BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG CÂY RAU SẮNG (Melientha suavis Pierre) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA – PHƯỢNG HOÀNG – THÁI NGUYÊN - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
------------------------------------------------

NGUYỄN ĐÌNH LƯU

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG
CÂY RAU SẮNG (Melientha suavis Pierre) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN
NHIÊN
THẦN SA – PHƯỢNG HOÀNG – THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái nguyên - Năm 2010


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
------------------------------------------------

NGUYỄN ĐÌNH LƯU

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG
CÂY RAU SẮNG (Melientha suavis Pierre) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN
NHIÊN
THẦN SA – PHƯỢNG HOÀNG – THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số

: 60.62.60


Thái Nguyên, ngày 12 tháng11 năm 2010
Học Viên
Nguyễn Đình Lưu


KÍ HIỆU DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Kí hiệu
LSNG
Ôr
TM
RS
K
SS
LX
G
ĐPT
LK
CT
SP1
SP2
TN
CT

BTTN
Đ/C
ppm
CBCN
VC
ĐDSH
VQG



Mục lục
Mục

Nội dung
Đặt vấn đề

1.1
1.2
1.3
2.1
2.1.1
2.1.1.1
2.1.1.2
2.1.1.3
2.1.1.4
2.1.2
2.1.2.1
2.1.2.2
2.1.2.3
2.1.3
2.1.3.1
2.1.3.2
3.1
3.1.1
3.1.2
3.2
3.3
3.4

PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Mục tiêu cụ thể
Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa số liệu
Phương pháp thực nghiệm
Quy trình thực hiện nội dung 2
Quy trình thực hiện nội dung 3
Quy trình thực hiện nội dung 4
Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
Chương 4:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp nuôi cây

Ảnh hưởng của một số loại môi trường đến khả năng tái sinh
chồi rau ngót rừng sau 60 ngày nuôi cấy

Trang
1
2
2
6
13
15
15
15
15
16

4.2.1
4.2.1.1
4.2.1.2
4.2.1.3
4.2.2.
4.2.2.1
4.2.2.2
4.2.2.3
4.2.2.4
4.2.2.5
4.2.2.6
4.3
4.3.1
4.3.2
4.3.3
4.4
5.1
5.2
5.3

Ảnh hưởng của nồng độ nước dừa đến khả năng nhân nhanh
chồi rau ngót rừng sau 60 ngày nuôi cấy
Ảnh hưởng của một số cytokine đến khả năng nhân nhanh
chồi sau 60 ngày nuôi cấy
Kết quả nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp giâm hom
Tỷ lệ hom ra rễ của loài rau sắng ở các công thức thí nghiệm
khác nhau với chế phẩm IAA, IBA và NAA
Tỷ lệ hom ra rễ của loài rau sắng ở các công thức thí nghiệm
khác nhau với chế phẩm IAA
Tỷ lệ hom ra rễ của loài rau sắng ở các công thức thí nghiệm

Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

40
41
43
43
43
45
47
50

50
53
54
57
58
60
61
61
62
64
66
67
67
68
68
69



giống cây rau sắng (Melientha suavis Pierre) tại khu bảo tồn thiên Thần Sa
– Phượng Hoàng – Thái Nguyên”.


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Theo Paul Hiepko (1979), họ rau sắng (Opiliaceae), là một loại thuộc
họ rau nghiến hay dương đào (Olacaceae) được xắc định bởi Valeton (1886).
Các tranh luận được kết thúc về mối quan hệ giữa họ rau sắng và họ
Santalaceae khi hai tác giả Fagerlind (1948) và Johri & Bhatnagar (1960)
khẳng định ở vùng nhiệt đới họ rau sắng được coi là một chi nhỏ thuộc bộ đàn
hương Santalales (hoặc olacales).
Những câu hỏi liên quan đến việc bố trí các chi của Opiliacae và các
mối quan hệ gia đình cho các gia đình khác nhau ở các khu vực khác nhau,
khi Paul nghiên cứu các chi từ vùng nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ, ở một số
nước Đông Nam Á và Australia. Các chi được tìm thấy ở Đông Nam Á có cả
chi Melientha. Chi Opilacae chỉ có các loài được tìm thấy ở Châu Á và chỉ có
quan hệ họ hàng với các loài ở Châu Phi [38].
Rau sắng được mô tả một cách tổng quát như sau: là một loài cây
thường xanh, cây bụi hoặc dây leo. Lá xếp thành 2 dãy quanh thân; lá thường
biến đổi về kích thước; thường là lá kép lông chim. Mặt trên của lá thường
mịn, mặt dưới có nốt sần nhỏ. Hoa mọc thành cụm hình chùy, phân nhánh có
cuống hoặc không cuống. Hoa nhỏ, hoa có nắp, đôi khi thống nhất; nhị nhiều,
bố trí đối diện nhau; bao phấn chia 2 ngăn.
Theo Soonthorn Khamyong (1995), ngót rừng thuộc họ Rau sắng
(Hiepko,1980) là một loại cây cung cấp thực phẩm quen thuộc và quan trọng
của người Thái, đặc biệt là khu vực miền Đông Bắc và miền Bắc (Jacquat and
Bertossa, 1990).Gia bán thương phẩm trung bình khoảng 200 bạt/kg.
Ở Thái Lan, trồng rau sắng được rất nhiều người quan tâm, họ trồng

đồng (Diptericarpus tuberculatus). Các loài này có các giá trị tần suất hiện
loài, sự phong phú, mức độ đầy, mức độ ưu thế và quan hệ chủ yếu thấp hơn
so với loài cẩm liên.


4. Rau sắng có các giá trị tần suất xuất hiện loài, sự phong phú, mức độ
đầy, mức độ ưu thế và quan hệ chủ yếu (trên tổng số 41 loài và 191 cá thể với
diện tích 1600m2) lần lượt là: 100%; 3,64; 3,18%; 2,67%; 2,91%.
5. Trong tổng số 41 loài, rau sắng là loài chuyển tiếp trong tầng tán
rừng. Trong cấu trúc rừng sự ảnh hưởng của nó tới cấu trúc là không lớn. Rau
sắng thường phát triển ở những khoảng trống của rừng [37].
Peter Hanelt, (2001). Theo ông rau ngót rừng thuộc họ rau sắng
(Opiliaceae), có tên la tinh là Melientha suavis Pierre (1888) hoặc Melietha
acuminata Merr (1926), tên thường dùng Melientha suavis Pierre (1888). Ở
vùng Sabah của Malaysia rau sắng có tên là tangal; trên đảo Mindanao của
Philippines cây có tên malatado; Campuchia rau sắng có tên là daam prec;
Lào gọi cây là hvaan; Thái lan cây có tên là Phakwaan-pa; tại Việt Nam cây
được gọi là rau ngót rừng hoặc rau sắng.
Rau sắng là một loại rau được khai thác chủ yếu từ tự nhiên. Các sản
phẩm được sử dụng làm thức ăn là cành non, lá, quả và hoa, bằng cách nấu
chín. Ở Việt Nam quả chín chế biến bắng cách nấu chín hoặc rang đều ngon.
Tại Thái Lan rau sắng còn được dùng làm củi, lấy than. Chúng được trồng
xen với cây ăn quả, và như một loại rau thương phẩm [33].
Somying Soontornwong, Rawee Thaworn, Attjala Roongwong, (2005).
Với nghiên cứu về sự phân bố và các kiến thức bản địa trong hoạt động trồng,
chăm sóc và khai thác cây rau sắng tại rừng cộng đồng Rom Pho Thong,
huyện Tha Takiap, tỉnh Chachoengsao, Thái Lan. Qua nghiên cứu các tác giả
đã tìm hiểu được một số phương pháp nhân giống, ưu và nhược điểm của
từng phương pháp như sau:
Thứ nhất, nhân giống bằng hạt cho kết quả nảy mầm là tương đối lớn.

đã chứng minh rằng một số chất có trong rau sắng có khả năng chống lại được
một số bệnh ung thư (Abdille, 2005), một số bệnh kinh niên
, chẳng hạn như khối u, các bệnh tim mạch, viêm, thoái hóa thần kinh, đục
thủy tinh thể, bệnh tiểu đường cũng như quá trình lão hóa (Papetti et al., 2006;
Toor, et al., 2006) [31].


1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Rau sắng được gọi với nhiều tên khác nhau như: rau Mỳ
chính, rau ngót rừng, đồng bào dân tộc Tày Thái gọi là Sắc (Pắc) van, dân tộc
Dao gọi là Lai cam…là loại rau có thể sử dụng cả hoa, quả và lá làm thực
phẩm rất giàu dinh dưỡng, được ưa thích của người Việt.
Rau sắng là loài cây mọc chủ yếu ngoài tự nhiên, được khai thác bằng
cách chặt cành, đốn cây hoặc dùng sào vụt để tạo chồi cho cây do vậy mà,
hiện nay, ngoài tự nhiên loài cây này còn rất ít, khả năng tái sinh kém.
Với giá trị dinh dưỡng và thương phẩm cao, số lượng cá thể ngoài tự
nhiên lại có hạn cho nên rau ngót rừng được chọn là loài cây LSNG cần được
bảo tồn và phát triển nhằm bảo tồn nguồn gen quý đồng thời góp phần tạo
nguồn thu nhập cho cộng đồng dân cư sống gần rừng.
Ở nước ta, những công trình nghiên cứu về cây rau sắng còn ít, chủ yếu
tập trung vào điều tra và phân tích những đặc điểm sinh vật học, sinh thái học
và giá trị sử dụng. Những nghiên cứu về các phương pháp nhân giống còn
nằm trong giai đoạn thử nghiệm, thành công bước đầu cho kết quả cao nhất là
phương pháp nhân giống bằng hạt, chưa đáp ứng được nhu cầu về giống và
khả năng tạo sản phẩm sớm.
Theo Phạm Hoàng Hộ, (2003). Rau ngót rừng có tên khoa học là
Melientha suavis Pierre, 1888 hoặc Melientha acuminata Merrill, 1926; thuộc
họ Sơn Cam (Opiliaceae), bộ Đàn Hương (Santalales). Cây thuộc cây gỗ lớn,
cao 4 – 14 m. Phiến lá thon hình bậu dục hay trái xoan, đặc biệt khi khô mặt
trên của lá có một lớp như có cát mịn. Hoa nhỏ, thơm, mọc ở nách lá; đài rất

Rau sắng được phân thành cây cái và cây đực, cả 2 giống đều ra hoa,
nhưng chỉ cây cái cho quả. Hoa thường có dạng chùm trắng muốt, lấm tấm
như hoa ngâu thường gọi là rồng rồng. Trước kia rau sắng chỉ mọc hoang dã
và bị người dân khai thác tận thu mà không có bảo tồn, chăm sóc và phát triển
nên là một trong những cây có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và được đưa tên
vào Sách đỏ Việt Nam (1997).
Cây sắng thường mọc dưới tán của các loài cây khác, nhưng nơi có đất
ẩm, không ưa phân bón hóa học. Cây rất khó trồng do kén đất và nhạy cảm
với các phương thức chăm sóc cơ học. Cây có thể được nhân giống bằng hạt,


hom rễ; trồng phân tán, trồng xen vào các khu rừng tái sinh hoặc trồng xen
với cây ăn quả. Hiện nay đã có nhiều nơi trồng thành công nhờ các dự án bảo
tồn và phát triển như Vườn Quốc gia Xuân Sơn và xã Hương Sơn, huyện Mỹ
Đức, tỉnh Hà Tây cũ.
Cây sắng được khai thác khi đạt độ tuổi từ 3 - 4 năm trở đi. Mùa khai
thác từ tháng 3 trở đi, tần suất khai thác là một tháng, đỉnh điểm là từ tháng 34 của năm. Lá và chồi non có hàm lượng protit và acid amin cao. Trong 100g
rau sắng có khoảng 6,5 - 8,2g protit, 0,23g lysin, 0,19g methionin, 0,08g
tryptophan, 0,25g phenylanalin, 0,45g treonin, 0,22g valin, 0,26g leucin và
0,23g isoleucin, 11,5mg vitamin C, 0,6mg caroten v.v. Hoa và quả dùng cho
các món sào hoặc nấu cũng rất ngon. Bợi vậy, đây là loại rau nấu canh ăn rất
ngọt nước. Vì dinh dưỡng rất cao, ngon ngọt đậm đà, rau sắng ăn rất bổ cho
những phụ nữ mới sinh và người mới ốm dậy, nó còn được coi là một vị
thuốc chữa bệnh đường ruột rất tốt [12].
Trần Minh Cảnh (2007), với đề tài “Tìm hiểu điều kiện lập địa nơi
mọc, đặc điểm tái sinh và kỹ thuật gây trồng rau sắng (Melientha suavis
Pierra) tại Vườn Quốc gia Bến En Thanh Hóa” đã đưa ra một số kết luận như
sau:
1. Điều kiện lập địa nơi mọc:
- Khí hậu: Rau sắng phân bố ở khu vực có nhiệt độ bình quân năm là

- Cây con được tạo từ hạt.
- Cây sắng được chọn làm cây mẹ có tuổi từ 8 trở đi. Mùa thu hái quả
từ tháng 7-8, khi quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng chanh.
- Quả thu về phải trà xát và đãi sạch lớp vỏ lụa bên ngoài. Hạt sau khi
chế biến có thể gieo thẳng ngoài hiện trường, cấy trong bầu dinh dưỡng hoặc
ủ trong cát ẩm đến khi hạt nảy mầm rồi cấy chuyển sang bầu dinh dưỡng [4].
Trên báo điện tử Kinh tế nông thông có phần đăng nói về kỹ thuật trồng
rau sắng của Kỹ sư Lương Sỹ Quyết như sau: Rau sắng có gây trồng bằng hạt
hoặc giâm hom cành. Quả rau sắng chín vào tháng 7-8. Khi thấy quả chuyển
từ xanh sang vàng chanh thì tiến hành thu hái, ủ thêm một vài ngày cho quả
chín đều, sau đó chà xát, rửa sạch hết lớp thịt bên ngoài. Xử lý hạt trước khi
gieo bằng cách ngâm trong nước sôi (95-1000C), sau đó để nguội dần đến 25-


300C và duy trì nhiệt độ nay trong 2 ngày. Vớt hạt ra để ráo rồi đem gieo ngay
hoặc ủ cho đến khi nứt nanh rồi mới gieo.
Cây con đem trồng phải đạt từ 8 tháng đến 1 năm tuổi, cao 15-20 cm,
cây sinh trưởng, phát triển tốt, thân thẳng, không bị sâu bệnh. Mật độ trồng
rừng 1.600-2.500 cây/ha, trong đó rau sắng là 800-1.250 cây/ha. Trồng vào vụ
thu hoặc vụ đông [4].
Theo Trần Ngọc Hải, (2008). Cây con rau sắng được tạo ra theo hai
phương pháp, từ hạt hoặc bằng hom. Cụ thể là:
1. Tạo cây giống từ hạt:
Quả thu hái từ tháng 7-8, khi quả bắt đầu khô, hạt vàng sẫm, sát bỏ lớp
vỏ ngoài của quả. Sau đó xử lý: Hạt được ngâm trong nước với tỷ lệ là 3 sôi
và 2 lạnh (nước có nhiệt độ: 40-450C) duy trì trong 8 giớ. Để ráu hạt, rồi ủ
trong cát ẩm nơi tối.
Sau 3-4 ngày vỏ hạt bắt đầu nứt, đem gieo vào luống hoặc trồng trực
tiếp vào bầu dinh dưỡng. Đến khoảng tháng thứ 2 cây bắt đầu nảy chồi, sau 8
tháng cây cao khoảng 30-35cm, có từ 4-5 lá mầm, lúc này ta có thể đem trồng

Hóa tỉnh Thái Nguyên) là cây rau có giá trị sử dụng cao, mang lại nguồn thu
nhập bổ sung cho cộng động dân cư tại địa phương, là đối tượng tiềm năng để
phát triển. [18].
Trong cuốn: Dự án Lâm Sản Ngoài Gỗ. Pha II. Rau ngót rừng được mô
tả rất rõ về đặc điểm sinh thái học, sinh vật học, giá trị sử dụng và bảo tồn. Đề
cập đến vấn đề gây trồng, ngót rừng được nhân giống bằng hai phương pháp
là bằng hạt và bằng hom. Phương pháp nhân giống bằng hạt là phổ biến, dễ
áp dụng được cộng đồng sử dụng như một phương pháp chính để phát triển.
Ngoài ra, phương pháp gây trồng bằng hom cũng được sử dụng, nhưng mang
lại hiệu quả thấp, khó áp dụng, tỷ lệ nhân giống có thể đạt từ 50-70% [6].
Nguyễn Tiến Hải có bài viết trên trang website: dongtamxanh.com.vn
về kỹ thuật gieo, trồng rau sắng. Tác giả đã nêu ra đặc điểm sinh thái, kỹ
thuật gieo ươm, trồng và chăm sóc theo phương nhân giống bằng hạt như sau:
1. Đặc điểm sinh thái
- Rau sắng trong tự nhiên ít mọc thành quần thể riêng biệt mà phân bố
không đồng đều, mọc với nhiều loài cây khác nhau trên núi đá vôi và vùng


đồi thấp, đặc biệt không trồng ở vùng trũng hoặc mực nước ngầm cao. Nếu
được trồng tập trung ở địa hình núi đá vôi cây vẫn sinh trưởng và phát triển
tốt.
- Rau sắng có khả năng ra trồi mạnh về mùa xuân, hè, chậm về mua thu
về mùa đông thì ngừng sinh trưởng.
- Là cây thân gỗ nhỏ, sống lâu năm có bộ rễ ăn sâu khác biệt với cây
trồng thường gặp khác. Cây ra hoa vào tháng 2-3, quả chín vào tháng 6-7.
2. Ươm giống
- Quả chín vàng tiến hành thu hoạch, sau đó sát sạch vỏ, xử lý ngâm
trong thuốc tím nồng độ 0,5% trong 15 phút ở nhiệt độ 450C. Tiếp đó, rửa
sạch thuốc tím trên hạt và ủ hạt trong cát sạch, ẩm cho đến khi hạt nảy mầm
thì tra hạt vào bầu.

phương pháp của Somying Soontornwong, Rawee Thaworn, Attjala
Roongwong, (2005).
- Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam:
Thứ nhất, mô tả các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và giá trị sử
dụng của Phạm Hoàng Hộ, (2003), Võ Văn Chi, (2004) và Trần Minh Cảnh,
(2007).
Thứ hai, tìm hiểu một số kỹ thuật gây trồng và chăm sóc như Lương Sỹ
Quyết (trên website điện tử), Trần Ngọc Hải, (2008), Phạm Quang Thắng
(2009), Nguyễn Tiến Hải (trên website điện tử).
Cuối cùng là một số kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng rau sắng
trong cuốn Lâm sản ngoài gỗ pha II do Chính phủ Hà Lan tài trợ và Kỷ yếu
hội thảo khoa học các khối ngành nông lâm năm 2009.
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước về cây rau sắng cho ta biết được những đặc điểm sinh học, sinh thái học,
hiện trạng sử dụng và giá trị của nó trong tự nhiên và trong đời sống của cộng
động dân cư gần rừng.
Các kết quả nghiên cứu tìm hiểu các phương pháp nhân giống còn
nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân giống, bảo tồn và phát triển


của giống rau quý này. Chẳng hạn như, các thử nghiệm nhân giống phổ biến
và được cho là thành công là phương pháp nhân giống bằng hạt, nhưng những
nhu cầu về giống chưa đáp ứng được với nhu cầu của sản xuất. Hay phương
pháp nhân giống bằng hom mới đề cập đến tỷ lệ thành công khá cao nhưng
cũng chưa đưa ra được loại chế phẩm giâm hom cụ thể nào, nồng độ là bao
nhiêu, thời vụ giâm hom đạt hiệu quả nhất. Hướng nghiên cứu nhân giống
bằng phương pháp nuôi cây mô cũng là một hướng đi tích cực để mang lại
giải pháp cho nhu cầu bảo tồn và phát triển loại rau này, nhưng cũng chưa có
một công trình nghiên cứu nào phát triển theo hướng này.
Với những hạn chế trên, cũng là động lực để tôi tiến hành nghiên cứu

Thượng

Thần



Nghinh

Cúc

Thượng

Cả

Mộc

Nung

Sa

Chấn

Tường

Đường
2,47

Tổng số

17.639,0


1.339,80

426,93

54,66

0

27,29

41,60

240,47

0

60,44

Chưa có rừng

2,47

Có tọa độ địa lý:
Từ 105051’05’’ đến 106008’38’’ độ Kinh Đông.
Từ 21045’12’’ đến 21050’30’’ vĩ độ Bắc.
- Phía Đông giáp: Phần ngoài rừng đặc dụng Xã Nghinh Tường và Bắc
Sơn (Lạng Sơn).
- Phía Tây giáp: Huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên).
- Phía Nam giáp: Các Xã trong Huyện Võ Nhai.

- Số lượng hồ chứa nước: 09 cái, diện tích mặt nước: 25,5 ha.
- Số lượng ao chứa nước: 140 cái, diện tích mặt nước: 5,9 ha.
- Đập, kênh, mương cứng: 9.110 m.
- Kênh, mương đất: 8500 m.


2.1.1.4. Đất đai
Đất đai trong khu bảo tồn được hình thành trên các loại đá mẹ: Phiến
thạch sét, Riolit và Đá vôi. Bao gồm các loại đất chính sau:
- Nhóm đất Đất xám, loại đất xám feralit và phụ biến chủng: Đất feralit
trên phiến thạch sét.
- Nhóm đất do trầm tích đá vôi phong hóa bao gồm 2 đơn vị là: Đất
vàng tích vôi và đất nâu thẫm tích vôi.
- Nhóm đất núi cao không có đá vôi phát triển trên đá Riolit vàng nhạt,
xen lẫn phiến sét. Đất tốt có thể trồng cây hồi, cây chè tuyết.
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.2.1. Dân số, lao động, dân tộc và phong tục tập quán
a) Dân số và lao động
Theo thống kê dân số tính đến hết năm 2007, dân số trong vùng là
20.411 nhân khẩu, sinh sống tại 4.446 hộ gia đình, trên địa bàn 66 thôn bản,
thuộc 6 xã và 1 thị trấn, Mật độ dân số trong vùng bình quân là: 42
người/km2. Phân bố dân cư không đều, đa số các thôn bản tập trung ở thung
lũng, gần sông suối, có khả năng làm ruộng nước và dọc theo các trục đường
giao thông.
Tổng số lao động trong vùng là 9.101 lao động chiếm 44,6% dân số,
trong đó lao động nông nghiệp là chủ yếu: chiếm 85,7%; lao động thuộc các
ngành nghề khác bao gồm cán bộ chủ chốt xã, huyện, cán bộ y tế, giáo dục.
b) Dân tộc và phong tục tập quán canh tác, sử dụng rừng
Trong khu vực có 5 dân tộc chủ yếu là Tày, Dao, Nùng, Kinh, H'Mông.
Ngoài ra còn một số dân tộc khác có ít người như Cao Lan, Sán Dìu. Dân tộc

* Dân tộc H'Mông


Người H'Mông sống ở các thung lũng cao, xa, phân bố nhiều nhất ở các
xã Thượng Nung, Sảng Mộc, Thần Sa. Tập quán canh tác làm ruộng bậc
thang, làm nương, chăn nuôi, đời sống của họ còn nhiều khó khăn do tập quán
canh tác còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
* Các dân tộc khác
Ngoài các dân tộc chính nêu trên còn có một số dân tộc ít người khác
như dân tộc Cao Lan, dân tộc Sán Dìu. Phân bố ở xã Thần Sa, xã Vũ Chấn.
Tập quán canh tác còn lạc hậu phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
2.1.2.2. Tình hình sản xuất nông – lâm nghiệp và các ngành nghề khác
Theo kết quả điều tra dân sinh kinh tế xã hội, cuộc sống của nhân dân
trong khu vực còn ở mức thấp. Tổng sản lượng lương thực bình quân năm
đạt: 9.208,8 tấn. Trung bình đạt 451 kg/người/năm. Thu nhập bình quân đạt
3,5 triệu đồng/người/năm. Số hộ nghèo trong khu vực là 1.735 hộ, chiếm 39%
tổng số hộ. Do cuộc sống khó khăn, người dân thường xuyên vào rừng kiếm
củi, khai thác gỗ... để kiếm sống đã tác động xấu đến rừng. Đây là một trong
những nguyên nhân chính làm suy giảm giá trị của rừng cả về diện tích và
chất lượng.
a) Sản xuất nông nghiệp
* Trồng trọt
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các xã trong vùng chiếm tỷ lệ
nhỏ so với tổng diện tích tự nhiên: chiếm 5,07%. Đất lúa và lúa màu tập trung
ở các thung lũng lớn và tương đối bằng phẳng, nhiều nhất ở các xã Phú
Thượng, Vũ Chấn, Thượng Nung, chiếm 48,74% tổng quỹ đất nông nghiệp.
Diện tích đất nông nghiệp còn lại là đất nương rẫy cố định, nương rẫy luân
canh và diện tích đất vườn tạp. Do thiếu vốn, điều kiện địa hình lại phức tạp,
giao thông chưa thuận tiện, việc đầu tư về giống, vốn, kỹ thuật cũng như việc
áp dụng các biện pháp kỹ thuật gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status