Tiểu luận
Thực trạng và giải pháp quản lý,
nâng cao chất lượng lao động trong
các doanhnghiệp ở nước ta hiện
nay
1.1. Tổng quan về nguồn lao động của nước ta
Nước ta xuất phát từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ
nghĩa xã hội. Trước đây trứơc thờikỳ cách mạng tháng 8 dân số chủ yếu của
nước ta làm nông nghiệp tới 95% cơ cấu dân số. Mà nền nông nghiệp ở nước
ta thời kỳ đó rất lạc hậu họ chỉ làm theo kinh nghiệm và những dụng cụ thô sơ
vì thế lao động không được đào tạo và không có máy móc hỗ trợ. Và thực tế
lúc đó cũng chiếm tới 95% dân số mù chữ. Như vậy do điều kiện xã hội và
lịch sử đã để lại cho lực lượng lao động của nước ta một trình độ thấp kém và
một tác phong làm việc không có tổ chức, không được đào tạo.
Từ sau những năm giải phóng đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới đến nay
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng đất nước đi lên con đường xã
hội chủ nghĩa với mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Từng
bước xây dựng đội ngũ lao động có trình độ tác phong làm việc tập trung
công nghiệp cao.
1.2. Tính tất yếu khách quan phải xây dựng đội ngũ lao động và quản lý
có trình độ
Do yêu cầu thực tế của quá trình phát triển đất nước đi trên con đường
công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Chúng ta đang cần một đội ngũ lao động đông
đảo có trình độ tay nghề cao. Nhưng để phát huy khả năng của đội ngũ đó
chúng ta cần phải ngày càng đẩy mạnh công tác đào tạo và quản lý đội ngũ
đó. Việc làm này đang là yếu tố cần thiết và bức xúc trong điều kiện hiện nay.
1.3. Các nhân tố tác động đến khả năng quản lý và nâng cao chất lượng
lao động
Tuy nhiên để xây dựng đội ngũ lao động và quản lý nó là một quá trình
phức tạp nó phụ thuộc vào tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Nó phụ
thuộc vào khả năng nhận thức của người lao động, khả năng đào tạo của các trung tâm giáo dục và đào tạo. Và khả năng chuyên môn của những con người
ố
60554,5 43255,3 71,4
Đồng Bằng Sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
DH Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐB Sông Cửu Long
13 583,9
6 712,8
1 739,8
7 412,9
5 016,7
3 026,8
9 996,5
13 065,1
9 718,3
5 129,2
1 373,7
5 214,6
3 582,4
2 415,7
6 536,9
9 284,5
71,5
76,4
79,0
Chia theo vùng lãnh thổ:
Năm 2004: đồng bằng sông Hồng chiếm 22,5%; Đông Bắc chiếm
11,9%; Tây Bắc chiếm 3,2%; Bắc Trung Bộ chiếm 12,1%; Duyên hải Nam
Trung Bộ chiếm 8,3%; Tây Nguyên chiếm 5,6%; Đông Nam Bộ chiếm
15,1%; Đồng Bằng sông Cửu Long 21,5%. So với thời điểm 1/7/2003 tỷ lệ
LLLĐ chiếm trong tổng LLLĐ cả nước của vùng đồng bằng sông Cửu Long
giảm 0,1% và tăng ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên (1%); các vùng khác hầu
như là không đổi.
Năm 2005: vùng Đông nam Bộ và Tây Nguyên có tốc độ tăng LLLĐ
so với 2004 cao hơn so với các vùng khác trong cả nước (Đông Nam Bộ là
3,8%; Tây Nguyên là 2,9%). Sự tăng nhanh LLLĐ ở các vùng này chủ yếu là
do biến động cơ học.
Chia theo giới tính: Vào năm 2004 tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số nữ từ đủ 15 tuổi trở lên
của cả nước là 67,2%; ở khu vực thành thị là 57,9%; Khu vực nông thôn là
71,3%. Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ đủ
15 tuổi trở lên cao nhất là Tây Nguyên (79,8%); tiếp đến là Tây Bắc (79%);
thấp nhất là Đông Nam Bộ (65,4%); các vùng khác tỷ lệ này phổ biến ở mức
70-72% như ở bảng 1.
Vào năm 2005: cơ cấu LLLĐ nữ chiếm tỷ trọng thấp hơn nam (48,73%
so với 51,27%). Tỷ lệ tham gia LLLĐ của số người từ đủ 15 tuổi trở lên là
71%. Tỷ lệ này của LLLĐ khu vực thành thị tăng0,55%, khu vực nông thô
giảm 0,7%; chung lại tỷ lệ tham gia LLLĐ năm 2005 giảm 0,32% so với năm
2004. Tỷ lệ tham gia LLLĐ nữ (66,0%) thấp hơn nhiều tỷ lệ chung.
* Ưu và nhược điểm của cơ cấu lao động:
- Ưu điểm: Trong 2 năm ta xét ở trên thì nhìn chung tổng số người
trong độ tuổi lao động ở nước ta tương đối cao. Năm 2004 chiếm khoảng 74%
dân số. Năm 2005 chiếm khoảng 75% dân số. Như vây đã thể hiện một tiềm
Bảng 2: Cơ cấu trình độ văn hoá phổ thông của LLLĐ
2004
2005
T
ă
ng/Gi
ả
m
Tổng số 100,0 100,0
1. Mù chữ 4,44 4,04 -0,40
2. Chưa tốt nghiệp tiểu học 13,87 13,09 -0,78
3. Tốt nghiệp tiểu học 29,73 29,09 -0,64
4. Tốt nghiệp PTCS 32,36 32,58 +0,22
5. T
ố
t nghi
ệ
p PTTH
19,6
21,21
+1,61
4,3% (giảm 9,07% so với năm 2004) và cao đẳng đại học trở lên là 5,27%
(tăng 0,45% so với năm 2004).
Qua kết quả điều tra cơ cấu lao động trong cả nước gắn với thực tại ở
trong nước thì các doanh nghiệp trong nước đang gặp phải một số khó khăn
về chất lượng lao động phổ biến hiện nay là chưa cao. Trình độ công nhân kỹ thuật phổ thông cũng chưa đáp ứng được tối đa vì thế việc phải đào tạo lại và
đào tạo thêm là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên một thực tế nữa vẫn còn đang tiếp tục tồn tại hiện nay là tình
trạng nhân viên kỹ thuật có tay nghề trình độ thì thiếu. Trong khi đó nhân
viên kỹ thuật có tay nghề trìnhđộ thì thiếu. Trong khi đó nhân viên quản lý thì
lại được đào tạo khá ồ ạt dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Vì vậyviệc
quan tâm vừa nâng cao chất lượng lao động, vừa nâng cao công tác quản lý là
việc làm cần thiết, một yêu cầu bức xúc trong giai đoạn đất nước ta đang
trong tiến trình bước vào hội nhập hiệnnay.
2.1.2. Việc làm, thất nghiệp và chế độ tiền lương cho lao động
a) Việc làm và thất nghiệp
Theo kết quả điều tra năm 2004: lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở
lên nói chung ở khu vực thành thị có 94,6% có việc làm và 5,4% thất nghiệp;
khu vực nông thôn có 98,9% có việc làm và 1,1% thất nghiệp; Các tỷ lệ tương
ứng của LLLĐ nữ là 93,5% và 6,5% (với thành thị); 98,8% và 1,2% (với nông
thôn). Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thịcó
94,4% có việc làm và 5,6% thất nghiệp; khu vực nông thôn có 98,9% có việc
làm và 1,1% thất nghiệp. Các tỷ lệ tương ứng của LLLĐ nữ là 93,3% và 6,7%
(với thành thị); 98,7% và 1,3% (với nông thôn).
So với thời điểm 1/7/2003: Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi
lao động nói chung ở khu vực thành thị cả nước đã giảm 0,2%. Chia theo
nhóm tuổi, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm bớt ở các nhóm tuổi 15-19; 25-29; 45-49
và 50-54; không thay đổi ở các nhóm tuổi 20-24; 35-39 và tăng ở các nhóm
ta sẽ đối diện với nhiều vấn đề phức tạp.
Khi tham gia hội nhập sản xuất kinh doanh phát triển mạnh tạo cơ hội
việc làm cho người lao động. Tuy nhiên cũng có những thách thức và nguy cơ
không nhỏ.
+ Nguy cơ thất nghiệp: nguồn lao động vẫn còn tăng khá cao. Nguyên
nhân của tình trạng này do tác động mạnh của hội nhập làm cho thất nghiệp trở thành một nguy cơ lớn. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ tổ chức cơ cấu lại
và sa thải lao động thừa. Các doanh nghiệp nhỏ yếu kém sẽ bị phá sản.
+ Biến động của thị trường lao động: Việc mở cửa nền kinh tế sẽ làm
cho tài chính tiền tệ thay đổi và biến động mạnh và khó quản lý sẽ dẫn đến
thất nghiệp cơ cấu cũng tăng.
+ Sự phân hoá, phân tầng về lao động trên tất cả các mặt gia tăng.
Những người có trình độ sẽ rất khó tìm kiếm và duy trì hay ôNorth Freight
định được việc làm và thu nhập.
Như vậy xét trên toàn bộ nền kinh tế chúng ta phải chịu sức ép khá lớn
với trình độ lao động và điều kiện hiện tại việc gia tăng của tỷ lệ thất nghiệp
là rất lớn.
Chúng ta xét trên cấp độ doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình hội
nhập cần phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà điều cần thiết cốt lõi
ở đây là phải nâng cao trình độ năng lực và chất lượng của nguồn nhân lực.
Phải giải quyết tốt một số hạn chế còn tồn đọng.
+ Hạn chế về trình độ năng lực, tay nghề và phong cách làm việc. Vì
người lao động ít được đào tạo bài bản, kiến thức nghè nghiệp và kỹ năng làm
việc của nhiều người chưa đáp ứng kịp nhu cầu thực tế.
+ Chi phí lao động ngày càng tăng: đó là tiền lương đòi hỏi tăng lên do
tác động của đời sống xã hội bên ngoài doanh nghiệp. Từ sự cạnh tranh của
các doanh nghiệp khác. Mức chi phí tăng lên còn do phải đào tạo lại lao động.
+ Đối mặt với những thay đổi về lực lượng lao động. Việc lựa chọn cơ
đảm bảo đáp ứng đúng nhu cầu của công nhân viên trả lương theo đúng sự
đóng góp của họ. Tuy nhiên để xây dựng một thang lương đúng tiêu chuẩn và
hợp với năng lực lao động cũng như điều kiện lao động của các công nhân
cần chú ý một số điều lưu ý:
+ Phải tham khảo dựa trên quan điểm trả lwong của người sử dụng lao
động vì họ là chủ sở hữu. + Các hệ số mức lương thang lương phải phù hợp với quy định hiện
hành của pháp luật lao động.
+ Thang lương phải bảo đảm khuyến khích người lao động nâng cao
tay nghề, đạt thành tích tốt trong sản xuất .
+ Phải phù hợp với mặt bằng chung về lương của các doanh nghiệp
cùng loại.
Nhưng một thực tế vẫn đang diễn ra hiện nay đó là mức lương và thang
lương của Nhà nước chưa đáp ứng đúng và đủ nhu cầu của người lao động.
Chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay chỉ xấp xỉ bằng 40% giá trị sức lao
động. Có nghĩa mức giá trị này theo học thuyết Mác về kinh tế thì Nhà nước
còn nợ của người lao động trên 50% giá trị sức lao động. Và thực tế sinh viên
mới ra trường được tuyển dụng làm thư ký cho toà án mức lương được hưởng
với bậc lương 1/15 là 493.000đ thấp hơn mức thu nhập của người thuộc diện
nghèo (500.000đ/tháng) mà thành phố Hồ Chí Minh vừa công bố. Như vậy
nến tính trong cả nước những người có mức lương thuộc diện nghèo có thể
chiếm từ 40% trở lên mà không được hưởng chính sách xoá đói giảm nghèo.
Buộc người lao động này phải tự cứu sống lấy mình họ tổ chức cuộc sống gia
đình không phải nguồn thu chính từ lương mà bằng các nguồn thu khác mà
người ta gọi là phần mềm. Vì vậy việc tham ô tham nhũng là điều khó tránh
khỏi. Và cũng từ đây sẽ làm tha hoá một số bộ phận quản lý lãnh đạo từ đó
chất lượng quản lý đã kém nay lại càng kém hơn. Chế độ tiền lương diện
nghèo này cũng làm kém sự thu hút nhân tài và nhân sự có trình độ tay nghề
khoảng 1,5% trong thời gian gần đây. Điều này làm cho bộ phận dân số ở độ
tuổi trẻ và số người trong độ tuổi lao động trong dân số chiếm tỷ lệ lớn. Năm
2000 tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động chiếm 55% và dự tính đến năm
2000 tỷ lệ này còn cao hơn.
Trong những năm qua, đào tạo nguồn nhân lực của chúng ta đã có
những bước phát triển quan trọng. Tính đến năm 2003, cả nước có 124 trường
đại học và cao đẳng, 268 trường trung học, 220 trường dạy nghề và rất nhiều
cơ sở dạy nghề khác. Mỗi năm có trên 150.000 người tốt nghiệp đại học cao đẳng, khoảng 120.000 người tốt nghiệp trung cấp và trên 1 triệu công nhân
được đào tạo nghề dưới các hình thức khác nhau. Đó là thành tựu rất đáng kể
về quy mô đào tạo và số lương người được đào tạo. Điều này cũng cho thấy
chúng ta có nhiều tiềm năng để phát triển đào tạo một cách rất đa dạng và
phong phú để đào tạo nguồn nhân lực cần thiết cho xã hội.
Tuy nhiên người lao động được đào tạo do nhiều nguyên nhân khác
nhau mà chất lượng đào tạo nói chung chưa cao, điều này thể hiện trong hiệu
quả việc làm, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dịch vụ tạo ra. Về
số lượng, mặc dù có sự tăng nhanh, nhưng so với yêu cầu thực tế thì vẫn chưa
thể đáp ứng được. Trong tổng lao động xã hội số người được đào tạo nghề và
chuyên môn vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Năm 2000 chỉ có 15,5% số người
lao động được đào tạo, tỷ lệ này vào năm 2002 là 17,5% và trong năm 2004 là
21% với quy mô tốc độ tăng như vậy chúng ta khó có thể đạt được chỉ tiêu về
đào tạo chuyên môn nghề nghiệp mà đại hội Đảng IX đã đề ra đó là "nâng tỷ
lệ lao động qua đào tạo lên 30% vào năm 2005 và 40% vào năm 2010". Như
vậy trong thời gian tới ở nước ta vẫn còn một bộ phận lớn lao động chưa qua
đào tạo làm việc với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp. Đây có thể coi là
sự lãng phí lớn trong sử dụng nguồn nhân lực hiện nay. Một tình trạng nữa
đang diễn ra đó là trên thế giới tại các nước tiên tiến tỷ lệ lao động qua đào
tạo thoe các cấp trình độ: đại học/ trung cấp/ công nhân kỹ thuật là 1/4/10. Ở
và yếu kém là 8,5%.
+ Kiến thức chuyên môn nghề: khá và tốt là 40%, trung bình là 48,9%
và yếu kém là 11,1%.
+ Năng lực thực hành nghề: khá và tốt là 30,4%, trung bình là 58,7% và
yếu kém là 10,9%.
+ Năng lực làm việc độc lập: khá và tốt là 23,9%, trung bình là 52,2%
và yếu kém là 23,9%.
+ Năng lực tổ chức lao động khoa học: khá và tốt là 15,4%, trung bình
là 43,1% và yếu kém là 36,4%. + Năng lực phân tích và giải quyết vấn đề: khá và tốt là 17,7%, trung
bình là 40,1% và yếu kém là 42,2%.
+ Nưang lực thích ứng và tự điều chỉnh: khá và tốt là 39,1%, trung bình
là 43,5% và yếu kém là 17,4%.
Qua phân tích cho thấy năng lực tổ chức lao động khoa học và năng lực
phân tích và giải quyết vấn đề là những vấn đề còn hạn chế của học sinh tốt
nghiệp các trường dạy nghề.
Như vậy thực trạng chất lượng lao động sẽ được cải thiện nâng cao
đáng kể nhưng thực tế mức đáp ứng đủ nhu cầu công nhân kỹ thuật cho các
doanh nghiệp là vấn đề gặp nhiều khó khăn do quy mô đào tạo và cơ cấu đào
tạo còn chưa hợp lý.
2.1.4. thị trường lao động trong nước trong thời gian qua và tác động
của nó đến sự phát triển nguồn lao động
Trong nền kinh tế thị trường thì sự phát triển của thị trường lao động là
một yếu tố khách quan tất yếu. Sự phát triển của thị trường lao động cũng góp
phần thúc đẩy sự phát triển tự do kinh tế và tạo ra sự lựa chọn cho người lao
động cũng như sự lựa chọn cho các doanh nghiệp. Vì đất nước ta bước vào
thời kỳ phát triển kinh tế thị trường trong thời gian ngắn nên thị trường lao
động cũng mới được phát triển trong thời gian gần đây nó có một số đặc điểm
nhưng chưa hoàn chỉnh và đồng bộ. Sự liên kết giữa chúng với nhau còn yếu.
+ Sự phân hoá thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng tăng giữa
các vùng lãnh thổ trên cả nước theo các chỉ số phát triển kinh tế xã hội.
+ Mức tiền công lao động thấp, sự lạc hậu giữa đồng lương thực tế của
người lao động Việt Nam so với mức tiền công lao động ở các nước trong khu
vực ngày càng tăng.
Từ những đánh giá thực trạng ở trên ta thấy thị trường lao động ở nước
ta đang trong quá trình hình thành, hoạt động trong điều kiện kém phát triển ở
thể chế điều tiết các quan hệ lao động xã hội chỉ mới vừa được sinh ra. Tuy nhiên xu thế phát triển thị trường lao động ở nước ta ngày càng
mang tính khả quan hơn thể hiện ở: năm 2005 lực lượng lao động đạt 44.385
ngàn người. Năm 2010 sẽ tăng lên khoảng 50,5 triệu người (chưa kể số dwis
tuổi, trên tuổi có nhu cầu làm và số chưa có việc làm các năm chuyển sang).
Tốc độ tăng lực lượng lao động giai đoạn 2006-2010 khoảng 2,54%/năm. Lực
lượng lao động qua đào tạo khoảng 25,5% vào năm 2005 (trong đó đào tạo
nghề 19%) và 40% vào năm 2010 (trong đó đào tạo nghề 26,6%).
Dự báo tổng cầu lao động trong nền kinh tế quốc dân năm 2006 khoảng
93,44 triệu lao động, trong đó thành thị chiếm 24,8%; đến năm 2010 sẽ tăng
lên khoảng 49,1 triệu lao động, trong đó thành thị chiếm 29,4%. Mức tiền
lương tối thiểu đến năm 2010 đạt 600.000đ/tháng. Tiền lương bình quân trong
các doanh nghiệp tăng 2-2,5 lần so với năm 2005. Cầu lao động ngoài nước
có xu hướng tăng, thời kỳ 2006-2010 bình quân xuất khẩu lao động đạt
80.000-100.000 người/năm. Trong đó khoảng 50% là lao động có nghề.
Trong điều kiện đất nước ta hiện nay đang trên con đường phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trong kinh tế thị trường
muốn hoạt động tốt cần có 5 đặc điểm chủ yếu sau: Một là, phân phối các
nguồn lực một cách có hiệu quả; Hai là, tạo ra những nguồn lực mới thông
qua việc đổi mới sản phẩm và đổi mới quá trình xử lý; Ba là, thích nghi nhanh
2.2. Đánh giá về công tác quản lý và chất lượng lao động trong các doanh
nghiệp Việt Nam
Lao động của chúng ta đông về số lượng nhưng chất lượng lại hạn chế
do lực lượng lao động qua đào tạo chưa đáp ứng đủ nhu cầu của doanh nghiệp
không những thế mà cơ cấu đào tạo lao động cũng chưa phù hợp với yêu cầu
thực tế và quan hệ so sánh trên thế giới.
Trước thời kỳ đổi đổi chế độ quản lý của chúng ta là tập trung quan liêu
bao cấp. Vì vậy sau thời kỳ đổi mới và trong điều kiện phát triển hiện nay vẫn
chịu sự ảnh hưởng của các quan điểm quản lý cũ. Vì thế hiệu quả quản lý
không cao. Mặt khác khả năng đào tạo đội ngũ quản lý trong cơ cấu đàotạo của đất nước ta còn rất nhiều yếu kém và tồn tại. Sự đào tạo tràn lan đã cho ra
một đội ngũ quản lý vừa không có trình độ cao vừa bảo thủ trì trệ.
Trước tình hình chất lượng lao động chưa cao, mà đội ngũ quản lý cũng
yếu kém thì việc muốn đạt được hiệu quả tốt trong hoạt động sản xuất kinh
doanh là điều khó khăn. Vì vậy cần nâng cao hơn nữa trình độ của đội ngũ lao
động và đội ngũ quản lý lao động. CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ, ĐỊNH HƯỚNG NHẰM TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, vùng, địa phương
Để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, vùng, địa phương
đặc biệt là tới tận doanh nghiệp để đạt mục tiêu đến năm 2010 giảm lao động
nông nghiệp xuống còn 50%, tăng lao động công nghiệp và xây dựng lên 23-
24%, tăng lao động dịch vụ lên 26-27%. Và riêng kế hoạch năm 2006 dự kiến
+ Nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật cho người lao động.
- Tích cực nâng cao trình độ văn hoá của người lao động.
- Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động.
3.2. Các giải pháp về việc làm, thất nghiệp, chế độ tiền lương
Để làm giảm tỷ lệ thất nghiệp cũng như thời gian thất nghiệp cần phải
tích cực giảm tỷ lệ tăng dân số và cải thiện chất lượng dân số. Mở rộng và
phát triển việc dạy nghề chú trọng các nghề mới, tạo điều kiện thuận lợi để
thu hút lực lượng lao động học nghề theo hướng xã hội hoá việc đào tạo nghề.
Muốn vậy Nhà nước phải hiện đại hoá công nghệ thiết bị của các trường
nghề, giảm hoặc miễn học phí cho người học và có chế độ đãi ngộ thoả đáng
cho đội ngũ giáo viên, kêu gọi sự tài trợ và đóng góp của các tổ chức, doanh
nghiệp và các nhà hảo tâm.
Phải có chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị để
bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao
động. Khuyến khích người lao động chủ động tìm việc làm, nâng cao trình độ,
đào tạo và đào tạo lại, đẩy mạnh phong trào thi đua lập nghiệp của lực lượng
lao động trẻ tuổi. Cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động
phòng chống tai nạn và bệnh nghè nghiệp cho người lao động. Sớm xây dựng
và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người thất nghiệp.
Nhà nước nên để cho các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp Nhà nước)
được tự chủ về tài chính, tự chủ trong việc trả lương và tiền thưởng cho người
lao động dựa trên hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động của doanh
nghiệp và người lao động cần phải thể chế hoá và xã hội cần tôn trọng trong
vâêjc bảo vệ thu nhập hợp pháp của người công dân. Đồng thời phải xác định
hợp lý thuế thu nhập…
Sớm ban hành bộ luật Doanh nghiệp chung cho tất cả các loại doanh
nghiệp bất kể doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, bất kể