Thực trạng về trẻ em trong gia đình sau ly hôn tại hải phòng (nghiên cứu trường hợp tại huyện an lão, thành phố hải phòng) - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
Hôn nhân gia đình và trẻ em gắn bó với nhau, luôn luôn đóng một vai trò quan
trọng và có ý nghĩa chiến lược trong quá trình phát triển của các quốc gia. Khi đứa
trẻ cất tiếng khóc chào đời, báo hiệu thêm một con người trên trái đất, thêm một vị
trí trên bản đồ xã hội, báo hiệu một quan hệ thiêng liêng nhất trong một giáo dục:
quan hệ “mẫu tử”. Đó cũng là kết quả ban đầu của hôn nhân, hình thành một gia
đình đầy đủ. Lúc này, “chồng - vợ và con”, là những thành viên cốt lõi của một gia
đình hai thế hệ - nói như P.H. Chambart de Lauwe rất đúng rằng: “Chồng - vợ và
con - đó là ba người, ba diễn viên, phân tích trong đó cuộc sống riêng có cả cuộc
sống của toàn xã hội” [1,34].
Đứa trẻ sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ trong gia đình, hưởng thụ, kế thừa
và sau đó tham gia vào quá trình sáng tạo không ngừng. Quá trình trưởng thành này
cũng chính là quá trình xã hội hoá cá nhân con người, quá trình hình thành nhân
cách, tạo lập nhiều mối quan hệ tốt đẹp, ổn định, lâu bền theo các loại hình gia đình
truyền thống hoặc gia đình hiện đại trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau của sự
phát triển xã hội. Quá trình này cũng tạo lập nên nhiều mô hình, nhiều khuôn mẫu
gia đình, từ mô hình hôn nhân đến mô hình nuôi dạy con cái. Nhiều câu hỏi được
đặt ra trong các cuộc sống gia đình, từ gia đình nghèo khó đến gia đình giàu sang,
từ gia đình viên chức đến gia đình buôn bán, từ gia đình đầy đủ đến gia đình có
khuyết tật. Gia đình đã trở thành một biểu tượng văn hoá, chính trị trong nhiều quốc
gia. Năm 1992, gia đình chính thức được công nhận như một trong các thang giá trị
của xã hội Mỹ, trong đó vấn đề “thiên chức” của người mẹ đã được đề cao. Gia đình
gắn bó với xã hội thông qua nhiều mối quan hệ, hỗ trợ cho cuộc sống hàng ngày của
xã hội, từ việc tái sản sinh ra con người đến việc nuôi dưỡng, duy trì lực lượng lao
động và các công việc cơ bản khác mà xã hội và cộng đồng giao phó. Vì vậy, nếu
nảy sinh những bối cảnh khủng hoảng, ly hôn, khuôn mẫu gia đình ổn định bị suy
tàn sẽ tạo nên biết bao những vấn đề phức tạp trong cuộc sống của mỗi con người.
Do nhận thấy sự bất ổn từ hậu quả của ly hôn, cũng như những kiến thức tiếp
thu được trong quá trình học tập và nghiên cứu chuyên ngành Công tác xã hội, tôi
quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng về trẻ em trong gia đình sau ly


DANH MỤC BIỂU ĐỒ...................................................................................V
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................................VI
MỞ ĐẦU...........................................................................................................7
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.............................................7
2. mục đích nghiên cứu..................................................................................8
3. Đối tượng VÀ KHÁCH THỂnghiên cứu.........................................................9
4. Giả thuyết KHOA HỌC...............................................................................9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................9
6. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................10
7. phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.......................................10
THỰC TRẠNG VỀ TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG...........................................................................11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM...............................................11
TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN......................................................11
1.1. lịch sử của vấn đề nghiên cứu................................................................11
1.2. Một số khái niệm....................................................................................13
1.3. Một số lý thuyết về trẻ em trong các gia đình sau ly hôn....................15
1.4. Một số quan điểm của Đảng và nhà nước về gia đình, hôn nhân, bảo
vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em..................................................................24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ TRẺ EM...................................................27
TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
.........................................................................................................................27
2.1. Đặc điểm kinh tế văn hoá xã hội từ khi đổi mới đến nay.....................27
2.2. Đặc điểm tình hình ly hôn trong những năm gần đây.........................27
2.3. Thực trạng của trẻ em trong các gia đình sau ly hôn...........................32
2.4. MỘT SỐGIẢI PHÁP GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA LY
HÔN ĐẾN SỰPHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA TRẺ......................................60
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ................................................................63
1. Kết luận......................................................................................................63
2. KHUYẾN NGHỊ.........................................................................................66

VỚI CUỘC SỐNG SAU KHI BỐ MẸ LY HÔN...........................................38
BẢNG 2.10. ĂN UỐNG CỦA CÁC EM........................................................40
BẢNG 2.11. SỨC KHỎE CỦA CÁC EM TRONG GIA ĐÌNH SAU LY
HÔN................................................................................................................42
ii


BẢNG 2.12. VIỆC HỌC TẬP CỦA CÁC EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH
SAU LY HÔN.................................................................................................43
BẢNG 2.13. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA CÁC EM TRONG
CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN.....................................................................43
BẢNG 2.14. TƯƠNG QUAN GIỮA NGƯỜI MÀ TRẺ EM HIỆN ĐANG
SỐNG CÙNG VỚI VIỆC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA CÁC EM
.........................................................................................................................45
BẢNG 2.15. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM CỦA CÁC
EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN...............................................46
BẢNG 2.16. TƯƠNG QUAN GIỮA NGƯỜI MÀ TRẺ EM HIỆN ĐANG
SỐNG CÙNG VỚI VIỆC ĐÁNH GIÁ HẠNH KIỂM...................................46
BẢNG 2.17. TÂM TRẠNG CỦA CÁC EM KHI BỐ MẸ LY HÔN.............48
BẢNG 2.18. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI NUÔI DƯỠNG CÁC EM ĐỐI
XỬ VỚI CÁC EM SAU KHI BỐ MẸ LY HÔN............................................49
BẢNG 2.19. THỰC TRẠNG VUI CHƠI VĂN NGHỆ CỦA CÁC EM
TRONG GIA ĐÌNH SAU LY HÔN...............................................................50
BẢNG 2.20. CÁC EM THAM GIA SINH HOẠT CÂU LẠC BỘ, NHÀ VĂN
HOÁ................................................................................................................50
BẢNG 2.21. CÁC EM ĐI XEM PHIM, CA NHẠC TRONG GIA ĐÌNH SAU
LY HÔN..........................................................................................................51
BẢNG 2.22. THỰC TRẠNG VUI CHƠI, GIẢI TRÍ CỦA CÁC EM TRONG
CÁC GIA ĐÌNH SAU LY HÔN.....................................................................52
BẢNG 2.23. CÔNG VIỆC TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH SAU LY


Công tác xã hội
Giáo sư
Khoa học
Nhà xuất bản
Tiến sĩ
Trung ương
Ủy ban dân số
Xã hội

vi


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngày nay, cùng với sự đa dạng về chính trị, kinh tế, văn hoá trên thế giới, nhiều
quan niệm khác nhau về hôn nhân, gia đình và nuôi dạy con cái cũng đã xuất hiện. Tính
bền vững của gia đình ngày càng giảm, ly hôn ngày càng tăng, tạo nên nhiều hậu quả xấu
đối với cá nhân, nhóm và cộng đồng. Ly hôn không phải là tạo nên sự tự do đơn giản của
hai vợ chồng mà là tạo nên sự nghèo khổ vật chất và tinh thần, và con cái lang thang
không nơi nương tựa, làm tan vỡ nhiều mối quan hệ xã hội.
Những năm gần đây, số lượng các vụ ly hôn ở Việt Nam tăng nhanh. Thống kê của
ngành tòa án cho thấy, nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ thì năm 2005 đã tăng lên 65.929
vụ; đến năm 2010, con số này lên tới 126.325 vụ. Người vợ đứng đơn ly hôn gấp hai lần
so với người chồng. Số năm sống chung trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ
chồng là 9,4 năm, riêng ở các khu vực nội thành của các thành phố lớn, chỉ 8 năm.
Theo số liệu của ngành tòa án TP.HCM, hiện có khoảng 40% các cuộc kết hôn kết
thúc bằng ly hôn (tăng gấp đôi so với năm 1998). Nếu so sánh thì tỷ lệ này của nước Mỹ
là 49%, cao nhất thế giới. Ở các nước phát triển khác cũng khoảng trên 40%. Như vậy,
tuy thua kém nhiều về thu nhập nhưng Số lượng ly hôn trong các gia đình Việt Nam ở

nhất là ở các đô thị, số lượng trẻ em trong các gia đình ly hôn cũng tăng lên và rơi vào
hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Trong số tỷ lệ 65% - 70% gia đình ly hôn, có tới hàng nghìn
trẻ em chưa đến tuổi trưởng thành đã sống trong hoàn cảnh không có cha, hoặc không có
mẹ, hoặc không có cả cha lẫn mẹ, phải sống với ông, bà, chú, bác nội ngoại, dì ghẻ hoặc
bố dượng. Nhiều em rơi vào hoàn cảnh lang thang đường phố để kiếm sống, lao động
sớm, hoặc rơi vào tình trạng nghiện hút, bị lạm dụng tình dục, mất mát những quan hệ
thiêng liêng như mẹ con, quan hệ huyết thống trong một gia đình truyền thống.
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về gia đình và trẻ em trong hoàn cảnh khó
khăn. Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của gia đình ly hôn đến trẻ em đã được công bố
trên thế giới, mặc dù còn nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, ở Việt Nam,
những nghiên cứu trong vấn đề này chưa được chú ý. Vì vậy, dựa trên thực tiễn xã hội, đề
tài “Thực trạng về trẻ em trong các gia đình sau ly hôn tại thành phố Hải Phòng” sẽ góp
phần nhỏ bé trong việc mô tả thực trạng cuộc sống của trẻ em trong các gia đình rơi vào
hoàn cảnh ly hôn và vai trò của công tác xã hội trong lĩnh vực này.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
• Đánh giá thực trạng trẻ em trong các gia đình sau ly hôn.
• Đưa ra những biện pháp cần thiết để hỗ trợ trẻ em trong các gia đình sau ly hôn.
(3)

Ahrons, Constance R. (1980) “Divorce: A. Crisis of family trausitrin and change”. Family Relations, 29 October,
533-540 (trích lại từ Tương của gia đình - bản dịch - NXB CTQG, 2002).

8


3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng về trẻ em trong các gia đình sau ly hôn tại thành phố Hải Phòng.
3.2. Khách thể nghiên cứu
• Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn.

+ Quan hệ bạn bè, học đường, cộng đồng.
+ Xu hướng tư tưởng, tình cảm của các em.
+ Những thay đổi trong hành vi giao tiếp
+ Xu hướng hình thành nhân cách của các em.
- Một số vấn đề về giải pháp và chính sách xã hội.
5.4. Đánh giá thực trạng và đưa ra những biện pháp cần thiết
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Không gian
- Đề tài nghiên cứu và lấy số liệu từ các báo cáo của các cơ quan chức năng đã công
bố.
- Nghiên cứu và lấy số liệu thực tế trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
6.2. Thời gian
- Thực hiện nghiên cứu đề tài từ ngày 15 tháng 01 năm 2016 đến ngày 1 tháng 04
năm 2016.
- Số liệu nghiên cứu từ các tài liệu được lấy từ năm 2010 đến năm 2015.
7. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Cơ sở phương pháp luận
Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn là một hiện tượng xã hội phức tạp liên quan
đến nhiều yếu tố, thành phần xã hội và điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội của một xã hội
cụ thể. Vì vậy, để nghiên cứu vấn đề này có hiệu quả, tác giả đã vận dụng một trong các
quan điểm của triết học Mác-Lênin làm cơ sở phương pháp luận khoa học cho đề tài, đó
chính là quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Quan điểm này được rút ra từ
hai nguyên lý phổ biến của triết học Mác - Lênin, đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
và nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng. Phương pháp luận này đòi hỏi
khi xem xét thực trạng trẻ em trong các gia đình sau ly hôn, cần đặt các em trong các
hoàn cảnh cụ thể khác nhau thuộc các gia đình khác nhau, các giai đoạn phát triển khác
nhau của xã hội. Phương pháp luận này cũng đòi hỏi khi nhìn nhận bối cảnh của các em
cần nhìn nhận theo quan điểm phát triển, không nên nhìn nhận theo “số phận” theo bức
tranh “bi quan, tuyệt vọng” tách rời sự phát triển chung của xã hội và của mỗi cá nhân.


Gia đình, ly hôn, trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói riêng đã được
nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau: xã hội học, dân tộc
học, sử học, nhân chủng học, luật học…

11


Goode, William J. trong “Force and Violence in the Family” “Sức mạnh và bạo lực
trong gia đình” (1971) đã đưa ra một số chuẩn mực để xác định gia đình dựa trên các mối
quan hệ bên trong gia đình.
A.G. Kharchep trong “Hôn nhân và gia đình” cũng đã coi “gia đình là một hệ thống
cụ thể lịch sử của các quan hệ qua lại giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái”.
Bà E.K. Vaixilieva và bà N.A. Maliarova đã nghiên cứu và đề cập nhiều đến lối
sống gia đình. Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến lối sống gia đình cho phép hiểu được
mối tương quan của sự hoạt động của các thành viên trong gia đình, lối sống gia đình
cũng gắn liền với lối sống cá nhân với tư cách là thành viên gia đình.
Khi nói về gia đình Mỹ trong sự quá độ, Tamara K. Hareven đã đề cập nhiều vấn
đề. Tamara cho rằng, trong suốt lịch sử nước Mỹ, gia đình được xem như điểm then chốt
của trật tự xã hội và cơ sở để kiểm soát sự ổn định. Tamara đã đề cập đến tính đa dạng
văn hoá và tộc người của gia đình Mỹ. Sự đa dạng này là sự liên tục của lịch sử và sự
hiểu biết những biến đổi lịch sử tạo nên những quan điểm khác nhau về đời sống gia
đình. Tamara cũng cho rằng gia đình Mỹ trải qua những thay đổi quan trọng, thể hiện sự
tan vỡ của gia đình. Sự tăng tỷ lệ ly dị là những triệu chứng phá vỡ gia đình. Đó là do
chưa chú ý đến hôn nhân và đời sống gia đình.
Với góc độ tiếp cận khác, một số nhà xã hội học Trung Quốc như Phan Doãn
Khang và Lâm Nam đã đề cập đến các mối quan hệ gia đình ảnh hưởng đến xã hội Trung
Quốc: Lôi Mộng Đức, Phất Vư cho rằng “Tam giác thực sự trong kết cấu xã hội là con
cái và bố mẹ của họ kết hợp nên từ những tình cảm chung”. Sự chi phối của bố mẹ đối
với hôn nhân của con cái rất chặt chẽ. Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, bố mẹ
không những chỉ sắp đặt hôn nhân cho con cái mà còn sắp đặt sự ly hôn cho con cái.

1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.2.1. Trẻ em
Trẻ em cũng là đối tượng được nhiều khoa học nghiên cứu và có nhiều định nghĩa
khác nhau, nhất là trong tâm lý học, giáo dục học, công tác xã hội và xã hội học. Trong
tâm lý học, khái niệm “trẻ em” được dùng chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý nhân cách con người. Trong xã hội học, “trẻ em” được xem xét như một nhóm xã hội
thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển nhân cách có vị trí
xã hội, vai trò xã hội khác với người lớn. Trẻ em là đối tượng được xã hội chăm sóc, bảo
vệ, nuôi dưỡng, tạo điều kiện cho sự trưởng thành và cũng là đối tượng quan trọng nhất
của công tác xã hội.
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có quan điểm khác nhau trong việc xác định tuổi của trẻ
em. Một số tổ chức quốc tế như Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc, Tổ chức Lao động quốc
tế, Tổ chức Giáo dục văn hoá và khoa học quốc tế… xác định trẻ em là những người dưới

13


15 tuổi. Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 quy định trẻ em có nghĩa là người
dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm
hơn. Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của nước ta quy định “trẻ em là công
dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.
Như vậy, các nhà khoa học, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế, mặc dù với
phương pháp tiếp cận khác nhau đã đưa ra quan niệm khác nhau về trẻ em nhưng cũng đã
dựa trên một số tiêu chí chung để làm căn cứ định nghĩa về trẻ em, đó chính là tuổi đời
của các em. Mỗi giai đoạn khác nhau của trẻ em đều có sự thay đổi về nhân cách, nhưng
tất cả các giai đoạn đều rất cần đến bố mẹ để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
* Trẻ em trong các gia đình sau ly hôn: đó là những trẻ em từ lúc sinh ra cho đến
khi lớn lên đều ở với bố mẹ trong gia đình mở rộng hoặc gia đình hạt nhân, được nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục toàn diện về nhân cách, nay do bố mẹ được toà án công nhận
cho ly hôn, không được sống chung với bố và mẹ nữa. Những trẻ em này ở trong các
hoàn cảnh sau đây:

Lý thuyết cấu trúc chức năng, Niklas Luhman đã gọi lý thuyết này là một biến thể
của lý thuyết hệ thống xã hội học. Vì vậy nghiên cứu lý thuyết chức năng không nên tách
rời với lý thuyết hệ thống.
T. Parsons đã khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc và chức năng, trong
đó cấu trúc giữ vai trò quyết định. Sự thay đổi về mặt chức năng sẽ làm hoàn thiện cấu
trúc của nó. Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân bằng cho xã hội về mặt chức năng.
Còn theo R. Merton: các chức năng xã hội có tính thống nhất thể hiện ở cấp độ xã
hội và cá nhân.
Trong lý thuyết cấu trúc chức năng, xã hội được nhìn như một hệ thống hoàn chỉnh
của các quan hệ qua lại của các bộ phận, mỗi bộ phận lại liên quan với bộ phận khác.
Thuyết cấu trúc - chức năng cho thấy những hành vi cá nhân luôn luôn nằm trong
cấu trúc nhất định, mặc dù cá nhân luôn có sự lựa chọn những ứng sử trong một tình
huống cụ thể. Ví dụ: trong khi xem xét quan hệ kinh tế và gia đình, chúng ta thấy phụ nữ
không lao động dường như có liên quan đến hôn nhân không hạnh phúc nhiều hơn so với
những phụ nữ có việc làm bởi vì họ hoàn toàn lệ thuộc vào kinh tế của người chồng.
Lý thuyết cấu trúc chức năng như là một trong những lý thuyết chủ đạo xem xét các
chức năng của gia đình, trong đó có chức năng giáo dục - xã hội hoá của gia đình. Tất
nhiên, các chức năng của gia đình không thể tách rời nhau mà nằm trong một cấu trúc
thống nhất.
Gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách đứa trẻ. Đây là
môi trường cơ bản, chính thức đầu tiên của xã hội hoá cá nhân. Với chức năng của mình,
gia đình là công cụ truyền lại cho con cháu các giá trị văn hoá truyền thống và văn hoá
hiện đại, đặc biệt là các giá trị xã hội, đạo đức… Đối với những người chưa trưởng thành,
chưa đến tuổi đi học thì đạo đức, lối sống, nhân cách đã chịu sự chi phối nhiều nhất của
quá trình xã hội của gia đình.

16


Không những thế, sự giáo dục - xã hội hoá của gia đình còn truyền lại, khắc sâu vào

17


Gia đình không tách rời khỏi xã hội, nó gắn bó với các quan hệ xã hội liên quan với
các chức năng của chính nó. Lý thuyết cấu trúc chức năng đã tạo cơ sở cho sự phân tích,
sự biến đổi cơ cấu và chức năng gia đình gắn liền với biến đổi cơ cấu xã hội. Mặt khác lý
thuyết này cũng cho phép phân tích mối quan hệ giữa gia đình và hôn nhân, giữa cha mẹ
và con cái, giữa đời sống kinh tế và đời sống văn hoá, tinh thần. Gia đình, cộng đồng và
các thiết chế xã hội luôn luôn tương tác trong một cơ cấu thích hợp. Lý thuyết này cũng
chỉ ra cha mẹ ly hôn và trẻ em trong các gia đình ly hôn không tách rời nhau mà nằm
trong một cơ cấu phức tạp. Vì vậy khi giải quyết một vấn đề nào liên quan đến hôn nhân,
ly hôn đều phải đặt trong một cơ cấu tương ứng.
1.3.2. Lý thuyết gia đình học
Từ nhiều thế kỷ, có thể hàng nghìn năm, nhiều ngành khoa học đã quan tâm nghiên
cứu gia đình, từ triết học đến văn học, sử học, nhân chủng học, tâm lý học, luật học, xã
hội học, công tác xã hội, gia đình học…
H.T. Christensen (1965) cũng cho rằng, thời kỳ nghiên cứu gia đình có hệ thống
nhất cũng chỉ mới bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19. Ngoài thời kỳ tiền nghiên cứu về gia
đình, ông phân biệt ra 3 giai đoạn phát triển của các công trình nghiên cứu về gia đình:
giai đoạn thứ nhất ở vào khoảng giữa thế kỷ 19, giai đoạn thứ hai vào nửa đầu thế kỷ 20
và giai đoạn thứ ba kéo dài cho đến ngày nay.
Theo F. Ăngghen, việc nghiên cứu lịch sử gia đình bắt đầu từ 1861, tức là từ khi
cuốn “Mẫu quyền” của Bachofen ra đời (T.31 - MAT2 - T.6).
Morgan (Moocgan) là người được Mác và Ăngghen đánh giá cao trong nghiên cứu
lịch sử tiến hoá nhân loại và nghiên cứu về gia đình.
Ngay từ thế kỷ thứ XIX, Moocgan, qua cuốn “Xã hội Cổ đại”, ông cho rằng: “Gia
đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng nguyên ở một chỗ, khi xã hội phát
triển từ một trình độ thấp lên một trình độ cao, thì gia đình cũng tiến từ một hình thức
thấp lên một hình thức cao”[3,15].
Gia đình và quá trình phát triển của nó gắn liền với quá trình phát triển xã hội.

nhiều quan điểm lý thuyết khác nhau về vấn đề này. Nhà xã hội học Pháp (August
Comte) (1798-1857), nhà triết học thực chứng và là nhà sáng lập môn xã hội học đã cho
rằng quan niệm gia đình là tổ chức xã hội cơ bản và sự hợp tác trong lao động của các
thành viên là rất quan trọng. Ông cho rằng gia đình mang tính lịch sử và là công cụ xã hội
hoá cá nhân, chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống trong xã hội. Ông phân biệt hai mối
quan hệ cơ bản trong gia đình là mối quan hệ giới và quan hệ giữa các thế hệ. Đó là mối
quan hệ vợ chồng và mối quan hệ cha mẹ và con cái.

19


Trong nửa cuối thế kỷ thứ XIX xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu nhân chủng
học tự nhiên và nhân chủng học xã hội theo khuynh hướng tiến hoá tự nhiên liên quan
đến gia đình (H.Spencer, J.Bachofen, J.Morgan…). Trong đó, L.H. Morgan (1818 1881) đã đóng vai trò quan trọng.
Khi đề cập đến vấn đề vị thế xã hội của gia đình, Leplay, nhà xã hội học người Pháp
đã đưa ra nhiều ý kiến về địa vị gia đình, phương pháp duy trì gia đình, ngân sách, gia
đình, các giai đoạn quan trọng nhất của gia đình. Ông cho rằng môi trường địa lý có ý
nghĩa quan trọng đến các hình thái của đời sống gia đình.
Trong tác phẩm “Nhập môn xã hội học gia đình” do E. Durkheim viết và xuất bản năm
1888, Durkheim đã trình bày khá sâu sắc và toàn diện về xã hội học gia đình.
Sau này, trong lĩnh vực lý thuyết về gia đình, nhiều nhà xã hội học đã đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau về gia đình, nhất là xã hội học gia đình và công tác xã hội với
gia đình. Các lý thuyết này chú ý nhiều đến mối quan hệ của gia đình đối với cấu trúc xã
hội, biến đổi chức năng gia đình, những vấn đề liên quan đến gia đình như tiền hôn nhân,
hôn nhân, vấn đề giáo dục trẻ em về đời sống gia đình.
Khi xem xét gia đình là một nhóm xã hội, “gia đình là một nhóm xã hội gồm hai hay
nhiều người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống (hoặc nhận con
nuôi), vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư của họ, vừa nhằm thoả mãn những nhu cầu
của xã hội và tái sản xuất dân cư cả nghĩa thể xác và tinh thần”.
Khi xem xét gia đình như một thiết chế xã hội, người ta cho rằng cần tập trung vào

phong tục tập quán, thói quen, tâm lý, tình cảm, lối sống của một xã hội, của một dân tộc
và một thời đại lịch sử nhất định.
Công nghiệp hoá đã làm cho cấu trúc của gia đình thay đổi, xuất hiện nhiều loại gia
đình khác với gia đình truyền thống. Nền văn minh công nghiệp đem lại cho gia đình
phương thức hoạt động, nuôi dạy con cái, lối sống mới tác động tích cực đến tàn dư của
chế độ gia trưởng trong gia đình.
Cùng với các lý thuyết về gia đình, một số luận điểm về hôn nhân, về ly hôn đã nảy
sinh trong quá trình nghiên cứu về gia đình.
“Hôn nhân là một dạng liên kết khác giới được tập quán và luật pháp công nhận, có
giá trị lâu dài. Dù tất cả sự khác biệt văn hoá thì hôn nhân bất cứ ở đây, dù có sự khác
biệt về mức độ trách nhiệm vẫn được công nhận là thể chế xã hội để đảm bảo sự kế tục
hợp pháp, thường được xã hội bảo vệ ở mức độ nhiều hay ít chịu sự điều tiết của xã hội,
lý giải sự tiếp tục thừa kế và đòi hỏi sự tương trợ và hợp tác lẫn nhau của cả đôi
bên”[4,70].
Do thực tiễn xã hội của sự khủng hoảng trong hôn nhân, tỷ lệ ly hôn cao nên một số
người cho rằng thiết chế hôn nhân sẽ suy vong dần và ly hôn đã trở thành sự kiện xã hội

21


phổ biến. Các nhà xã hội học đã nêu ra rất nhiều tác động của ly hôn đối với cả đôi lứa và
con cái. Các ảnh hưởng này bao gồm: các nguy cơ chán nản, tuyệt vọng, tuyệt mệnh.
Chính Emile Durkheim, một trong số nhà xã hội học tiền bối nước Pháp, qua tác phẩm
nổi tiếng “Sự tự sát” đã chỉ ra rằng, nam giới chịu tác động về mặt xã hội và sự cô độc
hơn phụ nữ rất nhiều”. Nhưng phụ nữ lại chịu cảnh sa sút nặng nề về nhiều mặt.
R. Aron đã chỉ ra rằng “ly hôn là cuộc khủng hoảng của sự biến đổi gia đình gây ra
những thay đổi trong hệ thống gia đình”. Sự ly hôn của gia đình diễn ra trong những bối
cảnh khác nhau nhưng thường xuất phát từ nhiều xung đột và trải qua một quá trình phức
tạp đầy mâu thuẫn.
Ăngghen đã nói rằng: “Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới là hợp

đáp ứng được nhu cầu này. Nếu đứa trẻ, vì nguyên nhân nào đó, không được đáp ứng nhu
cầu thích hợp với mình dẫn đến hình thanh cảm giác mất tin tưởng, rơi vào tình trạng sợ
hãi, rối loạn đáng thương vì không có mẹ bên cạnh ấp ủ, chăm sóc.
- Giai đoạn 2 - Nhà trẻ (1,5 - 3 tuổi): đứa trẻ tập đi, tập tự định hướng cho mình.
Nhiệm vụ của gia đình và nhà trẻ là hình thành sự tự chủ cho trẻ (hoặc mức độ cảm giác).
Có thể xuất hiện những nguyên nhân làm cho trẻ trì trệ.
- Giai đoạn 3 - Mẫu giáo (từ 3 - 6 tuổi): hình thành năng lực của đứa trẻ và tránh
khỏi tội lỗi do nhiều lý do gây nên. Vai trò của cha mẹ rất quan trọng trong giai đoạn này.
- Giai đoạn 4 - Đi học (từ 6 - đến tuổi dậy thì): hình thành sự chăm chỉ, cần cù, kỹ
xảo hành động của trẻ.
- Giai đoạn 5 - Vị thành niên (từ dậy thì đến 20 tuổi): diễn ra cuộc “cách mạng sinh
lý”. Trẻ đi tìm bản sắc riêng của mình.
- Giai đoạn 6 - người lớn trẻ tuổi (gần 20 đến 40 tuổi): tìm kiếm cái bản sắc sẵn
sàng phát triển với sự gắn bó với người khác. Tình yêu nam nữ xuất hiện…[5,43].
Tính chất khoa học của lý thuyết E. Erikson là đã trình bày quá trình phát triển nhân
cách của trẻ gắn liền với sự chuyển hoá trong các mối quan hệ xã hội trong suốt cuộc đời.
Trong đó, mối quan hệ quan trọng nhất là mẹ - con (giai đoạn từ 0 đến 1,5 tuổi), mỗi
quan hệ cha mẹ - con cái (giai đoạn từ 1,5 tuổi đến 3 tuổi), mối quan hệ cha mẹ, gia đình
và con cái (giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi). Khi bắt đầu đến trường và trưởng thành sau này thì
mối quan hệ nhà trường, hàng xóm, cộng đồng là rất quan trọng (từ 6 tuổi đến tuổi dậy
thì) và từ đó đến gần 20 tuổi, con người của lứa tuổi này hình thành các nhóm bạn bè,
nhiều cá tính và lúng túng về vai trò xã hội, muốn khẳng định mình để duy trì được lòng
tự trọng.
Theo TS. Banaag Cornelio (thuộc Tổ chức Quốc tế về Dịch vụ gia đình và Cộng
đồng), cho rằng: trong phần lớn các xã hội, gia đình là môi trường đầu tiên của trẻ em từ

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status