ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------
PHẠM THỊ TRÀ GIANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT XÃ TÍCH LƯƠNG,
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
PHẠM THỊ TRÀ GIANG
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Ngọc
Nông, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quá
3.2.Nội dung nghiên cứu.............................................................................. 34
3.2.1. Điều tra đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của xã
Tích Lương, thành phố Thái Nguyên....................................................... 34
3.2.2. Đánh giá tình hình sử dụng đất và công tác quản lý đất đai của
UBND xã Tích Lương.............................................................................. 34
3.2.3. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch ........................................... 35
3.2.4. Một số giải pháp khắc phục tồn tại nhằm nâng cao kết quả thực
hiện quy hoạch sử dụng đất của xã .......................................................... 36
3.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 36
3.3.1. Phương pháp điều tra, thu thập thông tin....................................... 36
3.3.2. Phương pháp thu thập, kế thừa và chọn lọc kết hợp xử lý thống kê
.................................................................................................................. 36
3.3.3. Phương pháp bản đồ....................................................................... 36
3.3.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp .................................................. 37
3.3.5. Phương pháp chuyên gia ................................................................ 37
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 38
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội cuả xã Tích Lương........................ 38
4.1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên Thiên nhiên ............................... 38
4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội.............................................. 42
4.2. Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn .................................. 48
4.2.1. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ
tầng xã hội ................................................................................................ 48
4.2.2. Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội gây áp lực
đối với đất đai........................................................................................... 52
4.3. Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý sử dụng đất.......................... 53
4.3.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 .................................................. 53
4.3.2. Biến động sử dụng đất.................................................................... 58
4.4. Đánh giá tiềm năng phát triển đất đai................................................... 65
Ủy ban nhân dân
2
FAO
Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc
3
CSD
Chưa sử dụng
4
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
5
KCN
Khu công nghiệp
6
QL3
Sản xuất nông nghiệp
12
GPMB
Giải phóng mặt bằng
1
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
1
Bảng 4.1: Đánh giá kết quả năng suất cây trồng năm 2005
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Tích Lương
năm 2005
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp xã Tích Lương
năm 2005
Bảng 4.4: Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010
Bảng 4.5: Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp sang các mục đích khác của xã Tích lươngThành phố Thái Nguyên
Bảng 4.6: Kết quả thực hiện Thu hồi đất sử dụng đất nông nghiệp
của xã Tích Lương giai đoạn 2005- 2010
54
57
59
72
73
76
77
78
81
82
84
86
2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
1
2
Tên biểu đồ
Biểu đồ 4.1. Giá trị sản xuất các ngành giai đoạn 2005 – 2010
(giá cố định 1994)
Biểu đồ 4.2. Hiệu quả kinh tế một số loại cây trồng và vật nuôi xã
Tích Lương năm 2005
lập Quy hoạch sử dụng đất xã Tích Lương thời kỳ 2006- 2010 và được Ủy
ban nhân dân thành phố Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết đinh số 2574/
QĐ/UBND, ngày 30/08/2007. Kết quả thực hiện Quy hoạch sử dụng đất
những năm qua đã góp phần tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội,
đặc biệt trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đường, trường, trạm xây dựng
2
nhà máy khai thác và chế biến khoáng sản một cách hiệu quả tiềm năng đất
đai. Đồng thời làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm
và 5 năm của xã, xây dựng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất chi tiết cụ thể.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không
chỉ trước mắt mà cả lâu dài. Với mục tiêu giúp địa phương nhìn nhận đánh giá
kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006- 2010,
phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những tồn tại bất cập trong
quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất; khắc phục
những nội dung sử dụng đất bất hợp lý, đề xuất, kiến nghị điều chỉnh những
nội dung của phương án quy hoạch sử dụng đất không theo kịp những biến
động trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Được sự đồng ý của
Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học- trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên.
Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông - Phó Hiệu
Trưởng trường Đại học Nông Lâm, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy
hoạch sử dụng đất xã Tích lương, thành phố Thái Nguyên”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất của xã Tích Lương
nhằm đánh giá được những thành tựu, hạn chế trong việc thực hiện quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006- 2010 đã phê duyệt.
thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá
tính ...) tạo ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác
nhau. Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch – đây là quá trình
nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng
phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định [13].
Về bản chất: Đất đai là đối tượng của mối quan hệ sản xuất trong lĩnh
vực sử dụng đất (gọi là mối quan hệ đất đai) và tổ chức sử dụng đất như “tư
liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội [18]. Như vậy,
Quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng
thời ba tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế. Trong đó cần hiểu:
- Tính kinh tế: Thể hiện ở hiệu quả sử dụng đất đai.
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra,
khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu ...
- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất
theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng đất đai đúng pháp luật.
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm: quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các
biện pháp của Nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý,
5
hiệu quả, khoa học thông qua việc phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng
và định hướng tổ chức sử dụng đất cho các cấp lãnh thổ, các ngành, tổ chức
và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thực hiện
đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái
bền vững [2].
Theo FAO [19]: “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm
năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất. Mục tiêu của quy
hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa ra phương án đã lựa chọn vào thực tiễn
để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được
Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng
đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập
quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; xác lập sự ổn định về
mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở tiến hành
cấp đất và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ
các nhu cầu dân sinh, văn hoá – xã hội.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà
nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng
chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm
sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng
lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh
chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi
trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã
hội và hậu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở
từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường [2].
7
2.1.1.2. Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất
Với những áp lực và thực trạng sử dụng đất đai hiện nay cho thấy
nguồn tài nguyên đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới
gia tăng. Do đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất
đai và loại đất đai để đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn
lương thực, đồng thời cũng bảo vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường
sống. Quy hoạch sử dụng đất đai là nền tảng cho quá trình này, thông qua quy
hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối
quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về sử dụng đất cho các ngành, các đơn vị, cá
quy hoạch sử dụng đất, người ta đã thiết lập nên đường ranh giới giữa các đơn
vị sử dụng đất, giữa sản xuất nông nghiệp với khu dân cư, giữa các chủ sử
dụng đất với nhau, tức là đã xác định phạm vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng
đất. Nhà nước cho phép các chủ sử dụng đất có các quyền về sử dụng đất,
quyền sử dụng đất của các chủ sử dụng được xác nhận bằng các văn bản pháp
luật và được luật pháp Nhà nước bảo hộ. Mọi thay đổi trong cơ cấu đơn vị sử
dụng đất phải được phản ánh kịp thời trong các tài liệu thích hợp.
Hai là, sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tồn tại cơ bản, gắn liền
với hoạt động của con người, của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội của
Nhà nước, có vai trò quan trọng với con người. Đất đai có một đặc điểm rất
quan trọng là nếu được sử dụng đúng mục đích và hợp lý thì chất lượng ngày
càng tốt lên. Tính chất đặc biệt này của đất đòi hỏi chúng ta phải hết sức chú
ý trong việc sử dụng đất. Trong điều kiện diện tích đất đai có hạn, trong khi
dân số không ngừng tăng nhanh, gây áp lực lớn đối với việc sử dụng đất đai.
Điều này đòi hỏi việc sử dụng đất phải tiết kiệm và hiệu quả. Sử dụng đất tiết
kiệm nghĩa là phải bố trí hài hoà giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, hạn
chế tối đa việc chuyển đất canh tác có hiệu quả cao sang sử dụng và các mục
đích phi nông nghiệp, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia, thoả mãn nhu
9
cầu nông sản cho toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời cân
đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
nâng cao chất lượng đất và mở rộng diện tích.
Một trong những vấn đề bảo vệ đất quan trọng nhất là ngăn ngừa và
dập tắt các quá trình xói mòn do gió và nước gây nên. Đặc biệt đối với nước
ta với đặc điểm địa hình đồi núi chiếm tới 3/4 lãnh thổ, lại nằm ở vùng nhiệt
đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hoá
dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng
ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp.
Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận
tải, xây dựng, thuỷ điện, dầu khí ... đều đòi hỏi phải có đất. Việc bố trí các xí
nghiệp công nghiệp, các tuyến giao thông vận tải, các khu khai thác khoáng
sản và công trình xây dựng lớn thường được dự kiến trước trong kế hoạch
phát triển kinh tế quốc dân dài hạn, với tiêu chí: những khoanh đất giao cho
các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất chưa sử dụng hoặc đất sử dụng
kém hiệu quả trong nông nghiệp.
Khi giao đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, hầu như bao giờ cũng
làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của đơn vị bị mất đất. Do đó, khi xây dựng
dự án giao đất cần lưu ý để hoạt động sản xuất của các cơ sở đó không bị hoặc
ít bị ảnh hưởng nhất. Trong trường hợp, nếu việc giao đất cho nhu cầu phi
nông nghiệp làm cho cơ cấu sử dụng đất bị thay đổi nhiều, tổ chức lãnh thổ
bên trong bị đảo lộn thì phải quy hoạch lại toàn bộ hoặc một phần hoặc từng
bộ phận cho đơn vị sử dụng đất đó.
Khi đánh giá về mặt kinh tế những hậu quả do việc giao đất gây ra. Chủ
sử dụng đất bị mất đất có quyền đòi hỏi chủ được giao đất phải bồi thường
toàn bộ những khoản thiệt hại do việc thu hồi đất và giao đất gây ra và cả
11
những chi phí để quy hoạch lại. Việc bồi thường những khoản chi phí trên cho
chủ bị mất đất là nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ được giao đất.
Bốn là, quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh
thổ hợp lý.
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà
nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể. Trên cơ sở đó có thể
áp dụng các hình thức quản lý kinh tế tiên tiến, ứng dụng các công nghệ mới,
chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế tài nguyên thiên nhiên đất đai để đạt tới cơ
cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả
kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững.
2.1.2. Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
2.1.2.1. Đất đai và chức năng của đất đai
Định nghĩa đất đai theo Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý mà
nói đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc
tính mang tính ổn định, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí
quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất
và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những
hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và
trong tương lai”.
Đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio de janerio,
Brazinl, (1993), đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng
được xác định đất đai là: “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả
các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm:
khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm
lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong
lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người,
những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ
chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa ...)
13
Như vậy, đất đai có thể gồm: Khí hậu, Đất, Nước, Địa hình/địa chất,
Thực vật, Động vật, Vị trí, Diện tích, Kết quả hoạt động của con người. [14]
Theo định nghĩa về đất đai của Luật đất đai năm (2003) [11] thì: “Đất
là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời
cũng là sản phẩm lao động. Đất còn là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và
nuôi, sợi, dầu, gỗ và các vật liệu sinh vật sống khác cho con người sử dụng,
một cách trực tiếp hay thông qua các vật nuôi như nuôi trồng thuỷ sản và
đánh bắt thuỷ sản vùng ven biển.
- Chức năng về môi trường sống: Đất đai là nền tảng của đa dạng hoá
sinh vật trong đất thông qua việc cung cấp môi trường sống cho sinh vật và
nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật, và vi sinh vật, ở trên và bên dưới
bề mặt đất.
- Chức năng điều hoà khí hậu: Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và
nơi chứa khí ga từ nhà kính hay hình thành một sự cân bằng năng lượng toàn
cầu giữa phản chiếu, hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và
của chu kỳ thuỷ văn của toàn cầu.
- Chức năng trữ nước: Đất đai điều hoà sự tồn trữ và lưu thông của
nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm, và những ảnh hưởng của chất
lượng nước.
- Chức năng tồn trữ: đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô
cho việc sử dụng của con người.
- Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiếm: Đất đai có khả năng hấp
thụ, lọc, đệm và chuyển đổi những thành phần nguy hại.
- Chức năng không gian sống: Đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên
cho việc xây dựng khu dân cư, nhà máy và các hoạt động xã hội như thể
thao, nghỉ ngơi.
- Chức năng bảo tồn di tích lịch sử: Đất đai là nơi chứa đựng và bảo vệ
15
các chứng tích lịch sử văn hoá của loài người, và nguồn thông tin về các điều
kiện khí hậu và những sử dụng đất đai trong quá khứ.
- Chức năng nối liền không gian: Đất đai cung cấp không gian cho sự
vận chuyển của con người, đầu tư và sản xuất, và cho sự di chuyển của thực
vệ hệ sinh thái có các giá trị đa dạng sinh học cao [14].
2.1.2.2. Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất (khoảng không gian lãnh thổ cần thiết)
đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động
của con người. Điều này có nghĩa - thiếu khoảnh đất (vị trí, hình thể, quy mô,
diện tích và yêu cầu về chất lượng nhất định) thì không một ngành nào, một xí
nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được. Nói khác đi – không có
đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người.
- Lợi ích của việc sử dụng đất trong các ngành phi nông nghiệp:
Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức
năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho
tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình sản
xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu
của đất, chất lượng thảm thực vật và tính chất tự nhiên sẵn có trong đất.
- Lợi ích của việc sử dụng đất trong ngành nông nghiệp – lâm nghiệp:
Đất giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất,
cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động
trong quá trình sản xuất) và là công cụ hay phương tiện hoạt động (sử dụng
đất để trồng trọt, chăn nuôi ...). Quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp luôn
liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên trong đất.
Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành ba
nhóm lợi ích cơ bản sau:
17
+ Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả mãn nhu cầu
sinh tồn và phát triển của con người;
+ Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động;
+ Cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng