tiểu luận cao học Thực trạng và giải pháp quản lý nhà nước về văn hoá trong thời kỳ đổi mới - Pdf 35

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội; Là một trong những nhân tố
quan trọng góp phần hình thành nên truyền thống lịch sử, nhân cách con người
Việt Nam. Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố văn hoá luôn được phát huy tạo nên sức
mạnh to lớn trong đấu tranh, giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, thực hiện
thống nhất Tổ quốc. Ngày nay, văn hoá tiếp tục đóng vai trò là động lực thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước ta phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cụ thể hoá quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII),
công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực văn hoá ở nước ta trong hơn 25 năm
đổi mới (1986 - 2013) đã đạt được những thành tựu to lớn, đóng góp vào thắng
lợi chung của công cuộc đổi mới; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đánh giá những thành tựu, hạn chế và tìm ra những nguyên nhân hạn chế
trong công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá trong thời kỳ đổi mới là
một việc làm có tầm quan trọng và ý nghĩa sâu sắc. Để từ đó có được dự báo
những xu hướng biến đổi mới và có giải pháp cụ thể nhằm góp phần nâng cao
hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên lĩnh văn hoá góp phần hội
nhập thành công với khu vực và thế giới; và cũng để đảm bảo cho việc xây dựng
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo quan điểm của
Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp quản lý
nhà nước về văn hoá trong thời kỳ đổi mới” làm tiểu luận học phần môn
Quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực trọng yếu.
1


2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.1.

Một số khái niệm

1.1.1. Văn hoá
Văn hoá là một lĩnh vực rất rộng lớn, phong phú và đa dạng. Khái niệm
về văn hoá gồm có rất nhiều khái niệm.
Khái niệm chung nhất theo giáo trình quản lý xã hội. Văn hoá là tổng thể
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử nhằm vươn tới
chân - thiện - mỹ và sự phát triển bền vững, an toàn cho cộng đồng, nhân loại.
1.1.2. Quản lý văn hoá
Quản lý văn hoá là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho
văn hoá phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã
hội loài người không ngừng đi lên.
1.1.3. Quản lý Nhà nước về văn hoá
* Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của
nhà nước. Nói một cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể
mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý
nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Pháp luật là
phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước. Bằng pháp luật nhà nước có thể trao
quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt
động quản lý nhà nước.
3


* Quản lý nhà nước về văn hoá là một bộ phận cấu thành của hệ thống
quản lý Nhà nước. Nó bao gồm các hoạt động lập pháp, lập quy của những cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm đề ra các chính sách, pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội và hành vi của công dân liên quan đến văn hoá và hoạt động

nền tảng tư tưởng trong xã hội, kim chỉ nam cho hành động.
Ba là, Phải khắc phục những yếu kém của hoạt động văn hoá từng bước
thích ứng và phát triển trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
* Mục đích của quản lý nhà nước về văn hoá nhằm:
Một là, lập lại trật tự hoạt động văn hoá ở những năm đầu chập chững đi
vào kinh tế thị trường đến việc tạo cơ chế, hành lang pháp lý thúc đẩy các hoạt
động văn hoá phát triển đúng hướng, đáp ứng nhu cầu văn hoá ngày càng cao
của các tầng lớp xã hội.
Hai là, mở rộng và chuyển dần một số công việc để các thành phần kinh
tế ngoài nhà nước tham gia vào hoạt động văn hoá.
Ba là, tránh độc quyền, ôm đồm của cơ quan quản lý văn hoá cấp trên, từ
chỗ can thiệp sâu vào công việc của cơ quan cấp dưới, đến việc phân cấp mạnh
mẽ, phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị văn hoá.
Bốn là, mở rộng hoạt động hợp tác, giao lưu văn hoá với nhiều quốc gia,
lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, nhằm quảng bá văn hoá,
lịch sử, đất nước con người Việt Nam ra thế giới.
* Các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về văn hoá
của Đảng trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay.
Bộ chính trị (khoá VI) ra Nghị quyết 05- NQ/TW về đổi mới và nâng cao
trình độ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng
sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hoá; Đại hội VII của Đảng đã thông
qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
5


trong đó có nội dung: “Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Trong
nhiệm kỳ đại hội VII, Đảng ta ra nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) về một số
nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt; Đại hội lần thứ VIII của
Đảng, Báo cáo chính trị “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc”, tiếp tục khẳng đinh “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội”; Trong

ở các nội dung như sau:
Một là, bám sát tình hình diễn biến hoạt động văn hoá trong nền kinh tế
thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa để có chủ trương phù hợp, sát thực
nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá dân tộc, giải quyết kịp thời
những vấn đề bức xúc trong hoạt động văn hoá, hướng các hoạt động văn hoá về
cơ sở.
Hai là, đề ra chủ trương hoạt động văn hoá, nhất là các doanh nghiệp
quản lý và kinh doanh các hoạt động văn hoá phải tích cực, chủ động, từng bước
thích ứng và đứng vững trong cơ chế thị trường, góp phần hình thành thị trường
văn hoá ở nước ta.
Ba là, Nhà nước đề ra chủ trương tập trung xây dựng một số bộ luật quan
trọng, tạo hành lang pháp lý cho một số lĩnh vực văn hoá đi vào hoạt động có
nền nếp và phát triển tốt trong nền kinh tế thị trường. Đó là các lĩnh vực bảo tồn
và phát huy các giá trị di sản văn hoá dân tộc, lĩnh vực báo chí, xuất bản, quảng
cáo, sỡ hữu trí tuệ, điện ảnh…
Bốn là, Nhà nước đề ra chủ trương xã hội hoá hoạt động văn hoá nhằm
huy động các nguồn lực trong toàn xã hội, tập trung đầu tư nhân lực và vật lực
cho việc phát triển sự nghiệp văn hoá của đất nước.
Năm là, Nhà nước chủ trương đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực cho hoạt động và quản lý văn hoá.

7


Chương 2:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA
2.1. Những thành tựu trong quản lý Nhà nước về văn hóa
2.1.1. Về xây dựng luật pháp quả lý Nhà nước về văn hóa
Với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, của

Ngoài các bộ luật nói trên có liên quan trực tiếp đến hoạt động văn hoá do
Quốc hội ban hành, thời gian qua, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cũng tích cực
triển khai những pháp lệnh liên quan đến lĩnh vực văn hoá như sau: Pháp lệnh về
giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước; Pháp lệnh công nhận danh hiệu
Nghị sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú; Pháp lệnh thư viện (2001), Pháp lệnh Phí và lệ
phí (2001), Pháp lệnh Quảng cáo (2001)…
Như vậy, dưới góc độ quản lý nhà nước, Nhà nước ta đã rất khẩn trương
đưa vào chương trình hoạt động của Quốc hội xem xét thông qua nhiều Luật
quan trọng, có tính nhạy cảm, thuộc lĩnh vực văn hoá, tạo hành lang pháp lý cho
hoạt động văn hoá phát triển đúng định hướng Xã hội chủ nghĩa, thực hiện tốt
chức năng giáo dục chính trị - tư tưởng, chức năng định hướng các chuẩn mực
giá trị của văn hoá Xã hội chủ nghĩa.
2.1.2. Về xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước về văn hoá
Nhà nước ta rất quan tâm đến việc cải cách bộ máy quản lý nhà nước về
văn hoá. Xu hướng cải cách hành chính là xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn
và hiệu quả, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, phát huy vai trò của các cơ
quan giám sát, thanh tra, kiểm tra để ngăn ngừa và xử lý kịp thời các sai phạm.
Ở tầm vĩ mô, Nhà nước sắp xếp để hình thành Bộ có chức năng quản lý đa
ngành. Năm 1986, nước ta thành lập Bộ văn hoá. Sang năm 1987, Hội đồng nhà
nước (Quốc hội ngày nay) thành lập Bộ thông tin. Đến năm 1990, Hội đồng nhà
nước lại quyết định thành lập Bộ Văn hoá- Thông tin- Thể thao- Du lịch. Năm
9


1992, Quốc hội tách Bộ Văn hoá- Thông tin- Thể thao- Du lịch thành Bộ văn
hoá – thông tin, Ủy ban Thể dục - thể thao, Tổng cục Du lịch. Năm 2007, Quốc
hội thông qua Nghị quyết sắp xếp cơ quan quản lý Nhà nước về văn hoá thành
hai bộ: Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch và Bộ Thông tin và truyền thông.
Dưới cấp huyện vẫn giữ Phòng văn hoá – thông tin, chịu sự quản lý của
hai Sở: Sở Văn hoá thể thao và du lịch và Sở Thông tin và truyền thông.

sinh.
Bốn là, bộ máy quản lý Nhà nước về văn hoá cồng kềnh, ôm đồm, chưa
phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm
vụ dẫn tới cản trở hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước.
Mô hình tổ chức thiếu ổn định, luôn thay đổi, có mô hình ra đời thiếu tính khoa
học, hạn chế hiệu quả công tác.
Năm là, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá ở các cấp không đồng
đều; chưa theo kịp sự phát triển phong phú, đa dạng của văn hóa; trong hoạt
động văn hóa xuất hiện nhiều hiện tượng mới và phức tạp chưa có sự lý giải
thích hợp song thiếu sự quản lý, định hướng dẫn đến sự lợi dụng hoạt động văn
hóa để đầu tư trục lợi, nê tín dị đoan…..
Sáu là, chưa coi trọng đúng mức công tác nghiên cứu khoa học trên các
lĩnh vực văn hoá nên bị động trong dự báo xu hướng phát triển văn hoá.
Bảy là, chính quyền cơ sở quản lý địa bàn (đặc biệt là quản lý trong lĩnh
vực văn hóa) còn nhiều mặt hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường
xuyên, liên tục.
2.2.2. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong quản lý Nhà nước về văn
hóa
Sở dĩ trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa vẫn còn tồn tại một số
hạn chế, yếu kém là có nhiều nguyên nhân; trong đó có nguyên nhân khách quan
11


và cũng có cả nguyên nhân chủ quan- cả về phía quản lý Nhà nước và mọi người
dân; có thể rút ra một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, nền kinh tế nước ta đang ở trình độ phát triển thấp, ảnh hưởng tới
việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, tập huấn, đào tạo cán
bộ để hiện đại hoá hoạt động và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ
quan quản lý nhà nước về văn hoá.
Hai là, nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của văn hoá – “Nền tảng

luật và các văn bản quy phạm pháp luật về văn hoá.
Đổi mới công tác tập huấn cán bộ quản lý các cấp. Nội dung tập huấn
giảm lý thuyết, tăng phần kỹ năng, xử lý tình huống và giải đáp các thắc mắc
của các học viên ở cơ sở.
Đổi mới quản lý nhà nước về văn hoá theo phương châm tạo lập môi
trường thuận lợi nhất để thu hút mọi nguồn lực xã hội tham gia vào sáng tạo,
phổ biến và hưởng thụ văn hoá.
2.3.3. Xã hội hoá công tác quản lý nhà nước về văn hoá
Muốn việc quản lý nhà nước về văn hoá có hiệu lực, hiệu quả, chúng ta
cần đẩy mạnh xã hội hoá công tác quản lý nhà nước về văn hoá. Cần thực hiện
dân chủ rộng rãi trong xây dựng các văn bản pháp luật. Cơ quan quản lý nhà
nước xây dựng dự thảo các văn bản, sau đó tổ chức nhiều hội nghị lắng nghe ý
kiến phản hồi của các đối tượng.
Một văn bản quản lý nhà nước có chất lượng là văn bản hợp lòng dân, đáp
ứng được nguyện vọng của số đông đối tượng có chung lợi ích, tạo cơ sở pháp
lý cho đối tượng phát triển thuận lợi, đưa ra chế tài đủ mạnh có ý nghĩa răn đe
các hành vi phản văn hoá.

13


Cơ quan quản lý nhà nước cần tận dụng tối đa các phương tiện truyền
thông đại chúng; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề
nghiệp trong việc tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn người dân hiểu biết đầy đủ
và tự giác thực thi pháp luật và các văn bản quản lý nhà nước về văn hoá.
2.3.4. Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra
Cần thực hiện cơ chế hai chiều trong giám sát. Cơ quan quản lý nhà nước
giám sát hoạt động văn hoá theo chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao. Khi
phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì cơ quan quản lý sử dụng quyền lực
tiến hành kiểm tra, thanh tra hành chính. Mặt khác, cơ quan quản lý nhà nước về

sắc dân tộc theo quan điểm của Đảng ta.
Trước thực trạng và những xu hướng biến đổi trong tình hình mới, công
tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá cần tiếp tục thực hiện tốt các giải
pháp như: Hoàn thiện việc xây dựng hệ thống luật pháp; Đổi mới phương thức
quản lý nhà nước về văn hoá; Xã hội hoá công tác quản lý nhà nước về văn hoá;
Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra; Mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên
các lĩnh vực văn hoá. Các giải pháp này cần thực hiện đồng bộ, có bước đi, lộ
trình phù hợp với điều kiện nước ta, tránh chủ quan huy ý chí và sự nóng vội
trong xây dựng và quản lý văn hóa, đây chính là yêu cầu cần thiết để thực hiện
tốt các giải pháp.
Xu thế hội nhập kinh tế Quốc tế và giao thoa giữa các nền văn hóa trên
thế giới đang diễn ra nhanh và mạnh; hơn lúc nào hết công tác quản lý nhà nuớc
trên lĩnh vực văn hoá cần tiếp tục được đổi mới và nâng cao; chủ động hội nhập
sâu với khu vực và thế giới; với những tiềm năng và nội lực sẵn có; Việt Nam
cần có những bước đi phù hợp trên đôi chân của chính mình góp phần thực hiện
tốt nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

15


góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước với mục tiêu, dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh
Lịch sử chứng minh rằng, cái tạo nên sức mạnh Việt Nam, cái bảo đảm
cho dân tộc Việt Nam tồn tại và khẳng định mình, vượt qua mọi thử thách của
thiên tai và của giặc ngoại xâm, không phải chỉ là sức mạnh vật chất, mà chủ
yếu là sức mạnh tinh thần- những giá trị văn hóa, sự cố kết của cộng đồng dân
tộc, chuẩn mực nhân nghĩa trong đạo lý làm người, quan niệm có tính truyền
thống về sự thống nhất giữa con người với tự nhiên. Sức mạnh đó còn là hệ
thống các chuẩn mực giá trị mà các thế hệ của dân tộc liên tục lưu giữ và phổ
biến cho đời sau.



18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status