Những vấn đề cơ bản trong đầu tư và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
-
Có thể hiểu đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các tải sản hữu hình hoặc vô hình
để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật.
Nhắc tơi đầu tư thì ta thường quan tâm tới 3 khái niệm chủ yếu là nhà đầu tư, vốn
đầu tư, hoạt động đầu tư.
Nhà đầu tư: là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp
luật Việt Nam. Nhà đầu tư ở đây bao gồm nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước
ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư
tại Việt nam. Nhà đầu tư bao gồm:
- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật Doanh nghiệp;
- Hợp tác xã, liên hiệp các hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật đầu tư có
hiệu lực;
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh;
- Tổ chức cá nhân nước ngoài, người Việt nam định cư ở nước ngoài;
- Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Nhà đầu tư là người sở hữu vốn, ra quyết định đầu tư, quản lý quá trình thực hiện và
vận hành kết quả đầu tư và là người hưởng lợi từ thành quả đầu tư đó. Nhà đầu tư chịu
trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư, chịu trách nhiệm toàn bộ về những sai
phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi sinh và do đó, có ảnh
hưởng quan trọng tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư
theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp. Đối với một doanh nghiệp thì vốn
đầu tư xuất hiện từ khi doanh nghiệp còn chưa hình thành và sẽ tiếp tục phát triển đến khi
nào doanh nghiệp dừng hoạt động. Hiện nay, vốn đầu tư là một trong những nhân tố tiên
quyết trong sự phát triển của bất kì một doanh nghiệp nào.
Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư gồm các khâu
chuẩn bị đầu tư, thực hiện, quản lý dự án đầu tư.
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy doanh
nghiệp cần phải quan tâm tới thị trường đầu vào, đến quá trình tổ chức sản xuất và thị
trường đầu ra của sản phẩm. Cạnh tranh trong thị trường xảy ra phổ biến dưới hình thức
đấu thầu. Các doanh nghiệp khi tham gia đấu thầu đều muốn thắng thầu vì vậy vấn đề
đầu tư để nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên các phương diện: trình độ kỹ thuật, công
nghệ sản xuất, trình độ quản lý, nghệ thuật kinh doanh... là những vấn đề được doanh
nghiệp nghiên cứu một cách nghiêm túc. Đầu tư ở các doanh nghiệp thường được xem
xét trên các khía cạnh sau:
Theo đối tượng đầu tư bao gồm:
Đầu tư cho các đối tượng vật chất: đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị thi công; đầu tư
mua đất đai, dự trữ vật tư hoặc các đầu tư cho các tài sản cố định khác.
Đầu tư tài chính: đầu tư mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh hoặc cho vay nợ.
Các đầu tư khác như đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ, cho quảng cáo; đầu
tư đào tạo và cho các dịnh vụ khác.
Theo góc độ tài sản cố định:
-
-
-
-
Đầu tư mới: là đầu tư mua sắm tài sản cố định mới, đầu tư thành lập doanh nghiệp.
Đầu tư thay thế: là đầu tư lại, thay thế các tài sản cố định cũ.
Theo nguồn vốn đầu tư thì đầu tư của doanh nghiệp có thể có nguồn vốn từ ngân
sách nhà nước, từ vốn tự tích lũy của doanh nghiệp, từ liên doanh liên kết hoặc từ vốn
vạy.
+ So sánh phương án nhập khẩu máy và phương án tự sản xuất máy trong nước.
+ Đầu tư mua sắm máy để cho thuê.
Để đi đến quyết định đầu tư, vấn đề quan trọng là phải đánh giá được hiệu quả của
đầu tư. Hiệu quả của đầu tư được biểu hiện trong mối quan hệ giữa lợi ích thu được do
đầu tư mang lại và chi phí bỏ ra để thực hiện đầu tư. Khi xem xét một dự án đầu tư phải
xem xét vấn đề cơ bản là những lợi ích trong tương lai thu được có tương xứng với vốn
đầu tư đã bỏ ra hay không? Để đánh giá được lợi ích của đầu tư phải xuất phát từ mục
tiêu của đầu tư.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh thì mục đích hàng đầu trong hoạt động kinh doanh
là lợi nhuận. Vì thế, việc đầu tư của doanh nghiệp là nhằm khai thác tốt nhất mọi tiềm
năng và lợi thế của doanh nghiệp hướng tới hiệu quả cuối cùng là lợi nhuận. Tuy nhiên
cũng cần thấy rằng không phải tất cả các khoản đầu tư để cải thiện điều kiện làm việc,
đầu tư cho việc bảo vệ môi trường… đều vì mục đích lợi nhuận. Ở đây chúng ta chủ yếu
xem xét các dự án đầu tư dưới góc độ doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận.
Sau khi xác định mục tiêu đầu tư và xem xét tình hình kinh doanh hiện tại, những
yếu tố, dữ kiện liên quan đến khả năng đầu tư trong tương lai cần phải tiến hành lập các
phương án để giải quyết nhiệm vụ kinh tế được đặt ra cho đầu tư. Việc lập dự án đầu tư là
quá trình hoạt động phối hợp chặt chẽ của các chuyên gia, các cán bộ chuyên môn ở các
phòng, ban của doanh nghiệp như các kỹ sư, nhà kinh tế, tài chính, kế toán… Về phương
diện tài chính, mỗi dự án đầu tư cần phải xác định:
- Dự toán về vốn để thực hiện phương án đầu tư
- Số lợi nhuận khi thực hiện đầu tư đưa lại.
Sau khi dự án đầu tư được lập, vấn đề đặt ra là phải chọn được 1 dự án đầu tư tối ưu
nhất. Mỗi khoản đầu tư của doanh nghiệp có thể có nhiều dự án khác nhau. Để lựa chọn
dự án cần sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế và áp dụng phương pháp lựa chọn nhất
định.
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh
tế - xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó
* Đối với dự án đầu tư:
Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư bao gồm:
- Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án:
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư. Chỉ tiêu lợi nhuận thuần
tính cho từng năm của đời dự án, phản ánh hiệu quả hoạt động trong từng năm của đời dự
án. Chỉ tiêu thu nhập thuần phản ánh hiệu quả hoạt động của toàn bộ công cuộc đầu tư.
Các chỉ tiêu này phải được tính chuyển về mặt bằng tiền tệ theo thời gian.
- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
Trong đó :
+ RRi là mức sinh lời của vốn đầu tư năm i
+ Wipv là lợi nhuận năm I tính chuyển về thời điểm hiện tại.
+ Iv0 là vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (tại thời điểm dự án bắt đầu hoạt động)
Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm trên một đơn vị vốn đầu tư
(1000đ, 1000000đ,…).
-
Trong đó:
+ NPV - là thu nhập thuần tính về thời điểm hiện tại. Chỉ tiêu này phản ánh mức thu
nhập thuần tính cho một đơn vị vốn đầu tư.
Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư:
Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi vốn đầu tư đó bỏ
ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm. Dự án có hiệu quả khi T =
K là hệ số mức ảnh hưởng của đầu tư.
- Chỉ tiêu mức tăng năng suất lao động của từng năm hoặc bình quân năm thời kỳ so
trước thời kỳ do đầu tư:
Trong đó:
+
là mức tăng năng suất lao động bình quõn năm thời kỳ t so với thời kỳ
t-1.
+
là mức tăng năng suất lao động năm i so với năm i-1.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
- Giá trị gia tăng thuần túy ký hiệu là NVA (Net value added):
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư
.NVA là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào. Công thức tính toán như
sau:
Trong đó
+ NVA là giá trị gia tăng thuần túy do đầu tư mang lại.
+ O (Output) là giá trị đầu ra của dự án.
+ MI (Material input) là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và dịch vụ mua ngoài
theo yêu cầu để đạt được đầu ra trên.
+ Iv là vốn đầu tư bao gồm chi phí xây dựng nhà xưởng, mua máy móc, thiết bị …
NVA bao gồm 2 yếu tố: chi phí trực tiếp trả cho người lao động ký hiệu là Wg
(wage) (tiền lương, tiền thưởng kể cả phụ cấp). Và thặng dư xã hội ký hiệu là SS (social
surplus). Thặng dư xã hội thể hiện thu nhập của xã hội từ dự án thông qua thuế gián thu,
trả lời vay, lãi cổ phần, đóng bảo hiểm, thuê đất, tiền mua phát minh sáng chế …
đầu tư vào các yếu tố đầu tư, bằng một hệ thống đồng bộ các công cụ, các phương pháp
kinh tế - xã hội, tổ chức kĩ thuật và các phương pháp khác nhằm đạt được kết quả và hiệu
quả đầu tư cao nhất, trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sang tạo
những quy luật khách quan và quy luật đặc thù của đầu tư.
• Mục tiêu:
Mục tiêu của quản lý đầu tư được xác định trên từng phạm vi quản lý:
- Quản lý đầu tư trên góc độ vĩ mô: Mục tiêu quản lý bao gồm:
+ Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong
từng thời kì của quốc gia, từng ngành và từng địa phương.
+ Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả cao các nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài
lực, vật lực của ngành, địa phương và toàn xã hội. Gắn liền với việc bảo vệ môi trường
sinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai thác các
kết quả đầu tư.
+ Thực hiện đúng những quy định pháp luật và yêu cầu kinh tế - kỹ thuật trong lĩnh
vực đầu tư.
- Quản lý đầu tư của từng cơ sở:
Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu hoạt động, chiến lược phát triển của đơn vị, mục
tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế tài chính.
- Quản lý đầu tư với từng dự án:
+
+
+
+
+
+
+
Ban hành kịp thời các chính sách chủ trương đầu tư nhằm cải thiện môi trường và thủ tục
đầu tư, huy động tối đa và phát huy có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư đặc biệt vốn trong
dân và vốn đầu tư nước ngoài; trên cơ sở đó phân tích đánh giá hiệu quả của hoạt động
đầu tư, kịp thời điều chỉnh bổ sung những bất hợp lý, chưa phù hợp trong cơ chế, chính
sách.
Ban hành các định mức kinh tế, kỹ thuật, các chuẩn mực đầu tư.
Xây dựng chính sách cán bộ thuộc lĩnh vực đầu tư.
Đề ra chủ trương và chính sách hợp tác đầu tư với nước ngoài, chuẩn bị các nguồn lực tài
chính, vật chất và nhân lực để hợp tác có hiệu quả cao.
Thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật và cam kết của chủ đầu
tư.
Quản lý trực tiếp nguồn vốn nhà nước.
Nội dung quản lý đầu tư của các Bộ, ngành và địa phương:
Các Bộ, ngành, địa phương xây dựng chiến lược, quy hoạch đầu tư cho Bộ, ngành và địa
phương mình.
Xác định danh mục các dự án cần đầu tư của ngành, địa phương.
Xây dựng các kế hoạch huy động vốn.
Hướng dẫn các nhà đầu tư thuộc ngành mình, địa phương mình lập dự án tiền khả thi và
khả thi.
+
+
+
+
+
+
của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Trong lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung, quản lý đầu tư nói riêng, chính phủ được
Quốc hội giao những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, củng
cố và phát triển khu vực kinh tế nhà nước nắm giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc
dân. Củng cố và mở rộng các HTX hoạt động có hiệu quả, tạo điều kiện để các thành
phần kinh tế khác phát triển.
Xây dựng dự án kế hoạch phát triển – xã hội dài hạn, 5 năm hàng năm trình Quốc hội, chỉ
đạo thực hiện các kế hoạch đó.
Lập dự toán ngân sách nhà nước, phân bố ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách
nhà nước hàng năm trình Quốc hội, tổ chức và điều hành thực hiện ngân sách nhà nước
được Quốc hội quyết định.
Quyết định các chính sách cụ thể, các biện pháp về tài chính, tiền tệ, tiền lương, giá cả.
Thống nhất quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân, tài nguyên
quốc gia, thực hành chính sách tiết kiệm.
Thi hành chính sách bảo vệ, cải tạo, tái sinh và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên
nhiên.
Thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan
hệ kinh tế với các quốc gia, tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
và cùng có lợi, thúc đẩy sản xuất trong nước, bảo vệ hàng nội địa.
Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê nhà nước.
Các bộ phận và ủy ban nhà nước: Có chức năng quản lý nhà nước theo ngành hoặc lĩnh
vực công tác được phân công phụ trách trên toàn quốc theo quy định của pháp luật đối
với mọi tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế và có trách nhiệm bảo đảm quyền tự
chủ trong hoạt động kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật.
Sau đây là trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư của số Bộ và cơ quan ngang Bộ
chủ yếu nhất:
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân.
Phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu tư phân bổ kế hoạch cấp phát vốn vay và viện trợ
Chính phủ dành cho đầu tư phát triển. Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các tổ chức,
đơn vị có sử dụng vốn đầu tư của nhà nước.
+ Ngân hàng nhà nước Việt Nam: có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế chính sách
quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong đầu tư và xây dựng trình Thủ tướng
Chính phủ ban hành hoặc được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền ban hành; Hướng dẫn
ngân hàng đầu tư và phát triển, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, tín
dụng khác thực hiện việc huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để cho vay dài
hạn, trung hạn các dự án và cho vay ngắn hạn phục vụ đầu tư phát triển và sản xuất kinh
doanh; Thực hiện chế độ bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho các nhà
thầu Việt Nam khi tham gia đấu thầu Quốc tế theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Các ngân hàng tự quyết định cho vay, thu nợ bằng nguồn vốn huy động theo lãi suất thị
trường.
+ Các bộ quản lý ngành về đất đai, tài nguyên, công nghệ, môi trường thương mại,
bảo tồn, bảo tàng di tích, di sản văn hóa, cảnh quan, quốc phòng, an ninh, phòng cháy và
chữa cháy có trách nhiệm xem xét và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề có liên quan
của dự án đầu tư.
Các bộ quản lý ngành có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các cơ chế,
chính sách về đầu tư phát triển ngành và quản lý nhà nước các dự án đầu tư thuộc
ngành,đồng thời có quyền kiến nghị đình chỉ đối với hoạt động đầu tư và xây dựng trái
với quy định thuộc chức năng quản lý nhà nước của các Bộ.
+ Các bộ quản lý xây dựng chuyên ngành (Bộ Xây dựng, Bộ GTVT, Bộ Công
nghiệp, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn v.v… hướng dẫn cụ thể việc thực hiện
các cơ chế, chính sách xây dựng cho phù hợp với đặc thù của các chuyên ngành; Nghiên
cứu và ban hành theo phân công của Chính phủ các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm kỹ
thuật xây dựng, xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành để ban hành sau khi
thống nhất với Bộ Xây dựng.