tiểu luận kinh tế đầu tư cao học - Pdf 35

Phân tích các chỉ tiêu xác định kết quả hoạt động đầu tư phát triển.
Kết thúc một dự án đầu tư bao giờ cũng cho ta một kết quả nhất định, gọi là kết quả
đầu tư. Kết quả đầu tư là chỉ tiêu đo khối lượng vốn đầu tư đã được thực hiện được biểu
thị bằng giá trị tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất, dịch vụ được tăng
lên. Ở đây sẽ tập trung nghiên cứu hai nhóm chỉ tiêu sau:
- Khối lượng vốn đầu tư thực hiện
- Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.
• Khối lượng vốn đầu tư thực hiện
Như chúng ta đã biết vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chỉ để tiến hành các
hoạt động của đầu tư bao gồm các chi phí:
- Chi phí xây dựng
- Chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị
- Chi phí quản lý dự án và chi phí khác
Đối với những dự án đầu tư có quy mô lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài, vốn đầu
tư thực hiện là số vốn đã chi cho từng hoạt động hoặc từng giai đoạn của mỗi dự án đầu
tư đã hoàn thành. Đối với những dự án có quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư ngắn,
vốn đã chi được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn bộ các công việc của
quá trình thực hiện đầu tư kết thúc.
Đối với những hoạt động đầu tư do ngân sách tài trợ, tổng số vốn đã chi được tính
vào khối lượng đầu tư thực hiện khi các kết quả của quá trình đầu tư phải đạt các tiêu
chuẩn và tính theo phương pháp sau đây:
- Đối với công tác xây dựng: Vốn đầu tư thực hiện của công tác xây lắp (IVXL)
được tính theo công thức sau:
IVxl=∑Qxl.Pxl+C+W+VAT
Trong đó:
Qxl: khối lượng công tác xây dựng hoàn thành thứ i
Khối lượng công tác xây dựng phải đạt các tiêu chuẩn quy định:
Pxi: Đơn giá dự toán bao gồm các chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí sử
dụng máy thi công tính cho một đơn vị khối lượng công tác xây dựng thứ i.
C: Chi phí chung được tính theo tỷ lệ phần trăm so với chi phí trực tiếp.
W: Lãi định mức (thu nhập chịu thuế tính cước) được tính theo tỷ lệ phần trăm so

- Đối với chi phí quản lý dự án và chi phí khác được tính vào vốn đầu tư thực hiện
theo phương pháp thực thanh thực chi:
Chi phí quản lý dự án và chi phí khác bao gồm: Các chi phí này được xác định theo
định mức tính bằng tỷ lệ % hoặc bảng giá cụ thể và được chi thành 2 nhóm:
+ Nhóm chi phí, lệ phí xác định theo định mức bằng tỷ lệ %, bao gồm: chi phí thiết
bị, chi phí ban quản lý dự án, chi phí và lệ phí thẩm định và các chi phí tư vấn khác…
+ Nhóm chi phí xác định bằng cách lập dự án.
Phương pháp tính vốn đầu tư thực hiện của các khoản chi phí quản lý và chi phí
khác như sau:
IVK= (

ΣAi + ΣBi

) + VAT

Trong đó:
Ai: Chi phí của khoản mục thức I thuộc nhóm chi phí tính theo định mức tỷ lệ %
Bi: Chi phí của khoản mục thứ I thuộc nhóm chi phí tính bằng cách lập dự toán
VAT: Tổng số thuế giá trị gia tăng của các chi phí là đối tượng chịu thuế giá trị gia
tăng.
Bản chất, vai trò của đầu tư quôc tế và chuyển giao công nghệ trong đầu tư quốc tế
• Bản chất của đầu tư quốc tế:
Bản chất của đầu tư quốc tế là việc đầu tư của các nước giàu sang các nước nghèo
hơn và là việc các nước giàu đầu tư sang nhau (chiếm tỉ trọng khá lớn, chiếm ¾ vốn đầu
tư ra nước ngoài của những nước này).
Mục tiêu của đầu tư quốc tế vừa là mục tiêu kinh tế vừa là mục tiêu chính trị. Các
nước chậm phát triển không chỉ nhận vốn đầu tư của nước phát triển mà còn đầu tư sang


-

và khai thác được những lợi thế về lao động, nguồn nguyên liệu trong nước.
• Bản chất, của chuyển giao công nghệ:
Chuyển giao công nghệ là việc công nghệ của một quốc gia có thể được đưa ra khỏi lãnh
thổ quốc gia đó và được vận hành dưới sự quản lý của người hoặc tổ chức khác trong quá
trình thực hiện đầu tư.
Bản chất của chuyển giao công nghệ là sự mua bán bí quyết và chuyển bí quyết từ doanh
nghiệp nước này sang doanh nghiệp nước khác. Nói cách khác đó là chuyển giao khả
năng sản xuất một mặt hàng nào đó hoặc một phần mặt hàng nào đó từ chủ sở hữu công
nghệ sang người muốn có công nghệ đó.
• Vai trò của chuyển giao công nghệ:
Giảm sự chênh lệch trình độ công nghệ giữa các quốc gia.
Nhằm rút ngắn được quá trình nghiên cứu cơ bản và việc ứng dụng các kết quả nghiên
cứu vào thực tiễn ở những nước có trình độ công nghệ thấp hơn.
Giảm mức độ rủi ro trong nghiên cứu công nghệ và có được những điều kiện cần thiết để
phát triển những lĩnh vực mà quốc gia đó không có điều kiện nghiên cứu.
Đáp ứng được sự phát triển của nền kinh tế thị trường và nhu cầu về sản phẩm mới của


người tiêu dùng.
Dự án đầu tư? Tiêu chuẩn và nguyên tắc đánh giá hiệu quả dự án đầu tư phát
triển?
Dự án đầu tư:
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo
những đối tượng nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến nâng cao chất lượng
của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.
Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan đến nhau được
hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định.
Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động
đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
• Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự án đầu tư phát triển:


7 - Phải tính đến sự đóng góp của hệ thống hay mạng luới công trình
hiện có vào hiệu quả của dự án đang xét.
Phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư? Cơ sở khoa học của các
phương pháp đó.
Phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư :
Phương pháp đánh giá tài chính DAĐT

Phương pháp
dùng nhóm chỉ tiêu tĩnh

Phương pháp dùng
nhóm chỉ tiêu động

suất
thuNAV)
lợi tiêu
nội tại
tiêu
hiệu
sốtư
thuChỉ
chitiêu
(NPV,
NFV,
Chỉ
tỷ IRR
số thu chi BCR
nhuận
cho

phẩm của các phương án khác nhau, phương án nào có chi phí nhỏ nhất là phương án tốt
nhất.
Nếu xét cho một thời đoạn thì:
C = [ RlV0 + Rc.Vc.K] + Cn - >Min
Nếu xét cho một đơn vị sản phẩm thì :


Cd = [ Rv.Vc.K + Cn ] - > Min
Trong đó :
Rl – là lãi suất để tính tiền lãi phải trả khi huy động VLĐ vốn cho dự án.
V0 – là vốn lưu đông bình quân trong quá trình lưu động dự án
Rc – là lãi suất để tính tiền lãi phải trả khi huy động vốn có định cho dự án
Cn – là tông rchi phí sản xuất kinh doanh nhưng chưa tính chi phí phải trả lãi sử
dụng vốn.
Vc – là vốn cố định của dự án.
K – là hệ số chuyển đối vốn cố định của dự án sang vốn cố định bình quân chịu lãi
suất trong quá trình vận hành sự án, được xác định tùy theo phương pháp tính khấu hao
và hoàn trả vốn đầu tư.
N - khối lượng sản phẩm sản xuất ra tính cho một thời đoạn ( công suất thiết kế cho
một thời đoạn )
Chỉ tiêu lợi nhuận tính cho một thời đoạn hoặc một đơn vị sản phẩm:
Nguyên tắc chung là phương án nào có chỉ tiêu lợi nhuận lớn nhất là phương án tốt
nhất.
+ Nếu xét cho một thời đoạn thì:
L = L’ – Tx -> Max
+ Nếu xét cho một đơn vị sản phẩm thì:
Ldtr = Gd – Cd -> Max
Trong đó:
+Ltr là lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp được tính bằng chênh lệch giữa
doanh thu (D) và chi phí (C).

Ta có: Iv+1 = ∆t × ( 1+i ) hay Ivt = ∆t-1 × ( 1+i )
Khi t -> 0 thì t -> T
Thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo yếu tố thời gian của tiền cũng có thể xác định
theo tình hình hoạt động của từng năm hoặc bình quân của cả đời dự án.
Thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo tình hình hoạt động của từng năm:
Tt = Iv0/( Lt+ Kt)
Chỉ tiêu này (Tt) cho biết thời gian thu hồi vốn đầu tu nếu chỉ dựa vào khoản thu hồi
lợi nhuận thuần và khấu hao của năm t.
+ Thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo tình hình hoạt động bình quân của cả đời
dự án (Tbq)
Tbq =
Chỉ tiêu này (Tbq) cho biết thời gian thu hồi vốn đầu tư nếu chỉ dựa vào khoản thu
hồi bình quân năm (L+K)bq của dự án.


Chỉ tiêu này (Tbq) cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để thu hồi vốn đầu t ư
đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm. Dự án có hiệu quả tài chính khi T
< tuổi thọ của dự án và ngược lại.
Phương pháp đánh giá theo chỉ tiêu động
Bản chất của chỉ tiêu động là chúng được tính toán cho khoảng thời gian dài (lớn
hơn một năm) và có tính đến thời gian xuất hiện các chi phí và lợi ích trong kỳ phân tích
các phương án. Ở đây đồng thời quan tâm vận dụng cả lý thuyết lợi ích – chi phí và lý
thuyết giá trị theo thời gian của tiền tệ theo 3 nhóm phương pháp sau:
+ Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi
+ Phương pháp dùng chỉ tiêu tỷ số thu chi
+ Phương pháp dùng chỉ tiêu suất thu lợi nội tại.
Bản chất và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội – dự án đầu tư? Sự khác biệt
với đánh giá tài chính?
Bản chất của đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư:
Đồng thời với việc đánh giá hiệu quả tài chính, khi đánh giá hiệu quả dự án đầu tư

phương, vùng lãnh thổ hoặc của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
• Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội dự án đầu tư
- Chỉ tiêu giá trị gia tăng thuần túy NVA
Giá trị gia tăng thuần túy là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào,
được tính theo công thức:
NVAGDP = = ]
Trong đó:
NVAGDP: giá trị gia tăng trong nước thuần túy do dự án mang lại.
NVAt: giá trị gia tăng trong nước hàng năm của dự án (bao gồm cả phần giá trị gia
tăng thuộc sở hữu của bên nước ngoài đầu tư vào Việt Nam).
Ot: tổng giá trị đầu ra hàng năm của dự án.
Vt: vốn đầu tư phân bỏ hàng năm của dự án.
MIt: tổng giá trị đầu vào vật chất thường xuyên hàng năm của dự án.
Nếu xét chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân GNP thì giá trị gia tăng dân thuần là phần
tăng thêm của GNP do dự án mang lại trong cả đời dự án:
NVAGNP = =
Trong đó:
NVAGNP: là tổng giá trị gia tăng GNP do dự án mang lại
RPt: là các khoản chuyển trả nước ngoài hàng năm.
- Chỉ tiêu giá trị thặng dư của xã hội:
Trong nội dung của NVA có 2 thành phần là thu nhập của lao động trong nước (W)
và giá trị thặng dư của xã hội (SS).
Giá trị tặng dư xã hội của các dự án được tính như sau:
Cho hàng năm: SSt = NVAt – Wt
Cho cả đời dự án: g= t– t
- Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và số lao động có việc làm trên
1 đơn vị giá trị vốn đầu tư:
+ Số lao động có việc làm trực tiếp cho dự án và số lao động có việc làm ở các dự
án liên đới.
+ Số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư.

Nếu P(FE) > 0 là dự án tích cực làm tăng nguồn ngoại tệ của đất nước.
Nếu P(FE) < 0 là tác động tieeuc ực làm giảm ngồn ngoại tệ của đất nước
- Chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế.
Chỉ tiêu này cho phép đánh giad khả năng cạnh tranh của sản phẩm do dự án sản
xuất ra trên thị trường quốc tế.
Phương pháp xác định chỉ tiêu này như sau:
IC =
IC – chỉ tiêu biểu thị khả năng cạnh tranh quốc tế
DR – các đầu vào trong nước dung để sản xuất sản phẩm xuất khẩu hoặc thay thế
nhập khẩu.
- Những tác động khác của dự án:
+ Những ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng: sự gia tăng năng lực phục vụ của kết cấu
hạ tầng sẵn có, bổ sung năng lực phục vụ mới của kết cấu hạ tầng mới.
+ Tác động đến môi trường: đây là ảnh của các đầu vào, đầu ra của dự án đến môi
trường.
+ Nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, trình độ nghề nghiệp của người lao động,
trình độ quản lý của nhà quản lý, nâng cao năng suất lao động, nâng cao thu nhập của
người lao động.
+ Những tác động về xã hội, chính trị và kinh tế khác.
• Sự khác biệt với đánh giá tài chính:
Sự khác biệt giữa đánh giá tài chính và đánh giá kinh tế - xã hội dự án đầu tư thể
hiện về quan điểm, tiêu chuẩn lẫn phương pháp đánh giá.
Về quan điểm và tiêu chuẩn: Trong khi đánh giá tài chính chủ yếu đứng trên quan
điểm của doanh nghiệp thì đánh giá kinh tế xã hội lại đứng trên quan điểm lợi ích chung
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, toàn xã hội, trong đó có doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn đánh giá trên góc độ kinh tế xã hội là đa dạng hóa phúc lợi xã hội thể
hiện ở:


(a) Góp phần tạo ra giá trị gia tăng

với hàng hóa và hành khách)


Trong đó: là cự ly vận chuyển trên công trình giao thông cũ (km) khi chưa thực
hiện dự án xây dựng hoặc cải tạo công trình giao thông.
• Lợi ích thu được do rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa và hành khách
do thực hiện dự án xây dựng hoặc cải tạo công trình giao thông
(đồng/năm)
(đồng/năm)


Trong đó: là thời gian (giờ) tiết kiệm được của hành trình trên công trình giao thông dự
án.
là giá trị thời gian một giờ vận chuyển hành(đ/giờ - xe)
là giá trị thời gian một giờ của hành khách (đ/giờ - khách)
• Lợi ích thu được do giảm tổn thất về tắc x echo hàng và cho khách .
Lợi ích này bao gổm lợi ích do giảm chi phí vận chuyển qua đoạn công trình giao
thông tắc xe và lợi ích do tiết kiệm thời gian vận chuyển như tính ở nhóm chỉ tiêu (a) và
(c) bằng cách thay
• Lợi ích do giảm tai nạn giao thông
(đồng/năm)
Trong đó: là số vụ tai nạn giảm được một năm
là tổn thất trung bình cho 1 tai nạn (đ/vụ)
Xác định các chi phí để phân tích hiệu quả dự án xây dựng cải tạo nâng cấp công
trình giao thông: chi phí dùng trong phân tích hiệu quả dự án đầu tư xây dựng, cải tạo,
nâng cấp công trình gồm:
+ Chi phí cho xây dựng
+ Chi phí cho khai thác
+ Chi phí cho vận chuyển
+ Các chi phí khác

+ Tổn thất cho nên kinh tế do hành khách phải mất thời gian trong quá trình vận
chuyển.
+ Tổn thất về tai nạn giao thông.
+ Tổn thất do ùn tắc xe.
• Tổng chi phí xây dựng và khai thác quy đổi.
Để khai thác môt công trình cầu công trình giao thông cần nhiều chi phí khác nhau
từ khi xây dựng đến khai thác, vận hành xe trên công trình giao thông. Nếu thời gian tính
toán của dự án là N năm, trong đó có T năm dùng để xây dựng công trình và N-T năm
dùng để khai thác công trình.
Trong thời gian T năm phải bỏ ra chi phí xây dựng công trình.
Trong thời gian T-N năm phải bỏ ra chi phí cho công trình giao thông (duy trì, bảo
dưỡng, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp…) và chi phí do vận doanh để thực hiện việc vận
chuyển hàng hóa và hành khách. Hai khoản chi phí cho vận doanh gọi tắt là chi phí khai
thác.
Để tính chung cho chi phí có tính chất khác nhau ở những thời gian khác nhau.
Người ta phải quy đổi các chi phí đó về cùng một thời điểm theo 1 hệ số quy đổi nào đó
Tổng chi phí xây dựng và khai thác quy đổi được xác định như sau:
Trong đó là chi phí xây dựng và chi phí khai thác ở năm thứ t (đồng/năm)
là hệ số quy đổi hay
Cũng cần lưu ý rằng do quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và khai thác, trong đó khi
thực hiện những dự án cải tạo, nâng cấp công trình giao thông cũ vẫn phải đảm bảo giao
thông do vậy trong thời gian T vẫn có chi phí khai thác, còn những dự án có phân kỳ đầu
tư thì trong thời gian từ năm T đến năm N vẫn có chi phí xây dựng. Do vậy công thức
tổng chi phí xây dựng và khai thác quy đổi có dạng tổng quát như sau:
Trong đó có những năm có = 0 hoặc = 0
Phương pháp tính tổng chi phí xây dựng và chi phí khai thác quy đổi được sử dụng
ngay cả trong trường hợp khó xác định chi phí khai thác ở một dự án công trình giao
thông mới nơi chưa hề có công trình giao thông khác, bằng cách so sánh giữa các phương
án của từng dự án. Phương án nào có nhỏ nhất sẽ là phương án được chọn về mặt kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status