế chấp là nhà ở
hình thành trong tương lai 95
3.2.3. Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai 97
3.2.3.1. Hoàn thiện các quy định về công chứng hợp đồng thế chấp nhà
ở hình thành trong tương lai 97
3.2.3.2. Hoàn thiện các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm hợp
đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai 103
3.2.4. Các giải pháp liên quan đến vấn đề xử lý tài sản thế chấp là nhà
ở hình thành trong tương lai 107
KẾT LUẬN 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc
đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất
Thông tư số 05/2005/TTLT-
BTP-BTNMT
Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-
BTNMT ngày 18/11/2011 của Bộ Tư pháp và
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc
đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản
gắn liền với đất
Thông tư số 20/2011/TTLT-
BTP-BTNMT
Tổ chức tín dụng
TCTD
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Khi nền kinh tế thị trường ra đời và phát triển ở Việt Nam từ giữa
những năm 1980, tín dụng ngân hàng đã hình thành và ngày càng đóng vai trò
quan trọng đối với việc phát triển kinh tế. Với điều kiện kinh tế nước ta, tín
dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu; là điều kiện để đảm bảo quá
trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục; là công cụ huy động,
tập trung vốn để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và góp phần nâng cao đời sống
người dân; cao hơn, tín dụng ngân hàng còn là công cụ điều tiết vĩ mô của
Nhà nước. Với tầm quan trọng như vậy, cần có nhiều biện pháp bảo đảm để
hoạt động này phát triển lành mạnh, trong đó có biện pháp bảo đảm tiền vay
của tổ chức tín dụng (TCTD). Trong thực tiễn bảo đảm tín dụng của các ngân

đề tài này, tác giả có tham khảo các bài nghiên cứu đó và từ đó đưa ra quan
điểm của cá nhân mình. Một số công trình nghiên cứu có thể kể đến như:
- Nguyễn Thùy Dương (2013), Thế chấp tài sản hình thành trong tương
lai để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng tín dụng, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Đại học Kinh tế - Luật, Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Phan Thị Thu Phương (2013), Thế chấp tài sản hình thành trong
tương lai, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
- Vũ Thị Hồng Yến (2013), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp
theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận án Tiến sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Có thể nhận thấy những công trình nghiên cứu nói trên tuy đã có những
phân tích khá sâu sắc về tài sản HTTTL nói chung và thế chấp tài sản HTTTL
nói riêng nhưng chưa đề cập chuyên sâu đến vấn đề thế chấp nhà ở HTTTL -
9
một đề tài đang được quan tâm như hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật Việt Nam
về thế chấp nhà ở HTTTL, thực tiễn áp dụng những quy định này, từ đó, đề
xuất ý kiến để hoàn thiện quy định pháp luật, góp phần phát huy vai trò tích
cực của chế định thế chấp nhà ở HTTTL trên thực tế, nâng cao vai trò của
hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả của các biện pháp bảo đảm tiền vay.
 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Phân tích, khái quát những vấn đề lý luận về thế chấp nhà ở HTTTL.

Về phương diện lý luận, luận văn tiến hành hệ thống hóa và làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về thế chấp
nhà ở HTTTL.
Về phương diện thực tiễn, những kiến nghị của luận văn hi vọng sẽ
đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật
Việt Nam về thế chấp nhà ở HTTTL, phát huy vai trò tích cực của chế định
này trên thực tế, góp phần phát triển lành mạnh hoạt động tín dụng ngân hàng,
thúc đẩy kinh tế phát triển.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, nội
dung của Luận văn bao gồm ba chương:
11
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thế chấp nhà ở hình thành trong
tương lai
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thế chấp nhà ở hình thành trong
tương lai và thực tiễn thi hành
Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật về thế chấp nhà ở hình
thành trong tương lai
12
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở HÌNH THÀNH
TRONG TƢƠNG LAI
1.1. Tổng quan về nhà ở hình thành trong tƣơng lai
1.1.1. Khái niệm

sản dường như được quy định tách biệt với tài sản tại Điều 164 và Điều 174
BLDS 2005). Hơn nữa, khái niệm này được xây dựng theo hình thức liệt kê
các loại tài sản, thiếu tính khái quát và không đưa ra được phạm vi để xác
định về tài sản.
Việc BLDS Việt Nam năm 2005 không sử dụng cách phân loại tài sản
trong khái niệm tại Điều 163 đã dẫn đến hậu quả là khi đọc khái niệm về tài
sản, người đọc không thể hiểu hết thế nào là tài sản và việc thiết lập các quy
chế cụ thể cho việc điều tiết các hành vi pháp lý sẽ khó khăn hơn. Ví dụ như
vấn đề mà Luận văn này đang bàn đến là thế chấp nhà ở HTTTL - một loại tài
sản vô hình - vì pháp luật không có quy chế riêng đối với các hành vi pháp lý
liên quan đến tài sản vô hình nên việc xác lập cho các hành vi thế chấp nhà ở
HTTTL một quy chế cụ thể cũng gặp nhiều khó khăn hơn.
b. Tài sản hình thành trong tương lai
Tài sản HTTTL là một khái niệm tương đối mới của pháp luật dân sự
Việt Nam, chế định này được xem là một tiến bộ trong khoa học pháp lý và là
một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, khi mà các giao dịch kinh tế,
thương mại, dân sự ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Trước
đây, pháp luật dân sự Việt Nam chưa có sự ghi nhận nào về khái niệm tài sản
HTTTL, trong BLDS 1995 không có cụm từ tài sản HTTTL tại bất kỳ điều
luật nào. Khi Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ
14
về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 165/1999/NĐ-CP) được ban hành thì khái
niệm tài sản HTTTL mới xuất hiện lần đầu tiên và cho đến năm 2005, khái
niệm này đã được ghi nhận chính thức tại Điều 320 BLDS 2005.
Vậy, tài sản HTTTL là gì? Pháp luật Việt Nam quan niệm thế nào về
tài sản HTTTL?
Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã đưa ra khái niệm tài

Tài sản hình thành trong tương lai gồm:
a) Tài sản được hình thành từ vốn vay;
b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập
hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;
c) Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở
hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó
mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.
Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng
đất.
Như vậy, qua quá trình hình thành và phát triển, khái niệm tài sản
HTTTL từ chỗ chỉ được đề cập trong các văn bản dưới luật (Nghị định số
165/1999/NĐ-CP và Nghị định số 178/1999/NĐ-CP) thì đến nay, khái niệm
này đã được ghi nhận trong văn bản luật là BLDS 2005. Nội hàm của khái
niệm tài sản HTTTL cũng được mở rộng hơn, không chỉ bao gồm tài sản hình
thành sau thời điểm ký kết giao dịch như ở thời kỳ đầu mà còn bao gồm cả tài
sản đã hình thành nhưng chưa thuộc quyền sở hữu của bên có tài sản. Sự thay
đổi này có thể được lý giải bởi các yếu tố sau: (i) Sự phát triển mạnh mẽ của
nền kinh tế dẫn đến nhu cầu đưa các loại tài sản vào tham gia giao dịch kinh
tế, dân sự thêm phong phú, trong đó có tài sản HTTTL; (ii) Trên thực tế, tài
sản HTTTL đã chứng tỏ được vai trò và tầm quan trọng của mình khi được
xem là đối tượng của các giao dịch, nhưng đồng thời cũng bộc lộ nhiều rủi ro,
16
hạn chế, điều này dẫn đến việc phải có những quy định mang tính pháp lý
chặt chẽ hơn quy định về vấn đề này.
Việc mở rộng nội hàm khái niệm cũng như nâng cao tầm pháp lý của
khái niệm tài sản HTTTL như nêu trên đã góp phần tạo ra sự phát triển mạnh
mẽ của các giao dịch liên quan đến tài sản HTTTL, đặc biệt là các giao dịch

có nhiều cách hiểu như vậy là do hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có một
quy định cụ thể nào đề cập đến khái niệm về nhà ở HTTTL, đồng thời cũng
chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự đi sâu nghiên cứu về nhà ở
HTTTL.
Từ hai cách tiếp cận nêu trên có thể thấy, nhà ở HTTTL là nhà ở và
cũng đồng thời là một loại tài sản HTTTL, do đó khi nhà ở HTTTL được đưa
vào giao dịch thì giao dịch đó chịu điều chỉnh chung của hai chế định là pháp
luật về tài sản HTTTL và pháp luật về nhà ở. Dựa trên khái niệm về tài sản
HTTTL có thể hiểu khái quát về nhà ở HTTTL với tư cách là đối tượng của
giao dịch dân sự như sau: Nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở chưa
được xây dựng, chưa được hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa thuộc
quyền sở hữu của chủ thể tại thời điểm thực hiện giao dịch về nhà ở nhưng có
cơ sở để xác định nhà ở đó sẽ hình thành và sẽ thuộc quyền sở hữu của chủ
thể trong tương lai.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của nhà ở hình thành trong tương lai là đối
tượng của hợp đồng thế chấp
Để được phép tham gia giao dịch dân sự thì nhà ở HTTTL trước hết
phải là một loại tài sản và là đối tượng của quyền sở hữu. Tuy nhiên, khi giao
dịch đó là hợp đồng thế chấp nhà ở HTTTL thì ngoài đặc điểm này, nhà ở
tham gia giao dịch cần phải đáp ứng một số đặc điểm khác như: Nhà ở chưa
hình thành vào thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm hoặc đã hình thành
18
nhưng chưa được xác lập quyền sở hữu; Nhà ở thuộc sở hữu của bên bảo đảm
sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.
Các đặc điểm này có biểu hiện như sau:
(1) Nhà ở tham gia giao dịch thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai
là một loại tài sản và là đối tượng của quyền sở hữu

HTTTL nói chung và đối với nhà ở HTTTL nói riêng mặc dù chưa có tư cách
chủ sở hữu đầy đủ nhưng vẫn sẽ có một số quyền nhất định, và vấn đề chúng
ta đang xét đến ở đây là quyền của chủ sở hữu được dùng nhà ở sẽ HTTTL
của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Có thể nói, quyền sở hữu đối
với nhà ở HTTTL là một chế định mở trong giao dịch dân sự.
(2) Nhà ở hình thành trong tương lai là loại tài sản “chưa có thật”
Đúng với tên gọi nhà ở HTTTL, nhà ở đó có thể chưa được hình thành
trên thực tế, đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện. Ngoài ra, nhà ở
HTTTL còn bao gồm cả trường hợp nhà ở đã hình thành rồi mà chưa thuộc
quyền sở hữu của chủ sở hữu, phổ biến hiện nay là các căn hộ chung cư đã
xây dựng xong và đang chờ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Chính vì đặc
điểm này mà tính rủi ro của giao dịch bảo đảm có đối tượng là nhà ở HTTTL
cao hơn rất nhiều so với các giao dịch bảo đảm có đối tượng là tài sản thông
thường.
(3) Thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác
lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết
Thông thường, các tài sản đưa vào tham gia giao dịch thế chấp phải là
tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Nhưng nhà ở HTTTL là một
dạng tài sản đặc thù thể hiện ở chỗ quyền sở hữu của chủ thể chỉ được xác lập
sau đó. Việc nhà ở đó có hình thành hay không, chủ thể có được xác lập
quyền sở hữu đối với nhà ở đó hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
20
điều này cũng góp phần làm tăng tính rủi ro của nhà ở HTTTL khi tham gia
vào giao dịch dân sự.
Từ những đặc điểm nêu trên, yêu cầu đặt ra là cần phải ban hành quy
định pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến giao dịch dân sự có đối
tượng là nhà ở HTTTL nói chung và thế chấp nhà ở HTTTL nói riêng; đồng

đảm bảo cho khoản vay; nếu khi đến hạn mà bên vay không thực hiện được
nghĩa vụ trả nợ hoặc không trả nợ hết cho ngân hàng thì TCTD sẽ được quyền
phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Theo quy định tại Điều 342 BLDS
2005 thì: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng
tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài
sản đó cho bên nhận thế chấp”. Theo khái niệm này, thế chấp vừa đảm bảo lợi
ích của bên có quyền (dùng tài sản để đảm bảo) vừa đảm bảo lợi ích của bên
có nghĩa vụ trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh (không phải
chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp mà vẫn có thể khai thác, sử dụng
tài sản đó).
Về khái niệm thế chấp tài sản HTTTL hiện nay, BLDS 2005 cũng như
các văn bản khác đều chưa có quy định nào nêu rõ nhưng chúng ta có thể căn
cứ vào quy định về khái niệm thế chấp tài sản và khái niệm tài sản HTTTL để
rút ra một khái niệm mang tính khái quát chung. Đối với khái niệm thế chấp
nhà ở HTTTL thì càng không thể thấy trong bất kỳ văn bản nào. Nếu dựa vào
khái niệm nhà ở HTTTL như đã nêu ở phần trên thì có thể đưa ra khái niệm
thế chấp nhà ở HTTTL như sau: Thế chấp nhà ở HTTTL là việc một bên (gọi
là bên thế chấp) dùng nhà ở đang trong quá trình hình thành hoặc đã hình
thành nhưng chưa đăng ký quyền sở hữu nhưng trong tương lai tài sản đó sẽ
thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với
bên kia (gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao nhà ở (sau khi đã
22
hình thành) cho bên nhận thế chấp.
1.2.1.2. Đặc điểm pháp lý của thế chấp nhà ở hình thành trong tương
lai
Trước hết, thế chấp nhà ở HTTTL mang đặc điểm của biện pháp thế

cho bên nhận thế chấp, qua đó thể hiện quyền đối kháng của bên nhận thế
chấp đối với bên thứ ba, và quyền ưu tiên thanh toán của bên nhận thế chấp.
Đặc điểm không có sự chuyển giao tài sản thế chấp càng được thể hiện
rõ trong hợp đồng thế chấp nhà ở HTTTL ở chỗ: Nhà ở đó có thể chưa được
xây dựng hoàn thiện hoặc đã được hoàn thiện nhưng chưa được bàn giao cho
bên thế chấp (với tư cách là chủ sở hữu tương lai của tài sản đó). Như vậy, tài
sản đó không thể được chuyển giao cho bất kỳ bên nào, cho dù là bên thế
chấp hay bên nhận thế chấp; sau khi nhà ở đã được xây dựng xong thì bên thế
chấp sẽ là người nhận bàn giao nhà ở đó chứ không phải là bên nhận thế chấp.
Sự không chuyển giao tài sản không hề ảnh hưởng đến quyền lợi của
bên nhận thế chấp. Bên thế chấp là người trực tiếp nắm giữ tài sản thế chấp
nhưng vẫn không thể định đoạt tài sản thế chấp do giấy tờ pháp lý liên quan
đến tài sản - thứ không thể thiếu khi tham gia giao dịch dân sự - do bên nhận
thế chấp giữ.
Đáp ứng linh hoạt lợi ích của các bên chủ thể:
Đối với bên nhận thế chấp: bên nhận thế chấp không phải giữ gìn và
bảo quản tài sản thế chấp nên tiết kiệm được nhiều chi phí liên quan đến việc
thuê kho bãi, thuê người trông coi hoặc có các biện pháp bảo đảm thích hợp
để tránh trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản thế chấp.
Đối với bên thế chấp: bên thế chấp vẫn có thể được khai thác công
dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức đó cũng
24
thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận); được đầu tư để làm tăng giá trị của tài
sản thế chấp. Điều này thực sự có ý nghĩa đối với trường hợp thế chấp nhà ở,
đặc biệt là nhà ở HTTTL. Bởi lẽ, mặc dù nhà ở đó đã được thế chấp nhưng
chủ đầu tư hay chủ thể xây dựng vẫn có quyền tiếp tục quá trình xây dựng,
hoàn thiện ngôi nhà đó; hoặc khi ngôi nhà đã được bàn giao cho bên thế chấp

(i) Tiềm ẩn những rủi ro:
Với tư cách là một biện pháp thế chấp tài sản, thế chấp nhà ở HTTTL
luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát
triển và sự gia tăng của nhiều loại tội phạm thì việc làm giả giấy tờ, tài liệu
(như giấy tờ chứng minh quyền tài sản) để thực hiện thủ tục thế chấp ngân
hàng nhằm chiếm đoạt tài sản là vốn vay cũng không thể tránh khỏi. Việc xác
định tính xác thực của các loại giấy tờ chứng minh quyền tài sản thế chấp vì
thế cũng gặp nhiều khó khăn, nếu không thẩm tra kỹ lưỡng sẽ gây ra thất
thoát lớn cho bên nhận thế chấp. Bên cạnh rủi ro tiềm ẩn từ việc làm giả giấy
tờ về quyền tài sản thì bên nhận thế chấp cũng gặp phải những rủi ro khác
như: bên thế chấp lạm dụng quyền khai thác tài sản dẫn đến tài sản bị hư
hỏng, giảm sút giá trị… hoặc tìm cách bán tài sản đó cho người khác mà bên
nhận thế chấp không hề biết, dẫn đến những tranh chấp không đáng có sau
này. Như vậy, quyền của bên nhận thế chấp rõ ràng là khó được bảo đảm.
Ngoài ra, với đối tượng là một tài sản đặc thù, “tài sản chưa có thật”,
thế chấp nhà ở HTTTL luôn tiềm ẩn những rủi ro ở mức cao hơn thế chấp tài
sản thông thường. Nguyên tắc chung trong thế chấp tài sản là tài sản thế chấp
phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, không có tranh chấp về quyền sở
hữu và đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu; trong khi đó thế chấp nhà ở
HTTTL thì quyền sở hữu của bên thế chấp chưa được công nhận tại thời điểm

Trích đoạn Thực trạng pháp luật về thế chấp nhà ở hình thành trong tƣơng lai
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status