Nghiên Cứu Tính Đa Dạng Sinh Học Và Khả Năng Nhân Giống Hoa Đỗ Quyên Tại Vườn Quốc Gia Hoàng Liên Sa Pa - Lào Cai - Pdf 35

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN XUÂN KHOA

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ KHẢ
NĂNG NHÂN GIỐNG HOA ĐỖ QUYÊN TẠI VƯỜN
QUỐC GIA HOÀNG LIÊN SA PA - LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - NĂM 2010


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học
vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.
Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Khoa


iii

iv

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài

1

2. Mục đích yêu cầu của đề tài

3

2.1. Mục đích

3

2.2. Yêu cầu

3

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4

3.1. Ý nghĩa khoa học

4


8

1.2.3. Nước

9

1.2.4. Đất

10

1.2.5. Nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây hoa Đỗ Quyên

10

1.2.6. Các loại sâu bệnh thường gặp ở Đỗ quyên

13

1.3. Tình hình nghiên cứu và tư liệu về hoa Đỗ quyên trên thế giới và
Việt Nam

15

1.3.1. Trên thế giới

15

1.3.2. Ở Việt Nam



31

2.1. Đối tượng nghiên cứu

31

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

31

2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

31

2.3.1. Nội dung nghiên cứu

31

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu

31

2.3.2.1 Phương pháp kế thừa

32

2.3.2.2. Điều tra, khảo sát ngoài thực địa kết hợp thu mẫu vật, mô tả
tình hình sinh trưởng của các loài Đỗ quyên
2.3.2.3. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Đỗ quyên bằng phương pháp giâm

3.2.5. Tình hình phân bố của 30 loài Đỗ quyên khu vực Hoàng Liên

62

3.3. Nghiên cứu nhân giống loài Đỗ quyên Hoa bông bằng phương
pháp giâm hom
3.3.1. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng nhân giống Đỗ
quyên bằng phương pháp giâm hom
3.3.1.1. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra mô sẹo của hom
Đỗ quyên hoa bông
3.3.1.2. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra lá, bật mầm và
chiều cao của hom Đỗ quyên hoa bông

64
64
65
66


vi
3.3.1.3. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ, thời gian ra
rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên hoa bông
3.3.2. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng nhân giống Đỗ
quyên hoa bông bằng phương pháp giâm hom
3.3.2.1. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra mô sẹo của
hom Đỗ quyên hoa bông
3.3.2.2. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra lá, bật mầm
và chiều cao của hom Đỗ quyên hoa bông
3.3.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ, thời
gian ra rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên hoa bông


DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

81

TÀI LIỆU THAM KHẢO

82

PHỤ LỤC

85


vii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐQ

Đỗ quyên

VQG

Vườn Quốc gia

HL

Hoàng Liên

ĐC



viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các họ đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên

21

Bảng 1.2. Các chi đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên

22

Bảng 3.1. Danh sách các loài Đỗ quyên khu vực Hoàng Liên

41

Bảng 3.2. Phân loại Đỗ quyên theo nhóm chức năng và nhóm đánh
giá

42

Bảng 3.3. Đặc điểm hình thái thân của các loài Đỗ quyên tại khu
vực Hoàng Liên

45

Bảng 3.4. Đặc điểm lá của các loài Đỗ quyên khu vực Hoàng Liên

48


Bảng 3.11. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả ra mô sẹo
của hom Đỗ quyên hoa bông

71

Bảng 3.12. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra lá,
mầm và chiều cao của hom Đỗ quyên hoa bông

73

Bảng 3.13. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ,
thời gian ra rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên hoa
bông

74

Bảng 3.14. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra mô
sẹo của hom Đỗ quyên hoa bông

76

Bảng 3.15. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra lá,
mầm và chiều cao của hom Đỗ quyên hoa bông

77

Bảng 3.16. Ảnh hưởng của độ dài hom đến khả ra rễ, thời gian ra
rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên Hoa bông

79

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội ở nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước Á Đông. Trồng hoa và chơi hoa là
một thú vui tao nhã của mọi người, từ các bậc quyền quý đến các hộ dân
nghèo. Những năm trở lại đây, nhu cầu về hoa trên thế giới ngày càng
tăng cả về số lượng và chất lượng. Ở Lào Cai, với những điều kiện khí
hậu, đất đai phù hợp cho việc trồng và phát triển nhiều loại hoa, đặc biệt
ở các huyện vùng cao như: Sa Pa, Bắc Hà với khí hậu ôn đới mát mẻ có
thể trồng được nhiều loại hoa chất lượng cao mà địa phương khác không
trồng được. Từ năm 2001 đến nay, nghề trồng hoa ở Lào Cai đã được
hình thành và phát triển, mang lại thu nhập kinh tế cao cho nhiều doanh
nghiệp, hộ gia đình và cung cấp các sản phẩm có chất lượng cho thị
trường trong và ngoài nước. Các loại hoa chất lượng cao như: Hoa Lily,
hồng, Đỗ Quyên và các loài Lan bản địa đã dần có tên tuổi, gắn liền với
những vùng du lịch nổi tiếng.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường,
sự phát triển ồ ạt của các ngành công nghiệp cùng với áp lực của sự gia
tăng dân số đã có nhiều tác động xấu đến các hệ sinh thái rừng, đặc biệt
là rừng tự nhiên. Nhiều loài động, thực vật quý, hiếm bị khai thác, săn
bắn, xâm lấn nơi ở hoặc môi trường sống bị ô nhiễm đã dẫn đến nguy cơ
bị tuyệt chủng. Hơn thế, cuộc sống của chúng ta ngày càng bận rộn, lo
toan nên khoảng cách giữa con người và tự nhiên dường như ngày càng
xa cách. Cho dù vậy, thiên nhiên luôn cần thiết cho mỗi chúng ta, bởi nó
là khởi nguồn của sự sống, nó sẽ đem đến tình yêu và sức mạnh, đó
chính là lý do giải thích về tầm quan trọng của du lịch sinh thái, một
ngành kinh tế không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. Du lịch sinh thái
là khâu kết nối giữa con người với tự nhiên và giữa con người với nhau,




3
trữ lượng loài. Bên cạnh đó, nạn cháy rừng cũng đã làm mất đi nơi sống
của chúng. Trong khi đó, việc nghiên cứu cơ bản về loài cây này còn rất
hạn chế, rất có thể có loài bị tiêu diệt trước khi được nghiên cứu.
Để thực hiện ngày càng tốt hơn công tác bảo tồn phát triển các loài
cây ĐQ và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học. Đồng thời tạo hướng
sản xuất hàng hóa những loài cây này phục vụ nhu cầu chơi cây cảnh, sử
dụng làm thuốc chữa bệnh, trồng cây cảnh quan,... tăng thu nhập cho
người dân địa phương và giảm áp lực của cộng đồng lên tài nguyên thiên
nhiên VQG Hoàng Liên. Xuất phát từ thực tế và yêu cầu của sản xuất và
bảo tồn đa dạng sinh học nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tính đa dạng sinh học và khả năng nhân giống hoa Đỗ
quyên tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa - Lào Cai”.
2. Mục đích yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Mô tả các đặc điểm hình thái, tình hình sinh trưởng của các loài
Đỗ quyên tại khu vực Hoàng Liên.
- Một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống loài Đỗ quyên hoa
bông bằng phương pháp giâm hom tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên - Sa
Pa - Lào Cai.
2.2. Yêu cầu
- Mô tả đặc điểm hình thái, tình hình sinh trưởng phát triển của Đỗ
quyên, phân loại các loài Đỗ quyên theo các nhóm chức năng.
+ Nhóm cây làm cảnh
+ Nhóm cây làm thuốc
+ Nhóm cây cho quả ăn được
+ Nhóm cây cho mục đích khác.
- Nhân giống loài Đỗ quyên hoa bông bằng phương pháp giâm hom.

(Rhododendron spp.) là một loài cây cảnh nổi tiếng, dân gian thường nói
“Hoa trung Tây thi” (Tây thi trong hoa, ND). Hiện nay có khoảng hơn
1.000 loài. Trung Quốc có khoảng hơn 600 loài, có thể chia ra xuân
quyên, hạ quyên, xuân hạ quyên.
Đỗ quyên nguyên sản ở Trung Quốc, thuộc họ Đỗ quyên, là cây
bụi thường xanh, nửa thường xanh hoặc dụng lá hoặc là cây bụi, cây gỗ
thân to có cây cao hơn 20m, cây nhiều nhánh, nhánh nhỏ dày, nhánh non
có lông, màu nâu. Lá mọc lệch hình dạng khác nhau theo loài, hình tròn,
hình bầu dục, hình trứng,... Màu hoa cũng rất nhiều và khác nhau theo
loài, trắng, tím, hồng, vàng, đỏ, tím nhạt,... Cũng nhiều loài có hai màu
hoa. Hoa xuân quyên nở vào tháng 4 - 5, hoa hạ quyên nở vào tháng 5-6.
Quả chín màu nâu sẫm, hạt màu vàng sẫm, nhỏ.
Hoa Đỗ quyên còn gọi là Thạch lựu núi, khái niệm hẹp này có
nghĩa là chỉ phân bố ở vùng núi phía nam lưu vực sông Trường Giang,
người ta cho rằng loài hoa Đỗ quyên có nguồn gốc từ Trung Quốc được
phân bố nhiều ở các bờ nam và bắc các con sông lớn của Trung Quốc,
mỗi lần tiết thanh minh đến hoa đều nở rộ và được cho vào các bình,
chậu được xem như gió thơm xuân và khi đi dọc đường có hoa Đỗ quyên
nở người ta thường có cảm giác như là một rừng hoa núi.
Hoa Đỗ quyên có lịch sử lâu đời tại Trung Quốc, vào năm 402 sau
công nguyên đã xuất hiện hoa Đỗ quyên, sử sách Trung Quốc có ghi lại
thời đó Dê ăn lá Đỗ quyên bị chết; Thời đường ở Giang Tô đã trồng cây
Đỗ quyên và lưu truyền rằng Hoàng hậu Đường chinh thường đi thưởng
thức hoa Đỗ quyên vào ngày tết. Người ngoại quốc lấy rễ cây hoa Đỗ


6
quyên làm thuốc chữa bệnh. Đến thời Minh có rất nhiều tài liệu ghi chép
lại về hoa Đỗ quyên nhưng đến đời Thanh mới có một cuốn sách mô tả,
tổng kết kinh nghiệm về tập tính và cách trồng hoa Đỗ quyên. Đến thời

vàng có Đỗ quyên vàng lam, Đỗ quyên vàng nâu, Đỗ quyên vàng thẫm,
vàng nhạt, vàng xanh,… [2],[10],[12].
Theo I. Miyajima, K. Ureshino, N. Kobayashi, M. Akabane (2000)
[30], R. De Loose (1978) [34], phân tích hóa học cho thấy nguyên do
màu đỏ ở hoa Đỗ quyên là các chất sắc anthocyanin. Hai chất chính
cyanidin glucosid và cyanidin diglucosid thường gặp bên cạnh peonidin
diglucosid. Hoa màu tía chứa đựng malvidin diglucosid, màu tím là do
myricetin methyl ether mà ra, còn quercetin, azaleatin, methoxy
kaempferol chuyển màu đỏ xanh. Lượng các cyanidin hay flavonol, mà
nhiều nhất là azaleatin rhamnosyl gucosid, làm thay đổi màu hoa từ đỏ
thẫm, đỏ xanh qua hồng nhiệt, đỏ cam, đỏ vàng. Càng ít cyanidin
glucosid, màu đỏ càng chuyển qua xanh. Cyanidin còn hiện ra dưới các
thể galactosid, arabinosid, galactosid glucosid, araginosid. Trong số các
flavon khác, đã xác định được những pelargonidin, delphinidin,
petunidin, còn flavonol glycosid thì có quercetin galactosid, rhamnosid,
azaleatin galactosid, malvidin glucosid, delphinidin glucosid. Hai chất
sau nầy nhuộm hoa màu tía, còn caroten hiến màu vàng trong hoa Rh.
japonicum f. flavum.
1.1.2. Đặc điểm thực vật học
Cây bụi, cây thân gỗ, thường xanh hoặc lá rụng.
Lá đơn, mọc cách, ít khi mọc đối hoặc mọc vòng, mép lá nguyên
hoặc có răng cưa, không có lá kèm.
Hoa tự đơn lẻ hoặc chùm, tán hoặc viền thùy ở nách lá hoặc đầu
cành, thường có 1 - 3 lá bắc. Hoa lưỡng tính đều hoặc không đều. Đài 4 5 cánh hợp gốc, tràng hợp ống, 4 - 5 cánh xếp lợp, đỉnh cánh tràng
thường có vết lõm. Nhị rời, thường gấp đôi số cánh tràng, bao phấn 2 ô
thường mở lỗ và có cựa. Triền hoa trong nhị. Bầu trên 4 - 5 ô, đôi khi
nhiều hơn. Mỗi ô 1 đến nhiều noãn, đính noãn trung trụ. Vòi nhụy
nguyên.
Quả nang, thường có múi, đôi khi quả mọng. Hạt thường có cánh,
nhiều phôi nhũ [3].

và sự ra hoa càng bị ảnh hưởng, có một số loài hoa Đỗ quyên ở nơi chiếu
sáng mạnh nhiệt độ cao thì các lá sẽ nhỏ lại nụ hoa phát triển không


9
đồng đều, nếu ở nhiệt độ dưới 10oC thời gian hoa nở kéo rất dài có khi
đến 80 ngày không bị héo, nếu nhiệt độ lớn hơn 20oC thời gian sẽ ngắn
hơn chỉ được khoảng 40 ngày. Do hoa Đỗ quyên sinh trưởng ở vùng cao
nên có khả năng chịu rét rất tốt thậm chí có loài hoa Đỗ quyên chịu được
nhiệt độ là âm 30oC [8],[21].
1.2.3. Nước
Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật. Nước giữ vai
trò quan trọng trong phân chia tế bào, khi có đầy đủ nước và môi trường
thích hợp, tế bào phân chia, phát triển thuận lợi cây sinh trưởng nhanh.
Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây hoa giảm, các
hợp chất hữu cơ được tạo thành ít, cây còi cọc, phát triển kém. Nếu sự
thiếu nước kéo dài, cây hoa có thể khô héo và chết. Nhưng, nếu quá
nhiều nước, cây bị úng ngập, sinh trưởng phát triển của cây cũng bị
ngừng trệ. Quá ẩm ướt, sâu bệnh phát triển mạnh, hoa cho năng suất
thấp, chất lượng hoa kém. Mỗi loại hoa yêu cầu độ ẩm khác nhau. Hoa
Đỗ quyên thuộc ôn đới yêu cầu độ ẩm đất thường khoảng 70 - 90%, nếu
khống chế ẩm độ thích hợp thì độ dài cành tăng thêm trung bình 8,2%.
Hoa Đỗ quyên trong quá trình phát triển có bộ rễ rất mảnh, phản
ứng rất nhạy cảm đối với nước vừa sợ hạn vừa sợ úng chỉ cần cung cấp
đủ, quá khô hoặc quá ẩm đều không có lợi cho sinh trưởng. Hoa Đỗ
quyên cũng yêu cầu rất nghiêm khắc với trữ lượng nước, bình thường thì
ưa nước hơi chua nếu như tưới nước hơi kiềm thì sẽ làm cho đất chua
biến thành kiềm sẽ ảnh hưởng đến hoa. Nếu cây ra lá thiếu nước cây sẽ
bị vàng lá, đọt lá xoăn, hoa rủ không tươi và có thể chết. Cần phải căn cứ
vào tình hình thời tiết, không khí khô hay ẩm và lượng nước trong đất để

Theo Nguyễn Như Hà (2006) [7], Nguyễn Ngọc Nông (2009) [15]
+ Đạm (N): là nguyên tố quan trọng nhất của cây, nó là thành phần
của axit amin, protein, axit nucleic, men, chất kích thích sinh trưởng,
vitamin (chiếm khoảng 1-2% khối lượng chất khô). Cây có thể hút đạm
dưới các dạng: NO3-, NO2-, NH4+, axit amin,.. Đạm ảnh hưởng rất lớn tới
sản lượng và chất lượng hoa, thiếu đạm cây sinh trưởng chậm, phân cành


11
yếu, cành, lá nhỏ, diệp lục tố ít, lá biến vàng, lá già và dễ bị rụng, rễ nhỏ
dài và ít, cây thấp khả năng quang hợp giảm.
+ Lân (P): tham gia vào thành phần quan trọng của axit nucleic và
màng tế bào, tạo thành ATP là vật chất mang và tải năng lượng. Lân
thường chiếm từ 1 - 1,4% khối lượng chất khô của cây. Cây hút lân dưới
dạng H2PO4- và HPO42-, lân có thể di chuyển trong cây, chủ yếu tập
trung ở phần non. Khi thiếu lân thì phần già biểu hiện trước. Lân cũng
ảnh hưởng lớn đến phẩm chất cây. Thiếu lân dẫn tới tích lũy đạm dạng
nitrat gây trở ngại cho việc tổng hợp protein. Cành, lá, rễ sinh trưởng
chậm, cây thấp bé, lá có màu tím tối hoặc tím đỏ ảnh hưởng đến tổng
hợp chất tinh bột, hoa nở khó. Nhiều lân quá sẽ ức chế sinh trưởng dẫn
tới thừa sắt, lá biến vàng, ảnh hưởng tới sự hút sắt.
+ Kali (K): không tham gia thành phần cấu tạo của cây, thường tồn
tại trong dịch bào dưới dạng ion. Tác dụng chủ yếu của kali là điều tiết
áp suất thẩm thấu của tế bào, thúc đẩy quá trình hút nước, hút dinh
dưỡng của cây. Khi ánh sáng yếu kali có tác dụng kích thích quang hợp,
tăng sức đề kháng cho cây. Trong cây, kali di động tự do. Nếu thiếu kali,
sự sinh trưởng, phát dục của cây giảm sút, mép lá thiếu màu xanh, ngọn
lá khô héo sau đó lan ra toàn lá, các đốt ngắn lại, nụ hoa nhỏ và dễ trở
thành hoa mù. kali là nguyên tố mà cây hút nhiều nhất, (gấp 1,8 lần
đạm), kali ít ảnh hưởng tới phát triển của cây so với đạm và lân. Tuy

quan hệ chặt với sự hình thành diệp lục và quá trình quang hợp. Nếu
thiếu Mn, quang hợp sẽ giảm. Mn làm tăng hoạt tính của rất nhiều loại
men. Trong cây, Mn và sắt có tính đối kháng, nhiều Mn thì thiếu sắt, sắt
quá nhiều thì thiếu Mn. Khi thiếu Mn, trên lá xuất hiện những vết vàng.
+ Bo (Bo): có tác dụng rất quan trọng tới sự phân hóa hoa, tới quá
trình thụ phấn, thụ tinh và sự phát dục của cơ quan sinh thực, đồng thời
còn có tác động tới sự chuyển hóa và vận chuyển của đường. Nếu thiếu
Bo, phần chóp ngọn cây ngừng sinh trưởng, lá và cành hoa cong lại, đốt
ngắn lại. Nếu nhiều Bo quá, mép lá biến thành màu nâu, các phần khác
biến vàng.


13
+ Kẽm (Zn): kích thích sự giải phóng CO2 trong diệp lục, kích thích
quang hợp. Kẽm có liên quan đến sự hình thành kích tố sinh trưởng. Nếu
thiếu kẽm, chất kích thích sinh trưởng khó hình thành, ảnh hưởng tới sự
sinh trưởng của cây, đốt ngắn lại, lá và gân lá thiếu màu xanh sau đó
chuyển vàng, trắng và chết khô.
+ Đồng (Cu): có trong các Coenzyme, trong nhiều loại men
oxidase, tham gia vào quá trình ôxi hóa khử trong cây. Đồng có quan hệ
rất chặt chẽ với việc hình thành chất diệp lục, quan hệ tới hiệu suất
quang hợp đồng thời còn tham gia vào quá trình trao đổi của đường và
protein.
1.2.6. Các loại sâu, bệnh thường gặp ở Đỗ quyên
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Mão (2001) [14] về các
loại sâu, bệnh hại thường gặp ở trên cây hoa Đỗ quyên cho thấy:
Các loại bệnh thường gặp ở Đỗ quyên:
Bệnh thối rễ, bệnh đốm nâu, bệnh đốm đen, bệnh khô lá và bệnh
vàng lá.
- Bệnh thối rễ: Sau khi bị bệnh cây khô héo, trên rễ có các đốm

mất dinh dưỡng ảnh hưởng đến ra hoa.
Phương pháp phòng trừ: cần đặc biệt chú ý đến diệt rệp qua đông.
Mùa đông dùng hợp chất lưu huỳnh vôi 5% để diệt trứng rệp. Cuốc cỏ
xung quanh cây để diệt rệp trú ngụ. Kỳ rệp gây hại dùng thuốc Rogor
0,1% phun 3-4 lần.
- Nhện râu ngắn: là một trong những loài sâu nguy hiểm, thường
hút nhựa trên lá cành non và gây hại vào mùa hè khô nóng; mưa nhiều số
lượng sâu sẽ giảm bớt.
Phương pháp phòng trừ: trong tháng 10 đến tháng 3 năm sau phun
1 lần hỗn hợp chất lưu huỳnh vôi 0,50Be, hoặc phun Sumithion 0,2% để
diệt.


15
1.3. Tình hình nghiên cứu và tư liệu về hoa Đỗ quyên trên thế giới và
Việt Nam
1.3.1. Trên thế giới
Theo Nguyễn Thị Thanh Hương, Trần Minh Hợi, Nguyễn Tiến
Hiệp (2009) [9], Lê Khả Kế (1969-1976) [12], Nguyễn Nghĩa Thìn,
Nguyễn Thị Thời (1998) [20], Đỗ quyên là một nhóm các loài cây có
hoa đẹp và được nhiều người ưa thích ở nhiều nước trên thế giới với vẻ
đẹp dịu dàng của nó. Chúng chỉ phân bố tự nhiên ở những vùng núi cao,
có khí hậu quanh năm mát mẻ. Với đặc điểm hoa to, màu sắc đẹp và đa
dạng nên rất nhiều loài (đặc biệt trong chi Đỗ quyên - Rhododendron L.)
được sử dụng trồng và là nguồn để tạo ra hơn 1000 loài lai đẹp dùng làm
cây cảnh bán trên thị trường thế giới. Đỗ quyên được coi là những loài
hoa vương giả. Chính vì mục đích đó, ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ
hàng nghìn loài hoang dại và lai đã được trồng trong các vườn gia đình
và nơi công cộng.
Họ Đỗ quyên (Ericaceae) trên thế giới có chừng 107-111 chi với

châu Phi. Ở Việt Nam có khoảng 30 loài Đỗ quyên .
Cây Đỗ quyên (Rhododendron af) phân bố tự nhiên ở những vùng
có khí hậu quanh năm mát mẻ, thuộc loài cây của vùng á nhiệt đới hoặc
ôn đới. Trên thế giới, Đỗ quyên phân bố nhiều ở vùng ôn đới Bắc Mỹ,
vùng cao nguyên tiếp giáp Á - Âu và Đông Á, phổ biến ở Nhật Bản, Bắc
Triều Tiên và Trung Quốc.
Theo Lê Trần Đức (1997) [6], Trần Hợp (1993) [11], hoa Đỗ quyên
Rhododendron, còn có tên Đỗ quyên ấn, hồng thụ ấn, thạch nam, thuộc
họ cùng tên Đỗ quyên Ericaceae, ngày nay với kỹ thuật hợp lai phổ biến
rộng rãi, không chỉ toàn một màu đỏ thắm mà tùy nơi còn mang nhiều
sắc trắng, tím, tía, son qua hồng nhiệt, đỏ thẫm, đỏ gạch, đỏ hồng, đỏ
xanh, đỏ cam, đỏ vàng,… Nguồn gốc núi cao châu Á nhiệt đới (Nhật



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status