Thực trạng bạo lực gia đình của chồng đối với vợ trong các gia đình nông thôn hiện nay - Pdf 35

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.

Lí do lựa chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển, vị trí mỗi người trong gia đình cũng thay đổi
hướng tới sự bình đẳng trong gia đình, bình đẳng giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và
con cái. Xu hướng phát triển này đang được cả xã hội khuyến khích. Song, bên
cạnh những gia đình được xem là những tổ ấm thực sự thì tình trạng bạo lực gia
đình với phụ nữ vẫn xẩy ra ở khắp nơi, mọi chỗ đến mức báo động. Điều này
gây ảnh hưởng lớn tới nền tảng gia đình và xã hội.
Cũng như nhiều nước trên thế giới, bạo hành gia đình ở nước ta tồn tại từ
rất lâu rồi, nhưng trong nhận thức của nhiều người, bạo hành vẫn được coi
là "chuyện riêng tư" của mỗi gia đình và có xu hướng giải quyết theo suy nghĩ
không “vạch áo cho người xem lưng”. Vì vậy, bạo lực gia đình ngày càng phát
triển với cấp độ nghiêm trọng hơn.
Theo thống kê mới nhất của Tòa án Nhân dân Tối cao, trong 5 năm qua,
các tòa án địa phương đã thụ lý và giải quyết sơ thẩm 352.047 vụ việc về ly hôn
và gia đình. Trong số này có 186.954 vụ có hành vi đánh đập, ngược đãi, chiếm
53,1% các nguyên nhân dẫn đến ly hôn.
Hiện nay, nạn nhân của tình trạng bạo hành gia đình có tới 90% là nữ
giới. Phần còn lại hầu hết là trẻ em. Tình trạng bạo hành đối với người già, vợ
đối với chồng cũng có nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ. Một con số được công bố là có tới
30% phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng cưỡng bức theo nhiều hình thức. Trong số
đó, 15% số người vợ bị đánh, gần 80% bị mắng chửi, hơn 70% bị bỏ mặc, gần
10% bị chống cấm đoán tham gia hoạt động xã hội và gần 20% bị chồng cưỡng
bức quan hệ tình dục.
1


Rất nhiều cảnh tượng đau lòng đổ lên đầu người phụ nữ, họ bị xúc phạm,

phụ nữ nói riêng.
Nhưng trên thực tế, bạo lực đối với phụ nữ vẫn còn diễn ra một cách khá
phổ biến. Theo ông Nguyễn Xuân Thanh, Phó tránh án Tòa án nhân dân Hà nội:
số vụ li hôn bắt nguồn từ bạo lực đối với phụ nữ phải xét tới cấp phúc thẩm
chiếm 99/222 vụ năm 2000; 57/175 vụ năm 2001; 35/119 vụ trong tháng 9/2002.
Nghiên cứu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam năm 2000 cho thấy, hơn 40%
phụ nữ trong mẫu khảo sát đã từng bị chồng đánh đập hoặc chửi mắng. Theo
thống kê của Tòa án nhân dân tối cao 18 tỉnh thành từ 1992 – 2000 đã xảy ra
11.630 vụ bạo lực gia đình buộc cơ quan luật pháp và chính quyền can thiệp.
Trong đó, các tỉnh đồng bằng sông Hồng như Thái Bình 1.123 vụ, Hà Tây (nay
là Hà nội) 1.484 vụ và một số tỉnh khác như Khánh Hòa 819 vụ, Ninh Thuận
967 vụ, Kiên Giang 2.001 vụ, Bà Rịa Vũng Tàu 515 vụ. Riêng năm 2005, có tới
39.730 vụ ly hôn trong tổng số 65.929 vụ án về hôn nhân gia đình chiếm tỷ lệ là
60,3%. Trên địa bàn Hà Nội từ tháng 1 – 2000 đến tháng 9 – 2002, Trung tâm
Cảnh sát 113 Hà Nội đã nhận được 517 tin tố cáo, cầu cứu của các nạn nhân bị
bạo lực gia đình. Trong 8 năm gần đây có tới 11.630 vụ bạo lực gia đình được
chính quyền can thiệp giải quyết. Cao nhất là các tỉnh Hà Tây 1.484 vụ, Kiên
Giang 2.005 vụ... Trên báo chí hàng ngày đã đăng tải nhiều vụ bạo lực rất dã
man trong gia đình như: Bài “Khống chế, đổ thuốc diệt cỏ vào miệng vợ!?” trên
Báo Thanh niên - số 186 ra ngày 05 – 07 – 2003; Bài “Kẻ giết vợ dã man”,
“Hình phạt chung thân vì hành xử vợ bằng... búa” trên Báo Phụ nữ Việt Nam ra
ngày 08 – 09 – 2003; Bài “Đổ xăng đốt vợ” trên Báo Công an nhân dân ra ngày
07 – 12 – 2002... Những bài báo đã mô tả những hành động tội ác dã man, vô
nhân tính của người chồng đối với vợ mình.

3


Phụ nữ nông thôn phải làm rất nhiều công việc khác nhau như nội trợ,
nuôi con, tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, trồng

- Khách thể nghiên cứu: gia đình nông thôn hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: xã Phương Định – huyện Trực Ninh – tỉnh
Nam Định
Trực Ninh là một huyện của tỉnh Nam Định. Phía đông giáp huyện Xuân
Trường với sông Ninh Cơ là ranh giới tự nhiên; phía tây giáp các huyện Nam
Trực, Nghĩa Hưng; phía nam giáp huyện Hải Hậu; phía bắc giáp tỉnh Thái Bình.
Huyện Trực Ninh có diện tích tự nhiên là 14.318,96 ha, dân số 188.189 người
gồm 21 đơn vị hành chính trực thuộc
Phương Định là một xã thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Việt
Nam. Xã Phương Định có diện tích 9.53 km², dân số là 16725 người, mật độ đạt
1755 người/km².
3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Nghiên cứu và phân tích các tài
liệu có sẵn liên quan đến đề tài. Dữ liệu thứ cấp được thu thập ở một số nguồn
chính như: các báo cáo và công trình nghiên cứu trước đây và các tài liệu có sẵn
được đăng trên báo báo và tạp chí (báo Tuổi trẻ, Thanh niên, Tạp chí Xã hội
học, vietnam.net và các tài liệu khác)
- Phương pháp nghiên cứu định tính: phương pháp phỏng vấn sâu.
Tiến hành phỏng vấn sau với một số đối tượng là cán bộ: cán bộ phụ trách
tư pháp, cán bộ phụ nữ và một số đối tượng bị bạo hành ở một số thôn thuộc xã
Phương Định – huyện Trực Ninh – tỉnh Nam Định.
Tiến hành phỏng vấn sâu:


Phỏng vấn sâu với cán bộ địa phương:

•1 chủ tịch hoặc phó chủ tịch xã hoặc chánh văn phòng
5



chống bạo lực đối với phụ nữ” năm 1993 thì bạo lực chống lại phụ nữ là “bất kì
hành động bạo lực trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những
thương tổn về thân thể, tâm lý hauy tình dục hay những đau khổ của phụ nữ, bao
gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt
sự tự do, dù ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”
2. Phân loại bạo lực của chồng đối với vợ trong gia đình
Một hành vi cụ thể của chồng đối với vợ có thể coi là bạo lực nếu nó gây
ra những tổn thương. Quan niệm thế nào là bạo lực se chi phối sự phản ứng,
cách thức xử lí cũng như khả năng và mức độ chấp nhận của chủ thể bị bạo lực.
Các nghiên cứu đã chỉ ra các cách phân loại như sau:
Theo Vũ Mạnh lợi và các cộng sự năm 1999, có 4 loại bạo lực gia đình:
một là ngượi đãi thân thể: đánh đập, cưỡng ép…; hai là ngược đãi về lời nói:
chửi mắng…; ba là ngược dãi về tình cảm: chiến tranh lạnh, phớt lờ…; bốn là
ngược đãi liên quan đến tình dục: cưỡng ép tình dục…
Theo Lê Thị Qúy, 2000 và Lê Ngọc Văn, 2004, có hai loại bạo lực gia
đình: một là bạo lực nhìn thấy được, thường là những hành vi đe dọa sử dụng
các biện pháp tránh thai của vợ; hai là bạo lực không nhìn thấy được, bao gồm
việc sỉ nhục, chửi bới, thờ ơ, lãnh đạm hoặc chiến tranh lạnh.
Theo Lê phương Mai, 2000 và Nguyễn Thị Hoài Đức, 2001, ba loại bạo
lực gia đình:một là bạo hành thể xác, hai là bạo hành tinh thần: mọi hành động
tổn thương đến đời sống tinh thần của người phụ nữ như lăng mạ, chửi rủa,
7


mắng mỏ, đe dọa hoặc những hành vi khác xúc phạm làm nhục vợ trước mặt
người khác làm cho họ đau đớn, lo sợ, ngoại tình…, ba là bạo hành tình dục:
cưỡng ép vợ trong quan hệ tình dục với ý muốn của người vợ, thậm chí lúc mệt
mỏi, ốm đau…
Theo Bùi Thị Hằng, 2001, năm loại bạo lực gia đình: một là cưỡng bức
thân thể: đám, đá, bạt tai… gây tổn thương về thể xác; hai là cưỡng bức tình

tồn tại nhiều quan điểm bạo lực phải là hành vi đánh đập nhiều còn tát vài cái
chưa được coi là bạo lực. Điều này có thể lí giải do nhận thức của phụ nữ nông
thôn còn thấp, do những trải nghiệm cá nhân hay thói quen ứng xử trong gia
đình hoặc cộng đồng…
Mặc dù có những quan điểm khác nhau như trên nhưng trong một số
nghiên cứu đã đưa ra những con số khá thú vị. Cuộc khảo sát của Vũ Mạnh Lợi
và cộng sự năm 1999 cho biết, khoảng 80% phụ nữ đã từng bị ngược đãi bởi
người chồng, từ 10 – 25% đã từng bị đánh; 7.5% đã từng đe dọa đánh vợ hoặc
ném một cía gì đó đối với vợ và 8.5% đã từng đánh, tát hoặc xô ngã vợ (Vũ Huy
Tuấn, 2003, tr 165 - 166). Theo khảo sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
năm 2001 thì tỉ lệ người vợ bị chồng đánh là 7% trong khi đó tỉ lệ này năm
2000 là 3.2%. Trong các hành vi bạo lực thân thể thì hành vi bị chồng đấm, đá,
tát hoặc dùng gậy đánh chiếm 70%
“Có rượu vào lão ấy đánh, không rượu thì lão ấy chửi, chửi cả dòng họ.
Tôi snh được 3 đứa con nhưng do lão ấy đánh tôi, đánh cả lúc mang thai nên toi
tức lên tôi đi triệt sản để không đẻ nữa. Đánh tôi bằng cây, bằng dao. Tôi nằm
lão ấu cứa ngang cổ tôi nữa, chém ngay đây này”
(PVS Nữ, 38t, thôn Cổ Chất, PĐ,TN,NĐ)
Nghiên cứu của Hội đồng dân số tại Bình Dương năm 2002 cho biết có
22% trong tổng số 202 phụ nữ được hỏi đã từng là nạn nhân bạo lực của người
chồng và có 13% đã từng chịu ngược đãi trong vòng một năm qua trong đó bạo
hành về thể chất được đề cập nhiều nhất với hình thức đấm, đá và đánh bằng gậy
chiếm 14%. Theo số liệu của Viện khoa học Xã hội Việt Nam năm 2005 về
9


“Thực trạng bình đẳng giới năm 2004-2005 thì đã có tới 5.7% phụ nữ bị chồng
đánh”.
Như vậy có thể thấy, có nhiều hình thức bạo lực thân thể nhưng phổ biến
nhất vẫn là đánh, đá và tát. Các quan niệm về vấn đề bạo lực cũng rất đa dạng,

Bạo lực tinh thần cũng diễn ra khá phổ biến với nhiều mức độ khác nhau.
Trong một nghiên cứu “Biến đổi gia đình” năm 2001 của Viện Xã hội học cho
hay 44.6% nam giới thừa nhận đã có hành vi “im lặng, từ chối nói chuyện với
vợ”, có 28.6% người chồng đã từng lăng mạ hoặc chửi bới với vợ, 4% đã từng
nhạo báng hoặc làm bẽ mặt vợ; 1.6% chồng có hành vi bỏ lửng vợ (khảo sát của
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2001); 17% người chồng chửi mắng vợ (Hội
đồng dân số, 2002); 21.2% từng bị chống chửi trong 12 tháng qua (Viện Khoa
học xã hội Việt Nam, 2005).
Nhìn chung hình thức bạo lực tinh thần không dễ nhận biết như bạo lực
thể chất nhưng mức độ phổ biến của nó cũng được biểu hiện bằng những con số
đáng ngạc nhiên.
3.3 Các quan niệm về bạo lực kinh tế của chồng đối với vợ
Bạo lực về kinh tế thường được hiểu là sự kiểm soát về tài chính và ngân
quỹ trong gia đình của chồng đối với vợ. Có những gia đình mà mỗi khi vợ
muốn chi tiêu cái gì thì đều phải được sự đồng ý của chồng, thậm chí có gia đình
người chống còn bắt người vợ ghi chi tiêu các khoản hàng thàng để người chồng
kiểm tra. Đáng chú ý là bạo lực kinh tế thường không diễn ra một cách độc lập
mà còn cộng thêm các bạo lực khác:
“Bây giờ có đồng tiền nào ông ấy cuỗm hết rồi. Ông ấy viết cái giấy là
“tao sẽ giết sạch từ mẹ đến con, sẽ đốt sạch, phá sạch, tao cũng chết thiêu
luôn””
(PVS Nữ, 49 tuổi, thôn Trung Khê, PĐ, TN, NĐ)
Trong ý kiến này người vợ ngoài bị bạo lực về kinh tế còn bị bạo lực về
thân thể. Sauk hi bị chồng đánh đập phải nhập viện rồi đến khi ra viện còn bị
chồng lấy hết tất cả tiền của.
11


Một số phụ nữ là nạn nhân của bạo lực kinh tế cũng đã kể về việc “… nó
ham mê cờ bạc, thua rồi về nha lấy cắp trang sức của vợ, nhẫn cưới nó cũng

thôi. Khi đã mãn kinh, không đáp ứng được nhu cầu của chồng thì mình cũng
giải thích, cùng hòa thuận”
(PVS Nữ, 50t, thôn An Trung Trong, PĐ, TN, NĐ)
Trong cuộc khảo sát của Vũ Mạnh Lợi và cộng sự năm 1999 có tới 16%
đến 25% người vợ đã bị bị chồng cưỡng ép làm tình.
4. Nguyên nhân của bạo lực gia đình của chồng đối với vợ trong gia
đình ở nông thôn
Tại sao lại xuất hiện bạo lực của chồng đối với vợ trong gia đình, đối với
một số trường hợp tìm được âu trả lời khá dễ dàng nhưng đối với một số trường
hợp khác thì đó là vấn đề không đơn giản. Đơn giản khi trả lời câu hỏi thường là
đối với những người cợ bị bạo lực lần đầu, có một số lí do cụ thể và trong bối
cảnh xác định. Vì vậy mà có những nạn nhân là những người vợ có thể tường
thuật lại sự việc như mới xảy ra ngày hôm qua. Còn không đơn giản khi người
trả lời bị bạo lực không phải lần đầu mà lí do bị bạo lực là tổng hợp của nhiều
yếu tố mà không thể xác định được nguyên nhân, không đặt trong bối cảnh cụ
thể nào đó nên khó mà nhớ để mô tả được.
4.1 Mâu thuẫn trực tiếp
Sự bực bội và cãi và thường được coi là lí do làm châm lên ngọn lửa bạo
lực của người chồng đối với vợ. Nó thường được bắt đầu bằng không khí căng
thẳng không tìm được tiếng nói chung dẫn đến có những lời nói nặng lời giữa
hai bên vợ chồng
“Cứ bực quá thì lại cãi nhau, đến lúc bực quá nó cho chị mấy phát tát,
mấy phát đá…”
(PVS Nữ, 28t, thôn An Trung Ngoài, PĐ, TN, NĐ)
Trong quá trình mâu thuẫn diễn ra hành vi của chồng và vọ thường khác
nhau. Người vợ thường dùng lời nói với cấp độ tăng dần lên nặng lời, người
chồng thường dùng chân tay với vợ. Tuy nhiên cũng có người vợ đập phá đồ đạc
13




góp ít hơn thường sẽ bị phụ thuộc, nhất là ở nông thôn mặc dù người vợ có vai
trò quan trọng trong sản xuất nhưng thành quả của họ chưa được công nhận một
cách tương xứng với nhứng gì họ bỏ ra. Vì vậy mà có những gia đình ông chồng
hoàn toàn chuyên quyền độc đoán với vợ.
Tuy nhiên cũng có những gia đình thì người vợ đóng góp lớn hơn người
chống những vẫn bị bạo lực: “vợ làm ra tiền còn chồng thì nhàm chán quá nên
rượu chè rồi gây sự”
(PVS Cán bộ Phụ nữ xã Phương Định, TN, NĐ)
Bên cạnh đó có một yếu tố liên quan đến mâu thuẫn này đó chính là trình
độ học vấn. Trình độ học vấn luôn là chỉ bào quan trọng ảnh hưởng đến thỉa độ
và hành vi của người chồng. Trong nghiên cứu “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ
ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu tại Thái Bình đã chỉ ra rằng tỷ lệ nam giới chấp
nhận hành vi mắng chủi vợ đã giảm từ 61.3% ở nhóm có trình độ học vấn tiểu
học xuống còn 33.6% nhóm trình độ học vấn phỏ thông trung học”
Nhưng nhìn chung sự đóng góp vào kinh tế gia đình là một trong những
nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn và gây ra bạo lực gia đình, trong đó yếu tố trình
độ học vấn có tầm ảnh hưởng lớn đến nhận thức, thái độ và hành vi của những
ông chồng.
4.2.3 Thiếu niềm tin, không thống nhất trong làm ăn
Niềm tin là trạng thái tình cảm cụ thể của con người, đặt hoàn toàn hy
vọng vào người nào hay cái gì đó cho đúng sự thật, là có thật, nghĩa là rất có thể
sẽ như vậy, tới mức có thể dựa vào, trông cậy vào (Viện Ngôn ngữ học, 1988, từ
điển Tiếng Việt)
Trong gia đình niềm tin thường được biểu hiện là sự tin tưởng lẫn nhau,
thống nhất với nhau trong cuộc sống cũng như trong tình cảm. Tuy nhiên, nếu
thiếu niềm tin sẽ gây ra mâu thuẫn trong gia đình mà nguyên nhân của nó
thường xuất phát từ những mối nghi ngờ, chồng không tin vơh hoặc vợ không
tin chồng.
15

16


“Em thấy đấy. Khu vực này chẳng có nghề gì cho dân làm ăn cả, quanh
đi quẩn lại chỉ có mấy sào ruộng, cơm nhiều khi không có mà ăn, túng quẫn rồi
lại cãi nhau”
(PVS Cán bộ phụ nữ xã Phương Định, TN, NĐ)
“Gìa có sức khỏe rồi, làm không được nhiều như trước nữa, bệnh đau
lưng cứ hành hạ, toi chẳng làm được gì cả, nhà lại không có nhiều tiền. Có bao
nhiêu thì lo cho bọn trẻ đi học tử tế, mỗi lần con cần đóng góp gì là 2 vợ chồng
lại hoạnh họe nhauu…”
(PVS Nữ, 51t, thôn Hòa Lạc, PĐ, TN, NĐ)
4.3 Mâu thuẫn liên quan đến tình cảm
4.3.1 Ngoại tình
Tình cảm là một trong những yếu tố quan trọng làm nen hạnh phúc gia
đình. Tuy nhiên khi ngoại tình xảy ra thì xung đột và mâu thuẫn thường rất lớn
và nguy cơ đổ vỡ gia đình rất cao
4.3.2 Sinh con một bề
Ở nông thôn tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ăn sâu bám rễ vào tư
tưởng người chồng. Sự kỳ vọng có đứa con trai nối dõi tong đường luôn luôn chi
phối hành vi của cả hai vợ chồng. Nếu người vợ sinh con một về thì đó được coi
là chưa hoàn thành trách nhiệm với nhà chồng.
Người chồng thường trách móc vợ không biết đẻ rồi có thể đi ngoại tình
hay chơi gái nhưng khi về nhà vẫn có những hành vị mâu thuẫn, thậm chí gây
bạo lực với vợ
“Số chị nó khổ. Sinh 5 lần toàn con gái. Chồng và ông bà nội muốn có
thằng con trrai cho oai với mọi người. Thế là cứ bắt đẻ, nhưng đến đứa thứ năm
rồi cũng chán, suốt ngày anh ấy mắng chị là đồ gái không biết đẻ rồi rượu chè
đến tận khuya mới về. Thương các con nên chị không dám nói gì cả…”
(PVS Nữ, 39t, thôn Hợp Thịnh 1, PĐ, TN,

(PVS Nữ, 35t, thôn Hòa Lạc, PĐ, TN, NĐ)

18


5.2 Bạo lực gia đình là mối nguy hại đến sự hình thành nhân cách và
sự phát triển của con cái.
Những đứa trẻ lớn lên trong gia đình bạo lực thường có những hành vi
khác những đứa trẻ lớn lên trong gia đình không có bạo lực.
Nhiều học giả đã chỉ ra mối quan hệ sâu sắc giữa bạo lực gia đình và sự
thờ ơ, bỏ bê của gia đình với việc chăm sóc trẻ nhỏ và nuôi dạy con cái. Đặc biệt
khi phải chứng kiến vảnh bạo lực của bố mẹ chúng thì chúng không còn tìm
thấy tình yêu thương trong cái gia đình nhỏ của mình nữa và có xu hướng xa
lánh gia đình, mặc cảm với bạn bè, tự kỉ, ít nói và tiếp xúc vưosi mọi người…
“Con tôi thấy bố nó đánh mẹ thì khóc lóc xin tha cho tôi. Có lần còn bị
bố nó đánh thâm tín chân tay. Thành ra bố con nó không nói chuyện với nhau
được nữa. Tôi cũng có khuyên bảo nhưng không có tác đụng gì cả…”
(PVS Nữ, 40t, thôn Hợp Hòa, PĐ, TN, NĐ)
Khi đứa trẻ buồn chán dễ đễn đến tâm lí tiêu cực, bất cần và có thể trở
thành nạn nhân của những tệ nạn xã hội. Trên phương tiện truyền thông đại
chúng cũng đã đưa nhiều vụ vi phamh pháp luật mà người vi phạm là những trẻ
vị thành niên hay những tội phạm “nhí” mà hành động của chúng còn khủng
khiếp hơn người lớn, cũng sử dụng dao găm, đâm thuê, chém mướn…
Trong nghiên cứu “Bạo lực gia đình và ảnh hưởng của nó tới việc hình
thành nhân cách trẻ em” của tác giả Lê Thị Qúy năm 1999 đã chỉ ra rằng nhiều
phạm nhân nhỏ tuổi lớn lên từ những gia đình không hòa thuận và quen phải
nhìn thấy những cảnh bạo lực không chỉ trong phim ảnh mà ngay trong gia đình
của chúng.
Trong một nghiên cứu khác của Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em “Thực
trạng nhận thức về bạo lực và bạo lực gia đình tại Đông Nam Bộ” nă 2004 cũng

khỏe sinh sản và chống bạo lực gia đình. Các lớp tập huấn cần tổ chức gọn nhẹ
nhưng nội dung sâu sắc, cần tập trung vào các chủ đề sau :
Vấn đề bình đẳng giới và tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam và trên
thế giới. Nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình. Các hoạt động của liên
20


hợp quốc, chính phủ, phong trào phụ nữ quốc tế và các lực lượng tiến bộ trong
việc ngăn chặn bạo lực gia đình. Công ước Chống mọi hình thức phân biệt đối
với phụ nữ - (CEDAW) , Công ước quốc tế về quyền trẻ em… Tuyên truyền,
giáo dục về pháp luật Việt Nam liên quan đến bạo lực gia đình.
Lồng ghép hoạt động tuyên truyền chống bạo lực gia đình vào các chương
trình dân số, sức khoẻ sinh sản, các chương trình sinh hoạt ở địa phương như
họp tổ dân phố, họp thôn, xóm, đoàn thể.
2.2. Xây dựng mạng lưới, có sự thống nhất chỉ đạo hành động từ chính
quyền xuống các tổ chức và nhân dân địa phương.
Thành lập bộ phận phòng chống bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội
khác ( PCBLGĐ & TNXH) có trách nhiệm và quyền hạn theo quy định của địa
phương và mạng lưới thành viên và cộng tác viên đến tận thôn xóm. Bộ phận
này có thể chia thành hai nhóm hòa giải : “Nhóm phụ nữ xây dựng gia đình hạnh
phúc” và “Nhóm nam giới văn minh không dùng bạo lực”. Nhóm phụ nữ sẽ giúp
đỡ nạn nhân là phụ nữ về cả vật chất và tinh thần, còn nhóm nam giới ( Men to
men ) sẽ giáo dục những người đàn ông hay đánh vợ con và những người thân
khác. Các thành viên của nhóm có khả năng làm tư vấn cho các nạn nhân cũng
như ngừơi gây ra bạo lực.
Xây dựng các Trung tâm cứu giúp phụ nữ bị bạo lực tại địa phương. Các
Trung tâm này nằm trong trạm xá, bệnh viện của địa phương. Động viên sự giúp
đỡ, ủng hộ của nhân dân địa phương với nạn nhân như các thành viên trong gia
đình, họ hàng, bạn bè của gia đình nạn nhân, người hàng xóm
2.3. Phối hợp với chương trình xây dựng gia đình văn hoá mới và


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Bình đẳng giới Việt nam, 2001
2. Ngân hàng thế giới, “Báo cáo đánh giá giới ở Việt Nam”, 2006
3. Viện Xã hội học, “Biến đổi gia đình”, 2001
4. Hội đồng dân số, “Bạo hành trên cơ sở giới”, 2002
5. Hội đồng dân số, “Ngăn chặn bạo hành trong gia đình: phổ biến
tài liệu hướng dẫn tư vấn chống bạo hành cho các cộng đồng nông thôn”, 5/2002
6. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, “Báo cáo của các tổ chức phi
chính phủ về 10 năm thực hiện cương lĩnh hành động Bắc Kinh tại Việt nam vì
bình đẳng, phát triển và hòa bình”, 2005
7. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ
ở Việt Nam: Kết quả nghiên cứu tại Thái Bình, lạng Sơn và Tiền giang”, 2001
8. Tổ chức dân số và phát triển quốc tế, “Giới, nâng cao vị thế phụ
nữ và sức khỏe sinh sản tại 4 cộng đồng dân cư của ViệtNam”, 2002
9. Lê Thị Qúy “Bạo lực gia đình và ảnh hưởng của nó đến việc hình
thành nhân cách của trẻ em”, Tạp chí Khoa học và phụ nữ số /1999
Ngày 20/11/1989 Đại hội đồng LHQ đã thông qua Công ước về quyền trẻ
em và Công ước có hiệu lực kể từ ngày 02/9/1990. Với 54 điều khoản trẻ em
được công nhận có đầy đủ các quyền như người lớn, trong đó được chia ra làm 5
nhóm: dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Ngoài những điều khoản quy
định quyền con người của trẻ em như quyền được sống và phát triển, quyền
được bảo vệ khỏi bị áp bức và tổn thương về thể chất và tinh thần... còn có một
số quyền mang tính đặc thù của trẻ em được khẳng định là: quyền được sống với
cha mẹ, quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng, quyền được nhận làm con nuôi...
Khi đánh con, những người tỉnh táo thì nhắc nhau: có đánh thì tránh chỗ
“phạm” để cho chúng không bị nguy hiểm. Mông đít hoặc chân tay của trẻ là nơi
họ đánh thường xuyên vì cho rằng đây là nơi “an toàn”. Còn những kẻ mù quáng
23




Kết quả cuộc nghiên cứu thăm dò dư luận trẻ em cũng cho thấy 99,2% số
em được hỏi mong muốn khi có những bất hòa trong gia đình thì phải bình tĩnh
hòa giải trên tình yêu thương. Khi con cái có lỗi thì 87,18% các em cho rằng cha
mẹ nên giải thích và khuyên răn để con sửa chữa, chỉ có 1,85% nói rằng khi cần
thì thì nên đánh, 0,73% nói nên xử phạt nặng. Những ý kiến trên của trẻ chứng
tỏ chúng không hề muốn có bạo lực, nhất là bạo lực trong tổ ấm của gia đình
chúng.
Thực tế đã cho thấy hiện nay vẫn còn khá nhiều ông bố bà mẹ không hiểu
được rằng việc dùng bạo lực với con cái là hoàn toàn đồng nghĩa với việc dạy
dỗ, tập cho chúng quen dần với việc dùng bạo lực với người khác. Qua nghiên
cứu, người ta đã nhận thấy rằng: Những đứa trẻ được nuôi dưỡng trong không
khí của bạo lực gia đình thường dùng bạo lực trong việc xử lý các mối quan hệ
xã hội, bạn bè thậm chí cả anh em, họ hàng.
Bạo lực gia đình đã biến nhiều đứa trẻ hiền lành trở nên hung dữ và trong
nhiều trường hợp cũng dùng cả những hình thức tàn bạo, dã man để đối xử với
người khác. Theo một số cuộc điều tra xã hội học ở Mỹ, người ta nhận thấy rằng
80% phạm nhân Mỹ lớn lên trong những gia đình bố mẹ chúng đánh lộn như
cơm bữa. 63% nam thiếu niên phạm tội giết người là chúng giết kẻ đã đánh đập
mẹ chúng. Trong khi đó có khoảng 50% trường hợp các cô gái bị chồng đánh lại
lặp lại số phận của mẹ các cô.
Gần đây, báo chí nước ta đã nói nhiều đến những tội phạm “nhí”, mà hành
động của chúng cũng khủng khiếp không thua kém gì các băng đảng người lớn,
cũng dao găm và mã tấu, cũng đâm chém và giết người, gặp gỡ các phạm nhân
nhỏ tuổi này chúng tôi nhận thấy phần lớn các em đều lớn lên từ những gia đình
không hòa thuận và phải quen nhìn thấy những cảnh bạo lực không chỉ trong
phim ảnh mà trong chính gia đình của chúng.
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học thì trẻ em cũng có những sợ hãi
như người lớn nhưng không phải lúc nào các em cũng mô tả được sự sợ hãi đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status