PHƯƠNG PHÁP LUYỆN CHỮ CHO học SINH lớp 2 THÔNG QUA PHÂN môn tập VIẾT ở TRƯỜNG TIỂU học VIỆT TIẾN VĨNH bảo hải PHÒNG - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

----------

PHƯƠNG PHÁP LUYỆN CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 2
THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP VIẾT Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC VIỆT TIẾN-VĨNH BẢO-HẢI PHÒNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRỊNH THỊ DIỆU HOA
LỚP : ĐH GDTH2.K15
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

1

TS.ĐỖ THỊ COỎNG


Hải Phòng, tháng 5 năm 2016

2


PHƯƠNG PHÁP LUYỆN CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 2
THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP VIẾT Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC VIỆT TIẾN-VĨNH BẢO-HẢI PHÒNG

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong cuộc sống con người luôn có nhu cầu giao lưu về tình cảm với
nhau, nhằm truyền đạt những khái niệm, tri thức…cho nhau, chính vì vậy mà

Việt.Bởi vậy vấn đề rèn luyện chữ viết cho học sinh Tiều học là vô cùng quan
trọng và cấp thiết bởi chữ viết của học sinh, đặc biệt là của học sinh đầu cấp
Tiểu học đặt nền móng cơ bản cho toàn bộ quá trình học tập, rèn luyện cho
học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: tinh thần kỷ luật, tính cẩn
thận,kiên trì và óc thẩm mĩ. Cố vấn Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Chữ viết
cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn
thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng
đối với mình cũng như với thầy và bạn đọc bài vở của mình...”
Hiện nay,chúng ta đang ở trong một thời đại mới,thời đại công nghiệp
hóa,hiện đại hóa đất nước,thời đại công nghệ thông tin bùng nổ,mọi người
thường ngồi với chiếc máy tính của mình thay vì cầm bút viết trên giấy,và
việc rèn chữ viết của mọi người dần bị chìm vào quên lãng.Ở trường học cũng
vậy,trong những năm gần đây,hiện trạng học sinh viết chữ xấu ,không đúng
chuẩn còn khá phổ biến ở hầu hết các trường Tiểu học, Trung học cơ
sở,Trung học phổ thông và cả Đại học,Cao đẳng.Đây là vấn đề đang được các
nhà giáo dục học và xã hội học quan tâm và tìm hướng giải quyết.Ta thường
nghe giáo viên than vãn những bài viết của học sinh mà giáo viên không thể
đọc được khi chấm bài do các em viết cẩu thả,nhất là học sinh bậc Tiểu
học.Là một giáo viên tiểu học tương lai,tôi rất băn khoăn về điều này bởi đây
chính là bậc học được coi là “nền tảng” trong quá trình giáo dục một con
người toàn diện.Tính đến nay,Bộ Giáo Dục đã nhiều lần ban hành những quy
định về thay đổi chữ viết ở Tiểu học. Sau nhiều lần thay đổi, chúng ta lại quay
trở về vơi mẫu chữ mềm mại, thanh gọn trước kia nhằm giúp học sinh viết
chữ đẹp và có thẩm mĩ hơn. Tuy nhiên, sau mỗi lần thay đổi như vậy lại có
những điều làm được và chưa làm được. Thực trạng chữ viết của học sinh
hiện nay còn xấu và thiếu chính xác. Các em còn viết sai, viết quá chậm hay có
những học sinh viết tốt, nhanh, làm tính giỏi nhưng viết quá xấu, trình bày
không sạch sẽ, rõ ràng thì không thể trở thành một học sinh giỏi toàn diện
được. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học Tiếng Việt nói riêng
và các môn học khác nói chung.Tập viết là một trong những phân môn có tầm

người phát triển toàn diện, có ích cho đất nước.Đó chính là lí do tôi mạnh dạn
thực hiện đề tài: “Phương pháp luyện chữ cho học sinh lớp 2 thông qua
phân môn tập viết ở trường Tiểu học Việt Tiến-Vĩnh Bảo-Hải Phòng”.
2.Mục đích nghiên cứu
-Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng
dạy học phân môn Tập viết : Tìm hiểu nội dung, biện pháp dạy và một số biện
pháp rèn kĩ năng viết đúng, đẹp trong phân môn tập viết nhằm nâng cao chất
lượng dạy-học chữ viết cho học sinh lớp 2, giúp giáo viên nắm chắc chương
trình, mẫu chữ viết và sử dụng các phương pháp dạy học cho phù hợp, rèn
luyện cho học sinh lớp 2 viết đẹp hơn, tốt hơn, làm cho chất lượng chữ viết
của học sinh được nâng cao .
-Trên cơ sở đánh giá thực trạng và mức độ thành công của việc rèn chữ
viết cho học sinh lớp 2,xác định nguyên nhân thành công và từ đó nâng cao
chất lượng chữ viết ở lớp 2 nói riêng, ở trường tiểu học nói chung.
5


- Thông qua quá trình nghiên cứu,hoàn thành đề tài,giúp tôi có thêm
những kinh nghiệm về những lỗi của học sinh trong quá trình viết,những
nguyên nhân khiến học sinh viết chưa đẹp,chưa đúng chuẩn ở Tiểu học từ đó
đề ra biện pháp rèn luyện sao cho học sinhTiểu học,đặc biệt là học sinh khối
lớp 2 hạn chế tình trạng viết sai,viết ngoáy,viết cẩu thả,nhằm phấn đấu rèn
luyện cho đại đa số học sinh đều trở thành những người “văn hay chữ tốt” .
-Nghiên cứu đề tài sẽ giúp ích cho tôi trong quá trình học tập cũng như
trong công tác giảng dạy sau này,bởi vì đây là vấn đề phổ biến mà học sinh ở
hầu hết các trường Tiểu học nói chung và trường Tiểu học Việt Tiến (Vĩnh
Bảo-Hải Phòng) nói riêng đều mắc phải,đồng thời giúp tôi hiểu thêm đặc
điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học nhằm phục vụ cho công việc giảng dạy
sau này.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kĩ năng cơ
bản môn Tập viết lớp 2, phương pháp giảng dạy thông qua sách giáo viên, tài
liệu bồi dưỡng phương pháp giảng dạy các môn học, Tạp chí giáo dục tiểu
học hàng tháng, sách tham khảo về phương pháp dạy học…
7.2. Phương pháp quan sát
Thông qua dự giờ.
7.3. Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra anket để tìm hiểu thực trạng việc dạy tập viết
cho học sinh lớp 2.
7.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
7.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
7.6. Phương pháp Toán
Thống kê Toán học để xử lý số liệu thu được.
7.7. Phương pháp phỏng vấn sâu
8. Đóng góp của đề tài
Phân tích vấn đề dạy tập viết cho học sinh lớp 2.
Tìm hiểu thực trạng việc dạy-học tập viết cho học sinh lớp 2 ở trường
Tiểu học Việt Tiến
7


Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tập viết hiệu quả.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP LUYỆN
CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA
PHÂN MÔN TẬP VIẾT
1.1.Lịch sử nghiên cứu về phương pháp luyện chữ cho học sinh lớp 2 thông
qua phân môn tập viết
Như đã nói ở trên,việc rèn chữ cho học sinh được sự quan tâm của rất

đình phong kiến phương Bắc,nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một
phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa Việt Nam.Do ý thức dân tộc
mạnh mẽ cùng với sự khẳng định về lãnh thổ và lịch sử riêng biệt,một nền
văn hóa riêng biệt,người Việt Nam thấy cần thiết phải tạo ra một thứ chữ của
riêng mình.Chữ Nôm được nảy sinh từ rất sớm,phát triển từ thời Lý-Trần và
đã trở thành ngôn ngữ sử dụng trong thơ xướng họa của vua quan thời Lê
(hội nhị thập tao đàn bát tú). Đời nhà Nguyễn,Triều Minh Mạng (1820-1840)
lại bỏ chữ Nôm.Chữ Nôm chỉ còn lại trong dân gian.Vào thế kỷ thứ XVI các
nhà truyền giáo phương Tây đã đến xứ ta. Việc phổ cập một lối ghi âm mới
trong Tiếng Việt lại đi song hành với cuộc xâm lược của thực dân Pháp,đã
làm nhiều người Việt Nam khó cháp nhận.Người ta căm thù bọn xâm lược và
ghét lây cả những người cố đạo sang truyền giáo ở Việt Nam.Những người
tri thưc Việt Nam-bộ phận nhạy cảm nhất của dân tộc-đã sớm nhìn ra việc lợi
hại của thứ chữ này và vượt qua sự mặc cảm cùng sự kỳ thị ngoại lai thường
có ở những người dân mất nước,họ cổ vũ việc dùng thứ chữ trên,in sách,in
báo nhằm truyền bá nó trong quảng đại quần chúng và gọi nó là chữ Quốc
ngữ,nhận nó là chữ của nước mình.Và chữ Quốc ngữ,trong gần 100 năm qua
đã tỏ rõ sức mạnh thần kỳ của nó khi biểu thị cách phát âm đa cung bậc của
Tiếng Việt,trình bày được tư tưởng,bộc bạch mọi tâm trạng,cảm xúc của
người Việt Nam.So với chữ nôm,chữ Quốc ngữ tiện lợi hơn.Trải qua nhiều
giai đoạn,chữ Quốc ngữ ngày nay đã trở thành thứ chữ viết duy nhất trong cả
nước được mọi tầng lớp từ trí thức đến bình dân thừa nhận,sử dụng bởi nó
có khả năng ghi chép tương đối chính xác nhất cách phát âm 6 thanh của
người Việt.
1.2.1.2.Quan niệm về chữ đẹp
9


Bàn về chữ đẹp,mỗi thời đại đều có quan điểm khac nhau và cũng chưa
có sự thống nhất.Thời kỳ phong kiến,khi chữ Hán trở thành văn tự chính

Sạch sẽ : không tẩy xóa, không viết lem bẩn
Trình bày :
 Trình bày phần đầu, tựa bài cân xứng với bài viết
 Bài viết cân đối trên giấy, trình bày đúng quy cách bài viết chính tả
 Viết hoa đúng
 Trình bày toàn bài cân xứng với khuôn khổ giấy
1.2.1.3.Đặc điểm cơ bản của chữ viết Tiếng Việt hiện nay (chữ Quốc

ngữ)
1.2.1.3.1. Khái niệm chữ viết
Chữ viết là 1 hệ thống tín hiệu bằng đường nét được sử dụng để ghi lại
ngôn ngữ âm thanh .Với sự ra đời của chữ viết,hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ của con người được chuyển từ dạng âm thanh-thính giác sang dạng
đường nét-thị giác; do đó nó trở nên chính xác,chuẩn mực hơn,có thể tiến
hành trong 1 thời gian lâu bền,trong 1 không gian rộng lớn.
10


1.2.1.3.2.Đặc điểm của chữ viết tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt hiện nay đang được sử dụng là chữ Quốc ngữ.Đó là
chữ theo nguyên tắc ghi âm vị.Nghĩa là,căn cứ để viết chữ là âm thanh chứ
không phải ý nghĩa của tiếng ,từ.Mặt khác, mỗi ký hiệu chữ viết (gọi tắt là
chữ cái) dùng để ghi 1 âm vị.Muốn ghi âm tiêt hay từ thì phải kết hợp các chữ
cái để ghi các âm vị trong thành phần của âm tiết hay từ đó.Theo nguyên tắc
ghi âm vị,chữ Quốc ngữ có những ưu điểm sau:
+ Có sự phù hợp và thống nhất cao giữa âm và các chữ nên rất dễ đọc,
dễ nhớ, dễ học
+ Số lượng các chữ cái không nhiều, bởi vì số lượng các âm vị trong
Tiếng Việt không nhiều.Cụ thể,tiếng Việt có khoảng trên 50 âm vị (gồm phụ
âm đầu, âm đệm, âm chính,âm cuối và thanh điệu) nên chữ Quốc ngữ của ta

viên như tra cứu từ điển,lập danh sách học sinh 1 cách khoa học,chính xác...

1.2.2. Khái niệm về luyện chữ viết cho học sinh lớp 2
1.2.5.1.Luyện chữ cho học sinh lớp 2
Chữ viết là 1 công cụ giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện để
ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hóa,khoa học và đời sống... Do vậy ở
trường Tiểu học việc dạy học sinh biết chữ và từng bước làm chủ công cụ chữ
viết để phục vụ cho học tập và giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của
môn Tiếng Việt.Lớp 2 là lớp học sinh đầu cấp Tiểu học, khả năng viết chữ của
học sinh còn hạn chế.So với chương trình lớp 1,nội dung của phân môn tập
viết lớp 2 có những yêu cầu cụ thể như đã nêu ở trên.Để thực hiện nhiệm vụ
này,giáo viên phải giúp học sinh có những hiểu biết nhất định về mẫu chữ hoa
do Bộ mới ban hành nhằm tạo điều kiện cho các em rền kỹ năng viết chữ cụ
thể:
+ Nhớ được hình dáng các chữ cái viết hoa theo mẫu quy định
+ Nắm được kích cỡ của từng chữ cái viết hoa (thể hiện trong khung
chữ,trong mối quan hệ với chữ cái viết thường
1.2.5.2.Tầm quan trọng của việc luyện chữ cho học sinh lớp 2
Viết chữ đẹp là 1 cách giáo dục tâm hồn trẻ.Viết chữ đẹp cũng là một
cách để thể hiện cái đẹp,mà cái đẹp thì bao giờ cũng rất đáng quý.Đối với học
sinh lớp 2,trên cơ sở học sinh biết viết các chữ hoa theo đúng quy định về hình
dáng, kích cỡ (vừa và nhỏ), thao tác viết (đưa bút,rê bút,nhấc bút) theo đúng
quy trình viết. Biết viết các cụm từ ứng dụng của từng bài,từ đó hình thành
cho các em kỹ năng viết chữ rèn luyện cho các em những phẩm chất đạo đức
tốt như: tinh thần kỷ luật, tính cẩn thận, khéo léo, kiên trì, sự chăm chỉ, ham
hiểu biết, óc thẩm mĩ và hứng thú viết chữ đẹp.Việc luyện chữ viết cho học
sinh lớp 2 giúp các em dần hình thành kỹ năng viết chữ đẹp làm nền móng
cho các lớp trên.
1.2.3.Tìm hiểu về môn Tập viết ở Tiểu học
12

1.2.3.2.Chương trình và vở tập viết lớp 2
1.2.3.2.1.Số bài,thời lượng học
Mỗi tuần có một bài tập viết học trong một tiết. Trong cả năm học, học
sinh được học 35 tiết viết và 2 tiết kiểm tra dành cho cuối kỳ I và cuối kỳ II.
1.2.3.2.2.Nội dung
13


+ Về tri thức
Dạy cho học sinh những khái niệm cơ bản,các khái niệm liên kết chữ
cái...Từ đó hình thành ở các em những biểu tượng về hình dáng,độ cao,sự cân
đối,tính thẩm mỹ của chữ viết.Tiếp tục rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết các
chữ thường theo cỡ nhỏ đã học ở lớp 1 nhưng mức độ yêu cầu được nâng
cao: viết đúng mẫu và đều nét. Ở lớp 1 các em mới được làm quen với cách
viết chữ thường cỡ vừa và nhỏ và chữ hoa qua hình thức tập tô trong giai
đoạn luyện tập tổng hợp ở học kỳ 2 .Lên lớp 2, các em sẽ được làm quen với
cách viết chữ hoa cỡ vừa và nhỏ; tập nối nét từ chữ hoa sang chữ thường; tập
viết các cụm từ; các câu ứng dụng có chữ hoa ấy; kiểu viết chữ nghiêng cỡ
nhỏ; kiểu viết chữ đứng cỡ vừa và nhỏ kĩ hơn, sâu sắc hơn.
+ Về kỹ năng
Dạy cho học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp,bao
gồm kỹ năng viết chữ liên kết,tạo chữ cái và liên kết chữ cái tạo chữ ghi
tiếng.Đồng thời giúp các em xác định khoảng cách,vị trí cỡ chữ trên vở,hình
thành kĩ năng viết đúng mẫu rõ ràng và cao hơn là viết nhanh viết đẹp
Ngoài ra tư thế ngồi viết,cách cầm bút,để vở,cách trình bày bài viết,giữ
vở sạch,thói quen cẩn thận và tốc độ nhanh khi viết,cũng là kĩ năng đặc thù
của việc dạy mà giáo viên cần thường xuyên quan tâm.
1.2.3.2.3.Sách giáo khoa,sách giáo viên
Nội dung bài tập viết trong SGK Tiếng việt 2 (Viết chữ hoa-viết ứng
dụng) được cụ thể hóa thành các yêu cầu luyện tập trong vở tập viết 2.

+ Trang chẵn

• Luyện viết ở nhà
• Tập viết chữ nghiêng
Sau mỗi chữ viết,trên mỗi dòng đều có điểm đặt bút (dấu chấm) với
những dụng ý : Giúp học sinh xác định rõ quy trình chữ viết, đảm bảo khoảng
cách đều nhau giữa các chữ, tăng thêm tính thẩm mĩ của trang vở tập viết.
1.2.4. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học
1.2.4.1.Đặc điểm về mặt cơ thể
Hệ xương còn nhiều mô sụn,xương sống,xương hông,xương
chân,xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hóa) nên dễ bị cong
vẹo, gẫy,dập.Vì vậy thầy cô cần chú ý tư thế viết của trẻ.Hệ cơ đang trong thời
kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy,
nhảy, nô đùa...thuận lợi cho học sinh viết đúng hình dạng,quy trình viết chữ,
đảm bảo khoảng cách đều nhau giữa các chữ,tăng thêm tính thẩm mỹ cho vở
tập viết
1.2.4.2.Đặc điểm về nhận thức
Học sinh tiểu học thường tri giác trên tổng thể. Về sau, các hoạt động
tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên
chính xác hơn. Chú ý không chủ định chiếm ưu thế ở học sinh tiểu học. Sự chú
ý của học sinh tiểu học còn phân tán, dễ bị lôi cuốn vào các trực quan, gợi
15


cảm, thường hướng ra bên ngoài vào hành động, chưa có khả năng hướng
vào bên trong, vào tư duy.
Trí nhớ trực quan- hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí
nhớ logic,hiện tượng hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn các câu chữ trừu tượng,
khô khan.Trí tưởng tượng còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh
nghiệm sống, mẫu vật đã biết.

thuật ghi nhớ, chỉ ra những điểm quan trọng, có ý nghĩa để học sinh ghi nhớ.
1.2.5.2.Những quy định chung
-Ánh sáng phòng học, bảng lớp, bàn ghế của học sinh
Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc viết chữ và sức
khoẻ của học sinh. Hiện nay hầu hết các trường Tiểu học trong ngoại thành
đều đảm bảo các yêu cầu cơ bản,và đối với trường Tiểu học Việt Tiến (Vĩnh
Bảo-Hải Phòng) – một trường tiên tiến xuất sắc cấp huyện,cấp thành phố
nhiều năm. Ánh sáng theo tiêu chuẩn học đường có bảng chống loá, có dòng
kẻ rõ ràng, bàn ghế đúng kích cỡ tiêu chuẩn đối với học sinh cấp lớp 2.
-Đồ dùng học tập của học sinh
Một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào việc viết chữ đẹp đó
là bút viết và vở viết.Vì vậy ngay từ đầu năm học giáo viên phải hướng dẫn
học sinh mua loại vở do nhà trường đặt hàng,chọn loại bút máy phù hợp,bút
viết nét mảnh, mực đều đặn,bút cùng một màu mực vừa thuận tiện trong việc
rèn chữ viết,vừa thuận lợi cho việc xây dựng hồ sơ vở sạch chữ đẹp của lớp.
Chọn bảng và phấn viết cần được giáo viên lưu tâm đến.Hướng dẫn học
sinh, phụ huynh tìm mua cho các em những quyển vở có đường kẻ tin đều, rõ
ràng và khi viết không bị nhoè mực.

17


`-Cho học sinh học các quy định về mẫu chữ, kích cỡ chữ viết hoa và viết
thường theo quy định của Bộ Giáo dục Đào tạo ngay từ đầu năm.
+Yêu cầu học sinh có đầy đủ số vở để ghi các môn học theo quy định của
nhà trường cho học sinh lớp 2
+ Học sinh phải thuộc và nhớ quy định về các nét viết, độ cao, khoảng
cách giữa các con chữ trong tiếng, giữa các tiếng trong từ và luyện viết chữ
theo quy định đó.Cụ thể:
• Củng cố cho học sinh về độ cao các chữ trong bảng chữ mẫu viết thường





Nét gẫy ( Trên đầu các chữ cái â, ê, ô ) tạo bởi 2 nét thẳng xiên ngắn
( trái - phải ) - dấu mũ.
Nét cong dưới nhỏ ( trên đầu chữ cái ă) - dấu á.
Nét râu ( ở các chữ cái ơ, ư ) - dấu ơ, dấu ư.
Nét chấm ( Trên đầu chữ cái i ) - dấu chấm.

Ở một vài chữ cái viết thường, giữa hoặc cuối nét cơ bản có tạo thêm
một vòng xoắn nhỏ như chữ cái k, b, v, r, s có thể mô tả bằng lời hoặc khi
dạy cho học sinh gọi đó là các nét vòng ( nét xoắn, nét thắt ).
+Mô tả chữ viết để hướng dẫn học sinh viết chữ. Khi dạy học sinh viết
các chữ cái viết thường cỡ vừa và nhỏ. Để giúp học sinh dễ hình dung và
thực hiện quy trình viết chữ trên bảng con hay trong vở Tập viết, nên mô
tả theo dòng kẻ li không cần dùng đến thuật ngữ đơn vị chữ bởi học sinh
lớp 2 khả năng tư duy của các em còn hạn chế, khi sử dụng lời hướng dẫn
cần nói thật đơn giản, dễ hiểu.
1.2.5.3.2. Viết chữ hoa
Đây là nội dung trọng tâm và cơ bản của phân môn dạy Tập viết ở lớp
2.Khi dạy phần này cần:
+Dùng tên gọi các nét cơ bản. Mỗi chữ cái viết hoa có nhiều nét cong,
nétlượn tạo dáng thẩm mỹ của hình chữ cái. Do vậy, các nét cơ bản ở chữ cái
viết hoa thường có biến điệu, không thuần tuý như chữ cái viết thường. ( Có
nét viết và nét cơ bản )
+Nét cơ bản trong bảng chữ cái viết hoa chỉ có 4 loại ( không có nét
hất): nét thẳng; nét cong; nét móc; nét khuyết. Mỗi loại có thể chia ra các
dạng, kiểu khác nhau. Tên gọi các dạng, kiểu chỉ dùng khi giáo viên mô tả cấu
tạo hình dạng chữ viết hoa cho cụ thể, rõ ràng không bắt học sinh phải thuộc.

* Các chữ cái viết thường có một nét là nét hất ( i, u, ư ) hoặc nét móc
( m, n ) nét khuyết xuôi ( h) thường liên kết với một số chữ cái viết hoa
nói trên bằng cách viết chạm đầu nét hất ( nét móc, nét khuyết xuôi ) vào nét
chữ cái viết hoa.
Các chữ cái viết thường có một nét là nét cong ( a, ă, â, e, ê, g o, ô, ơ )
hoặc một nét thắt ( r) thường liên kết với các chữ hoa nói trên bằng một
khoảng ngắn. ( Không thực hiện việc nối nét ).
Dạy viết từ ngữ ứng dụng, ngoài việc hướng dẫn học sinh thực hiện các
yêu cầu về chữ ghi tiếng, cần quan tâm nhắc nhở các em lưu ý để khoảng
cách giữa các chữ sao cho hợp lý. Khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng thường
được ước lượng bằng chiều rộng của một chữ cái o viết thường.
Dạy học sinh tập viết câu ứng dụng cần lưu ý thêm về cách viết và đặt
dấu câu ( dấu phẩy, dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than,…) như đã thể
hiện trong bài tập viết. Cần nhắc nhở các em về cách trình bày câu văn, câu
thơ theo mẫu trên trang vở tập viết sao cho đều đặn, cân đối và đẹp.
1.2.5.3.4.Giúp học sinh củng cố,nhớ lại và nắm chắc các nét cơ bản
Từ những nét cơ bản này, các chữ cái sẽ được tạo thành.Với một số
kinh nghiệm bản thân cùng với sự trao đổi với thầy cô,bạn bè tôi nhận thấy:
nếu học sinh viết các nét cơ bản không đúng, không đẹp thì việc viết xấu, viết
sai là điều không tránh khỏi.Giáo viên cần củng cố lại cho các em cách viết các
nét cơ bản. Chú ý điểm đặt bút, dừng bút.Chẳng hạn với nét khuyến xuôi , nét
khuyết ngược , học sinh không rèn viết ngay từ đầu thì dễ viết lệch, xấu sẽ dẫn
20


đến những chữ được tạo bởi 2 nét đó như: h, k, g, y... cũng không được đẹp và
đây cũng là 2 nét khó mà học sinh thường lúng túng khi viết.
Chú ý: nét khuyết phải tròn, thon đều, không to quá, cũng không nhỏ
quá hoặc không bị vuông đầu và đặc biệt điểm gặp nhau của hai nét phải ở
đường kẻ 2 từ dưới lên (với nét khuyết xuôi), đường kẻ 1 (với nét khuyết





Ngoài ra giáo viên phải lưu tâm nhắc nhở học sinh viết ... chữ
bằng một con chữ không tưởng tượng. Viết sát quá hoặc xa quá
đều không được.
Tầm quan trọng của viết dấu thanh:Dấu thanh không được viết
to quá, bé quá và phải viết đúng vị trí. Thực tế trong những năm
dạy Tiếng Việt lớp 2 tôi thấy học sinh thường mắc tình trạng các
dấu thanh viết cao quá, ảnh hưởng lớn đến chất lượng chữ viết.
Tôi luôn nhắc học sinh dấu viết vừa phải và gần chữ nhưng
không được dính vào chữ.

Và đặc biệt lưu tâm đến những em hay viết dấu sai vị trí thường gọi lên
bảng viết nhiều lần để các bạn nhận xét
• Với học sinh Tiều học, nhất là học sinh đầu cấp, thường hiếu động,
thiếu kiên trì nên nhiều em không tự giác khi viết bài. Các em muốn
viết thật nhanh chóng cho hết bài để chơi. Để khắc phục điều này,
tôi có quy định với học sinh: viết từng dòng theo hiệu lệnh của cô.
Nhờ vậy, tránh được tình trạng viết nhanh, viết ẩu trong quá trình
viết của học sinh. Đặc biệt, với những em viết đẹp, có nhiều cố gắng
thì tôi sẽ cho điểm động viên, tuyên dương trước lớp để các em
khác nhìn vào noi theo.
• Với học sinh, việc củng cố bài của giáo viên cũng góp phần rất quan
trọng để tạo hứng thú cho học sinh, giáo viên có tiến hành theo
cách sau để thu hút học sinh đến với các giờ Tập viết theo:
 Cho học sinh nhận xét bài viết của bạn và bài viết của chính mình để
các em nhận ra những điểm được và chưa được để sửa chữa.
 Cho học sinh luyện viết lại những chữ chưa đạt yêu cầu.

yếu:
1.2.5.5.1.Chuẩn bị và sử dụng đồ dùng học tập
Hoạt động chủ đạo của học sinh trong giờ học tập viết là thực hành
luyện tập nhằm mục đích hình thành kỹ năng viết chữ ngày càng thành thạo.
Do vậy, để thực hành luyện viết đạt kết quả tốt, học sinh cần có ý thức chuẩn
bị đồ dùng học tập thiết yếu: Bảng con, phấn trắng, khăn lau đúng quy định.






Bảng con có dòng kẻ ( đồng dạng với dòng kẻ li trong vở tập viết ).
Phấn viết có độ dài vừa phải, phấn không bụi càng tốt.
Khăn lau sạch ( Bằng vải bông mềm hoặc mút có độ ướt vừa phải ).
Vở Tập viết có đủ 2 tập.
Tuỳ tình hình hoàn cảnh học sinh trong lớp giáo viên lựa chọn cho
học sinh dùng bút viết cho hợp lý.

1.2.5.5.2.Thực hiện đúng quy định khi viết chữ

23


Quá trình hình thành kỹ năng viết chữ nói chung thường trải qua hai giai
đoạn chủ yếu:





Cách trình bày bài: Học sinh nhìn và viết theo đúng mẫu trong vở
Tập viết lớp 2, viết theo yêu cầu giáo viên hướng dẫn, số chữ viết, số
lần viết trên dòng kẻ và trên trang vở tập viết, tránh viết dở dang
chữ ghi tiếng hoặc viết chòi ra mép vở không có dòng kẻ li.Khi viết
sai chữ không không được tẩy xoá mà cần để cách ra một khoảng
ngắn rồi viết lại.

1.2.5.6.Hướng dẫn học sinh làm quen với một số thuật ngữ trong
quá trình rèn chữ viết
- Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ
cái.Điểm đặt bút có thể nằm ở đường kẻ ngang hoặc nằm trên đường kẻ
ngang.

24


- im dng bỳt: L v trớ kt thỳc ca nột ch trong 1 ch cỏi, im
dng bỳt cú th trựng vi im t bỳt hoc khụng nm trờn ng k
ngang.
- Vit lin mch : L thao tỏc a ngũi bỳt liờn tc t 1 im kt thỳc
ca nột ng trc ti im bt u ca nột ng sau.
- K thut lia bỳt: m bo tc trong quỏ trỡnh vit 1 ch cỏi hay
ni cỏc ch cỏi vi nhau, nột bỳt c th hin liờn tc nhng dng c vit
(u ngũi bỳt,phn) khụng chm vo mt phng vit (giy,bng) thao tỏc
trờn khụng ú gi l lia bỳt.
1.2.5.7.Biện pháp sữa lỗi chữ viết
1.2.5.7.1. Đối với học sinh viết sai độ cao các chữ cái
Trong hệ thống chữ cái Tiếng Việt mỗi nhóm chữ có đặc điểm riêng và độ
cao khác nhau vì vậy khi học sinh mắc lỗi về độ cao các con chữ giáo viên cần
phải:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status