Xác định quy chế pháp lý của hai quần đảo hoàng sa, trường sa theo pháp luật và thực tiễn quốc tế - Pdf 35

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH H TRANG

XáC ĐịNH QUY CHế PHáP Lý
CủA HAI QUầN ĐảO HOàNG SA, TRƯờNG SA
THEO PHáP LUậT Và THựC TIễN QUốC Tế

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHM TH H TRANG

XáC ĐịNH QUY CHế PHáP Lý
CủA HAI QUầN ĐảO HOàNG SA, TRƯờNG SA
THEO PHáP LUậT Và THựC TIễN QUốC Tế
Chuyờn ngnh: Lut Quc t
Mó s: 60 38 01 08

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. HếA BèNH

H NI - 2015



1.1.1. Quần đảo Hoàng Sa .............................................................................. 7
1.1.2. Quần đảo Trường Sa ............................................................................ 8
1.2.

Tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở
Biển Đông ............................................................................................ 9

1.2.1.

Về quốc phòng an ninh........................................................................ 9

1.2.2. Về giao thông hàng hải....................................................................... 11
1.2.3. Về kinh tế ........................................................................................... 14
1.3.

Yêu sách của các bên đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa của Việt Nam liên quan đến quy chế pháp lý quốc tế về đảo,
quần đảo ............................................................................................. 17

1.4.

Tình hình tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa .... 21

Chương 2: QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
TRONG XÁC ĐỊNH QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO,
QUẦN ĐẢO ...................................................................................... 24
2.1.

Quy định pháp luật quốc tế về quy chế pháp lý của đảo, quần đảo ... 24

về xác định quy chế pháp lý của hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa ......................................................................................... 78

3.2.1. Giải pháp đàm phán, thương lượng .................................................... 78
3.2.2. Giải pháp sử dụng các thiết chế tài phán quốc tế ............................... 79
3.2.3. Giải pháp khác .................................................................................... 81
3.2.4. Các điều kiện đảm bảo ....................................................................... 82
KẾT LUẬN .................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 96
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 103


DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

COC

: Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông

DOC

: Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002

ICJ

: Tòa án Công lý quốc tế

ITLOS

: Tòa án quốc tế về Luật biển


Phụ lục 1: Bản đồ quần đảo Hoàng Sa

104

Phụ lục 2: Bản đồ quần đảo Trường Sa

105


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói chung cũng như Biển Đông
đang là một điểm nóng về tranh chấp trong vấn đề chủ quyền biển, đảo. Quần
đảo Hoàng Sa của Việt Nam là đối tượng tranh chấp song phương giữa Việt
Nam và Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan), còn quần đảo Trường Sa của
Việt Nam lại là đối tượng tranh chấp đa phương của năm quốc gia Việt Nam,
Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei và một thực thể quốc tế đặc biệt –
Đài Loan. Tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt
Nam và các nước, đặc biệt là trực tiếp với Trung Quốc đã kéo dài nhiều năm,
nhưng đang trở nên căng thẳng trên mọi trận tuyến từ ngoại giao chính trị đến
quân sự, pháp luật trong bối cảnh hiện nay. Trong khi Việt Nam và một số
quốc gia liên quan luôn kiên trì quan điểm giải quyết tranh chấp bằng các
biện pháp hòa bình, trên cơ sở pháp luật quốc tế thì Trung Quốc lại có một
loạt những hành động đi ngược lại với các cam kết quốc tế, trái với quan điểm
chung của cộng đồng quốc tế và các quốc gia trong khu vực, vi phạm nghiêm
trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Liên quan đến việc xác định quy chế pháp lý của hai quần đảo Hoàng
Sa và, Trường Sa, Việt Nam và các bên yêu sách đang có những quan điểm
khác nhau. Trong khi Trung Quốc khẳng định quần đảo Hoàng Sa có đường
cơ sở thẳng như cách xác định của các quốc gia quần đảo năm 1996, quần

Trường Sa chưa thể giải quyết được, thì việc xác định quy chế pháp lý hai
quần đảo này Hoàng Sa, Trường Sa là một vấn đề pháp lý quan trọng, có thể
giải quyết trước. Đây được coi là bước đi cần thiết trong quá trình giải quyết
tranh chấp.tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Thứ tư, xác định quy chế pháp lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sẽ
là một hướng đi mới sử dụng biện pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp. Đây

2


sẽ là cơ hội để Việt Nam đệ trình vấn đề pháp lý có liên quan nhằm khởi kiện
hoặc xin ý kiến tư vấn của các thiết chế tài phán quốc tế như hướng đi
Philippines đang thực hiện.
Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề xác định quy chế pháp lý của
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong hoạt động giải quyết tranh chấp
biển, đảo, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, học viên đã lựa chọn đề tài “Xác
định quy chế pháp lý của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa theo pháp
luật và thực tiễn quốc tế” làm Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cùng với diễn biến ngày càng căng thẳng trên Biển Đông là sự gia tăng
những công trình nghiên cứu, những diễn đàn học thuật trong và ngoài nước
luận bàn về các khía cạnh trong tranh chấp Biển Đông. Cho đến nay, các công
trình nghiên cứu thường chú trọng đến khía cạnh chủ quyền đối với hai quần
đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà chưa chú trọng nhiều đến việc xác định phạm vi
và giải quyết những khác biệt ngoài chủ quyền của các bên hữu quan.
Hiện nay, các đề tài, công trình nghiên cứu còn tồn tại nhiều quan điểm
không thống nhất về phạm vi địa lý, quy chế pháp lý của vùng đảo Hoàng Sa,
Trường Sa. Do đó, đề tài sẽ nghiên cứu, rà soát lại và đề xuất quan điểm phù
hợp chính xác nhất trên cơ sở những tri thức mới nhất về hai quần đảo, làm rõ
hơn thực thể nào được coi là đảo theo pháp luật và thực tiễn quốc tế.

chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà chưa chú trọng nhiều
đến việc xác định phạm vi và giải quyết những khác biệt ngoài chủ quyền của
các bên hữu quan. Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu và xác định quy chế pháp
lý của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – một khía cạnh quan trọng nhưng từ
trước đến nay chưa có công trình nghiên cứu sâu và chuyên biệt.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp những tri thức đa ngành
mới nhất, trong đó trọng tâm là tri thức pháp luật quốc tế trong và ngoài nước
liên quan đến phạm vị, hiệu lực của đảo, quy chế pháp lý các vùng biển... Đề

4


tài cũng sẽ giành phần lớn dung lượng để nghiên cứu về quy chế pháp lý của
các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển theo pháp luật và thực tiến
quốc tế. Đây là vấn đề đã được đề cập từ lâu nhưng ít được quan tâm, nghiên
cứu, cập nhật. Tuy nhiên, vấn đề này đang trở nên nóng hổi, cấp thiết bởi
những hành động “ráo riết” cải tạo, xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc
tại Hoàng Sa, Trường Sa trong thời gian gần đây.
Từ những nghiên cứu trên, đề tài cũng sẽ đề xuất giải pháp cụ thể,
những bước đi cho Việt Nam trong việc hiện thực hóa quan điểm của mình
trong vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa, bao gồm: giải pháp đàm phán, thương lượng; giải pháp trung gian,
hòa giải; giải pháp sử dụng các thiết chế tài phán quốc tế; giải pháp tạm
thời;... và các điều kiện đảm bảo nhằm thực thi hiệu quả các giải pháp trên.
Bằng việc giải quyết những vấn đề trên, Luận văn là một công trình
nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp
phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để nghiên cứu thực hiện đề tài đã chọn, Luận văn được thể hiện trên cơ
sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về

TỔNG QUAN CHUNG VỀ HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA,
TRƯỜNG SA VÀ YÊU SÁCH CỦA CÁC BÊN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ
CỦA HAI QUẦN ĐẢO
1.1. Vị trí địa lý
1.1.1. Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa (tên Nôm: Bãi Cát Vàng, tên tiếng Anh: Paracel
Islands, Trung Quốc gọi là Tây Sa) gồm trên 30 đảo nhỏ, đá, bãi ngầm, cồn san
hô với tổng diện tích khoảng 10km2 nằm rải rác trên vùng biển rộng khoảng
15.000km2, trong khoảng vĩ độ 15045’Bắc - 17015’ Bắc và kinh độ 1110 Đông
- 1130 Đông, cách cù lao Ré đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi - Việt Nam) khoảng 120
hải lý, cách cảng Đà Nẵng 170 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng
156 hải lý. Diện tích toàn bộ phần nổi của đảo khoảng 10km2, đảo lớn nhất là
đảo Phú Lâm có diện tích khoảng 1,5km2 [xem Phụ lục 1].
Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm chính: nhóm phía Đông (An
Vĩnh - Amphitrite) có đảo Phú Lâm (Woody), đảo Đá (Rocheuse), đảo Nam,
đảo Trung (Milieu), đảo Bắc (Nord), đảo Cây (Tree) và ở phía đông là đảo
Linh Côn (Lincoln), trong đó, đảo Phú Lâm lớn nhất, dài không quá 4 km và
rộng khoảng 2 hoặc 3km2; nhóm thứ hai là nhóm phía Tây (Nguyệt ThiềmCroissant) gồm 5 đảo chính: Hữu Nhật (Robert – 0,32km2), Quang Hoà
(Duncan – 0,48km2), đá Thu Lu (Palm -0,09km2), Duy Mộng (Drummond –
0,41km2) và Hoàng Sa (Pattle – 0,3km2) trên đó có dấu vết của một cầu tàu và
một con kênh đào. khoảng cách giữa nhóm đảo phía đông và phía tây khoảng
70 km. Riêng đảo Quang Ảnh (Money – 0,5km2) nằm riêng biệt ở một nơi
(cách khoảng 12km) và xa hơn về phía Nam là đảo Tri Tôn. Mỗi đảo đều có

7


vành đai san hô và các cửa của vành đai cho phép các tàu thuyền đáy nông
vào tận bờ biển của đảo.
Quần đảo Hoàng Sa có khí hậu ổn định với nhiệt độ trung bình

Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có tầm quan trọng đặc biệt về quốc
phòng an ninh đối với Việt Nam và các nước xung quanh.:
Thứ nhất, hai quần đảo đều nằm trên tuyến đường vận chuyển huyết
mạch của các nước Đông Á khác. Vì vậy, kiểm soát có hiệu quả hai quần dảo
này cùng khu vực biển phụ cận là có thể kiểm soát được các tuyến hàng hải
qua lại ở Biển Đông; đồng thời có thể sử dụng cho mục đích quân sự như đặt
trạm rada, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu
cho tàu bè... Và như vậy có thể giúp tăng cường khả năng răn đe chiến lược
cũng như khả năng kiềm chế hơn nữa sự hiện diện quân sự của các cường
quốc trong khu vực Biển Đông
Thứ hai, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm giữa hai căn cứ hải
quân lớn là Cam Ranh của Việt Nam và Subic của Philippines. Hải quân các
nước trong khu vực cũng như các quốc gia ngoài khu vực (Mỹ, Nhật Bản,
Nga) sử dụng Biển Đông như một khu vực hoạt động và trung chuyển; đồng
thời là tuyến đường quan trọng nhằm đối phó với các thách thức an ninh
truyền thống và phi truyền thống như chống hải tặc và khủng bố, đặc biệt tại
eo biển Malacca.
Thứ ba, quốc gia có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa sẽ có khả năng khống chế các tuyến đường giao thông trên biển và trên
không trong khu vực. Hơn nữa, có thể coi hai quần đảo là cơ sở để mở rộng
chủ quyền lãnh thổ trên phần lớn Biển Đông. Các nhà chiến lược phương Tây
cho rằng quốc gia nào kiểm soát được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
thì sẽ khống chế được cả Biển Đông. Vì vậy, hai quần đảo này được ví như
hai viên ngọc quý giá mà bất kỳ quốc gia nào cũng muốn có được để mở rộng
tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực và trên thế giới.

9


Trải dài trên một khu vực biển rộng lớn, đối với Việt Nam, hai quần đảo

quốc phát triển mạnh về biển. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các
hòn đá tảng để Trung Quốc thực hiện các chiến lược lực đại dương sau này.
Quần đảo Hoàng Sa là khu vực án ngữ ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, vị trí
này nhanh chóng giúp Trung Quốc thực hiện được nhiều mục tiêu như: đạt
được lợi thế trong phân định ranh giới trên biển với Việt Nam khu vực ngoài
cửa Vịnh; tận dụng khả năng cố tình giải thích sai lệch quy định pháp luật
quốc tế để mở rộng yêu sách chủ quyền lãnh thổ trên biển; đặc biệt là tăng
cường khả năng kiểm soát và phòng thủ đối với các khu vực biển, đảo bị coi
là “điểm dễ bị xâm phạm” trước các cuộc tấn công trên biển của Trung Quốc
– khu vực từ Vịnh Bắc Bộ đến đảo Hải Nam.
Nếu chiếm được quần đảoTrường Sa, Trung Quốc có được sườn bảo vệ
trọng yếu của Việt Nam từ quần đảo Hoàng Sa vòng tới quần đảo Trường Sa.
Nếu nhìn vào chiến lược phòng thủ biển hai bước (chiến lược chuỗi đảo – Island
Chains) hiện nay của Trung Quốc, có thể dễ dàng nhận thấy Hoàng Sa, Trường
Sa đều nằm trọn trong “đường lưỡi bò” và đường này đang kéo qua đảo Đài
Loan, đảo Ryuku của Nhật Bản để trở thành “vùng kiểm soát chiến lược” của
quốc gia này (chuỗi đảo thứ nhất). Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các
hòn đá tảng để Trung Quốc thực hiện các chiến lực đại dương sau này.
1.2.2. Về giao thông hàng hải
Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, nằm trên
tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ
Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Hầu hết các nước trong
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng
hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển thông
thương lớn nhất trên thế giới hiện nay thì có tới 5 tuyến đi qua Biển Đông
hoặc có liên quan đến Biển Đông.
Quần đảo Trường Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình
Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, giữa Châu Âu với Châu Phi,
11



Hình 1.3: Các tuyến đường vận chuyển dầu thô chính trên Biển Đông
(Nguồn: South China Sea (2013), U.S. Energy Information Administration)

13


Hình 1.4: Các tuyến đường vận chuyển khí thiên nhiên hóa lỏng
trên Biển Đông
(Nguồn: South China Sea (2013), U.S. Energy Information Administration)

Ngoài ra, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn có vị trí chiến lược
quan trọng, có thể dùng để thiết lập các căn cứ nhằm kiểm soát các tuyến
hàng hải quan trọng qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt
trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu
cho tàu bè... Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát
được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông.
1.2.3. Về kinh tế
1.2.3.1. Tài nguyên phi sinh vật
Quần đảo Hoàng Sa tuy chỉ gồm một số đảo nhỏ giữa Biển Đông,
không có cư dân sinh sống thường xuyên, chỉ có một số đoàn ra khai thác
theo mùa các tài nguyên như: phân chim, tổ yến, san hô, đánh cá trong hàng
thế kỷ. Nhưng cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của
luật quốc tế với các quy định mở rộng tối đa chủ quyền ra hướng biển của
quốc gia ven biển, thì các quốc gia có tiềm lực an ninh và tầm nhìn xa bắt đầu

14


nhòm ngó quần đảo này như một cơ sở khí tượng thủy văn, và quan trọng hơn

hội cho Việt Nam cùng chia sẻ thị phần vận tải quốc tế, khi đó Trường Sa trở
thành chiếc cầu nối vô cùng quan trọng để phát triển thương mại quốc tế và
mở rộng giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Ngoài dầu khí, Biển Đông còn có tiềm năng về rất nhiều loại khoáng
sản có giá trị khác. Chỉ tính riêng trên vùng biển Việt Nam, hiện đã biết tới 35
loại khoáng sản (nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và bán
quý…), tiềm năng sa khoáng (tital, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm...). Các
chuyên gia Nga đánh giá, khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn
chứa đựng tài nguyên băng cháy (methane hydrate), loại năng lượng sạch
trong tương lai có thể còn quý hơn dầu mỏ. Trữ lượng loại tài nguyên này trên
thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng
lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần.
1.2.3.2. Tài nguyên sinh vật
Biển Đông không chỉ giàu có về nguồn nhiên liệu năng lượng. Những
nguồn tài nguyên biển khác như thủy sản, đặc biệt là những loài cá cũng làm
cho Biển Đông trở thành địa điểm tranh giành giữa những quốc gia liên quan.
Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng Biển Đông sự đa dạng
sinh học cao so với các nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ
sinh thái và nguồn gen. Biển Đông tiêu biểu cho vùng biển nhiệt đới, nhiệt độ
trung bình 20 độ C, nhiều ánh sáng, giàu oxy, độ muối trung bình khoảng 2033‰ tạo điều kiện cho sinh vật biển có điều kiện tăng trưởng nhanh, nhất là
vùng ven bờ, nơi giàu thức ăn. Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện
được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển
hình. Trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài
cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật
phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm
biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển.

16





Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan): Trong Tuyên bố về đường cơ sở
ngày 15/5/1996, Trung Quốc đã vạch đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải quần
đảo Hoàng Sa là đường thẳng nối liền các điểm cơ sở được liệt kê trong bản
Tuyên bố, bao gồm 28 điểm, nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, các bãi
nửa nổi nửa chìm ngoài cùng của quần đảo [12, tr.348] như Đá Bắc (Beijiao),
Cồn Cát Tây (Zhaoshudao), Đảo Bắc (Beidao), Đảo Nam (Nandao), Đảo Lincon
(Dongdao), Đá Bông Bay (Langhuajiao). Các đoạn dài nhất là đoạn 3-4 (Lincon
- Đá Bông Bay) 36,3 hải lý; đoạn 7-8 (Đá Bông Bay - Đá Triton) 75,8 hải lý;
đoạn 14-15 (Đá Triton - Đá Bắc) 78,8 hải lý; đoạn 22-23 (Đá Bắc - Cồn Cát tây)
41,5 hải lý; đoạn 28-1 (Đảo Nam - Đảo Lincon) 28 hải lý.
Qua hệ thống các điểm cơ sở quần đảo Hoàng Sa được Trung Quốc công
bố, có thể thấy Trung Quốc đã sử dụng đường cơ sở thẳng nối liền các điểm
ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá của quần đảo. Cách vạch đường cơ
sở này tương tự như cách vạch đường cơ sở của quốc gia quần đảo được quy
định tại Điều 47 phần IV của Công ước Luật biển 1982. Diện tích mà hệ thống
đường cơ sở này của Trung Quốc bao lấy là một khu vực rộng 17.300km2, trong
khi tổng diện tích các đảo nổi của quần đảo Hoàng Sa chỉ là 10 km².

Hình 1.5. Đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc vẽ

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status