A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Trên con đường phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại, Nguyễn
Ngọc Tư nổi lên như một hiện tượng. Dù tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ,
Nguyễn Ngọc Tư vẫn mạnh dạn thể hiện mình với nhiều thể loại văn học
khác nhau từ thơ, tản văn đến truyện ngắn, tiểu thuyết. Dù ở thể loại nào,
nhà văn cũng mong muốn các tác phẩm của mình mang hơi thở của đời sống
hiện thực, phản ánh chân thực những niềm vui nỗi buồn, những đau khổ bi
kịch của con người hiện đại. Những câu chuyện trong văn của chị lắm khi
quá gần gũi, thân quen, nhưng khi người khác điềm nhiên bước qua thì chị
lại để tâm quan sát và không ngừng trăn trở.
Không phải ngẫu nhiên mà khi nhắc đến Nguyễn Ngọc Tư là người ta nhớ
tới một miền sông nước. Bởi lẽ, viết về sông nước miền Tây từ lâu đã trở
thành “thương hiệu” của Nguyễn Ngọc Tư. Sông nước như một đề tài máu
thịt, xuất hiện thường trực trong các tác phẩm của Tư. Bằng chứng là hầu
như không có một tác phẩm nào từ tản văn, truyện ngắn đến tiểu thuyết mà
ta không bắt gặp ở đó một con sông, con rạch, một dòng nước âm thầm
xuyên suốt từ đầu đến cuối trang văn. Dòng sông, con nước ấy thay lời nhà
văn kể về những vùng miền nơi nó đã đi qua, kể chuyện đời của những con
người mà nó gặp. Có lẽ do Nguyễn Ngọc Tư sinh trưởng tại vùng Đầm Dơi,
Cà Mau, nơi có mạng lưới sông ngòi chằng chịt nên sông nước từ lâu đã ảnh
hưởng mạnh mẽ đến tâm hồn nhạy cảm của chị, trở thành nguồn cảm hứng
vô tận cho chị
2. Việc nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư và các tác phẩm của chị không hẳn
là đề tài quá mới mẻ. Tuy nhiên bất cứ một hiện tượng nào cũng có nhiều
hướng suy nghĩ , tiếp cận. Một tác giả văn học, đặc biệt lại là một tác giả nữ
đang được dư luận chú ý và gặt hái nhiều thành công thì chắc chắn sẽ còn
nhiều những vấn đề mới mẻ đang chờ đợi được khám phá. Trong sự khảo sát
còn nhiều hạn chế cả chúng tôi , các bài nghiên cứu về văn Nguyễn Ngọc Tư
Viết về Nguyễn Ngọc Tư tiêu biểu và sớm nhất, có thể kể đến bài viết
“Nguyễn Ngọc Tư- đặc sản miền Nam” của GS. Trần Hữu Dũng. Trong bài
viết này, ông đã xem xét tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư trên cả hai phương
diện nội dung và nghệ thuật, từ đó đi tới khẳng định sự thành công của nữ
nhà văn là ở ngòi bút giản dị, chân thật. Rất dễ để đồng tình với nhà phê
bình khi mà hiện nay nhiều nhà văn trẻ cố gắng thể hiện mình ở những
hướng đi mới mẻ ( sử dụng bút pháp mới, mô tả một xã hội mới, những con
người mới... ) thì Nguyễn Ngọc Tư lại một mình lặng lẽ trung thành với
những điều xưa cũ. Chị đưa ta vào những khung cảnh rất thường của đời
sống, rồi tự mỗi người khi soi vào trong tác phẩm, lại ngẫm ra rất nhiều
điều. Một thành công nữa phải kể đến của Nguyễn Ngọc Tư mà GS. Trần
Hữu Dũng đề cập đến trong bài viết là chất giọng Nam Bộ đặc trưng, đặc
biệt là tài năng của nữ nhà văn trong việc sử dụng phương ngữ miền Nam
với tần số dày đặc. Sử dụng nhiều, nhưng lại đúng lúc đúng chỗ, khiến người
đọc không nhàm chán, mà chỉ thấy sự mộc mạc, giản dị quá đỗi trong từng
câu chữ. Phải là một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm mới ghi nhận được một số
lượng lớn lời ăn tiếng nói người Nam Bộ và đưa nó vào trong trang viết của
mình một cách tự nhiên như Nguyễn Ngọc Tư.
Ở một hướng tiếp cận tương tự, bài viết “Nguyễn Ngọc Tư- nhà văn trẻ Nam
bộ” đăng trên báo Văn nghệ sông Cửu Long ( số ra ngày 13/04/2006) của tác
giả Huỳnh Công Tín cũng chú ý đến không gian Nam Bộ, chất Nam Bộ bao
trùm lên tất cả các trang viết của chị. Có một không gian Nam Bộ với những
loại cây, tên gọi nghe quen, dân dã: mắm, đước, sú, vẹt, bần, tra, tràm, choại,
quao, ô rô, dừa nước…, với những vàm, kinh, rạch, xẻo, tắt chằng chịt, mà
tên gọi cũng gợi trí tò mò, tìm hiểu ở người đọc: vàm Cỏ Xước, Vàm Mắm,
kinh Cỏ Chác, kinh Mười Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi, Rạch Ráng, Rạch
Ruộng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, Lung Lớn, Gò Cây Quao…, hay những tên ấp, tên
làng, tên chợ nhiều chất Nam Bộ: xóm Xẻo, xóm Rạch, xóm Kinh Cụt, xóm
nhân vật chính. Cuộc sống lao động được tái hiện phần lớn là những cuộc
làm ăn long đong trên sống nước, kênh rạch, buôn bán trên chợ nổi…
Nguyễn Ngọc Tư là con đẻ của mảnh đất Cửu Long, viết về quê hương như
một cách thức giới thiệu và quảng bá vốn văn hóa vùng miền. Bên cạnh đó,
không chỉ đề cập đến những nét văn hóa tiêu biểu của vùng đất Nam bộ,
Nguyễn Ngọc Tư còn đưa vào trong tác phẩm của mình những mảng tối như
trình độ giáo dục , dân trí thấp. Và nó chính là một trong những nguyên nhân
dẫn đến số phận bi kịch, nghèo nàn của rất nhiều nhân vật. Đằng sau những
trang viết của chị, người ta thấy một tấm lòng nặng tình với quê hương, một
ý thức giữ gìn và trân trọng vẻ đẹp văn hóa.
Cũng đi vào nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư nhưng tác giả Phạm
Thái Lê trong bài viết “Hình tượng con người cô đơn trong tuyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư” đăng trên “Tạp chí Văn nghệ quân đội”( tháng 2/2009) lại
đưa ra một hướng nghiên cứu khác. Tác giả chỉ ra một mô típ thường thấy
trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là “người nghệ sĩ cô đơn [11;1]”.
Người nghệ sĩ thường đi trong một hành trình đơn độc để tìm mục đích của
mình, chạy trốn khỏi thực tại vô vọng, bất chấp và đánh đổi tất cả. Cuối bài
viết, Phạm Thái Lê đưa ra kết luận: “ Cũng là đề cập đến nỗi cô đơn của con
người, nhưng chúng tôi nhận thấy quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất khác.
Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi kịch tinh thần lớn nhất của con người. Nhưng
đọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận rất rõ sự cô đơn mà không thấy bi
quan tuyệt vọng. Nhân vật của chị tự ý thức về sự cô đơn. Họ chấp nhận bởi
họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống. Và, từ trong nỗi đau ấy, họ vươn
lên làm người. Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực
của cái Thiện, cái Đẹp[11;2].”
Đặc biệt tháng 8 năm 2005, tác phẩm Cánh đồng bất tận ra mắt bạn đọc.
Tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư một lần nữa khuấy động đời sống văn học. Cánh
đồng bất tận trở thành hiện tượng đáng chú ý bậc nhất của văn học năm đó,
Nguyễn Ngọc Tư (Nguyễn Thành Ngọc Bảo, luận văn thạc sĩ, trường Đại
học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh năm 2008), Thế giới biểu tượng trong
văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư(Nguyễn Thị Ngọc Lan, luận văn thạc sĩ, trường
Đại học Đà Nẵng năm 2013) hay Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu (Lê Thị Tuyết ,luận văn thạc
sỹ, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, năm 2010)…
Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số bài viết ngắn bàn về nội dung và hình
thức trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư như: Dạ Ngân với “Nguyễn Ngọc Tư
– điềm đạm mà thấu đáo” (Văn nghệ trẻ, số 15 năm 2004), Minh Thi với “
Nguyễn Ngọc Tư và những bộ mặt tâm trạng” (Lao động ,ngày 11/4/2004),
Thảo Vy và bài viết “Nỗi đau trong Cánh đồng bất tận”(Tạp chí văn hóa
Phật giáo, số 11 năm 2005)…
2. Những công trình, bài viết liên quan đến đề tài.
Như đã khẳng định, sông nước là không gian nghệ thuật quen thuộc thường
gặp trong truyện Nguyễn Ngọc Tư. Sông nước là mạch chảy xuyên suốt các
tác phẩm, nối kết những số phận, những mảnh đời. Vì thế khi đi vào nghiên
cứu về Nguyễn Ngọc Tư không thể nào bỏ qua dấu ấn này. Từ hải ngoại,
nhà nghiên cứu Thụy Khuê có bài viết “ Không gian sông nước trong truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư”(nguồn trích www.thuykhue.free.fr tháng
11/2006). Tác giả Thụy Khuê cho rằng, trong truyện của mình, Nguyễn
Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian Nam bộ đặc trưng với ruộng
đồng sông nước, kênh rạch chằng chịt, với những mảnh đời nổi trôi theo
từng con nước, những số phận còn mất cùng những mùa lũ, cả những bi kịch
chôn vùi dưới đáy sông sâu. Bài viết đã bước đầu khẳng định được “ tinh
thần sông nước” cũng như không gian sông nước là điểm nổi bật trong tác
phẩm của Nguyễn Ngọc Tư. Tuy vậy, bài viết mới dừng lại ở việc khẳng
định, chứ chưa đi sâu vào phân tích cắt nghĩa sự thể hiện và ý nghĩa cũng
như dụng ý nghệ thuật của nhà văn khi đưa không gian sông nước vào các
đi và hiện thực mờ ảo trong tác phẩm chứ chưa có sự đào sâu vào hình tượng
sông Di- hình tượng chủ đạo của cuốn tiểu thuyết.
Dù đã có không ít bài nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư, nhưng có một thực tế
là việc nghiên cứu còn chưa hệ thống. Các bài viết đa số đều chỉ đăng trên
các báo, tạp chí chuyên ngành dưới dạng bài ngắn, chưa có công trình nào
được tập hợp, in thành sách hay một chuyên luận. Có nhiều bài viết là những
bài tranh luận,ý kiến trái chiều chứ chưa có giá trị khoa học thật sự.
Các vấn đề về nhân vật, chất trữ tình trong truyện ngắn, cảm hứng nhân văn,
không gian và văn hóa Nam bộ, phương ngữ Nam Bộ, ngôn ngữ và lời thoại
nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư đều đã được bàn đến trong những
bài viết nêu trên. Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi thấy chưa có công trình
nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về sông nước trong tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tư như một biểu tượng mang tính đa nghĩa. Vì vậy, chúng tôi đã chọn
đề tài này một lần nữa hy vọng góp một cái nhìn mang tính xuyên suốt và
đầy đủ hơn về mảng văn vốn dĩ vẫn được xem là một nỗi niềm thường trực
của tác giả.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào lí do chọn đề tài người viết xác định nhiệm vụ của khóa luận như
sau:
- Tiếp cận ở góc độ gần một chủ đề mang tính biểu trưng trong tiểu thuyết
và một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư “Sông” từ đó lật giở
những thông điệp mà nhà văn chuyển tải.
- Thấy được những nỗ lực của Nguyễn Ngọc Tư trong việc xác lập một
phong cách riêng qua những nét đặc sắc về nghệ thuật biểu hiện.
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng:
- Với đề tài Sông trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ( khảo qua tiểu
thuyết và một số truyện ngắn tiêu biểu), đối tượng nghiên cứu mà khóa
điểm nhìn khác nhau, đặt các tác phẩm trong hệ thống sáng tác của bản thân
tác giả Nguyễn Ngọc Tư cũng như sáng tác của các tác giả tiêu biểu ở những
giai đoạn trước và cùng thời.
VI. CẤU TRÚC KHÓA LUẬN
Khóa luận của chúng tôi gồm trang, được triển khai thành 3 phần, trừ phần
Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Sông trong văn hóa- văn học, từ quá khứ đến hiện tại ( những vấn
đề nhận thức chung)
Chương II: Dòng sông của phép ẩn dụ tâm hồn trong văn chương Nguyễn
Ngọc Tư ( khảo qua tiểu thuyết và một số truyện ngắn tiêu biểu)
Chương III: Nghệ thuật viết như một phương tiện chuyển tải nội dung
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SÔNG TRONG VĂN HÓA- VĂN HỌC, TỪ QUÁ KHỨ
ĐẾN HIỆN TẠI ( NHỮNG VẤN ĐỀ NHẬN THỨC CHUNG)
1. Sông- biểu tượng văn hóa nguyên thủy
Mỗi biểu tượng văn hóa chứa trong nó những giá trị cổ xưa của nền văn hóa
nhân loại. Biểu tượng văn hóa chính là sự mã hóa các giá trị tinh thần của
loài người theo thời gian. Một biểu tượng văn hóa luôn được đặt trong sự
khám phá và tìm tòi của con người, khiến cho nó có xuất phát điểm ban đầu
là một vài ý nghĩa cố định, dần dần được phát triển thêm những nét nghĩa
biểu trưng mới. Đồng thời theo thời gian, cùng với việc sản sinh thêm những
ý nghĩa mới, biểu tượng đi vào đời sống văn hóa và để lại dấu ấn trong
phong tục, tập quá, tín ngưỡng, nghi lễ, văn học… tóm lại là các phạm trù
của nền văn hóa.
Trong bề dày văn hóa nhân loại, nước cùng với các yếu tố tự nhiên như đất,
khí, lửa… được coi là một trong những biểu tượng cổ xưa nhất và mang
nhiều giá trị về mặt văn hóa, tâm linh. Còn nhớ, triết gia Thales quan niệm
rằng toàn bộ thế giới của chúng ta được bắt nguồn từ nước. Sông nước là
sống, mà còn là môi trường lao động sản xuất của người Việt từ xưa đến
nay. Sông không chỉ là căn cứ để lựa chọn nơi sinh sống mà còn là điều kiện
tiên quyết của lao động sản xuất. Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực
Đông Nam Á, nơi có nhiều các dòng sông lớn như sông Dương Tử, sông
Hồng, sông Mê Kông… với những đồng bằng phù sa màu mỡ thuận lợi để
hình thành nền nông nghiệp lúa nước. Sông nước dồi dào khiến cây cối xanh
tươi, mùa màng sung túc. Sự hiện hữu của sông nước thể hiện sự tồn tại của
sự sống. Cùng với việc cung cấp nguồn nước để phát triển nông nghiệp,
sông còn là môi trường thuận lợi phục vụ cho nghề chài lưới đánh bắt thủy
sản của người dân Việt
Hệ thống sông ngòi dày đặc từ Bắc vào Nam tạo nên mạng lưới giao thông
đường thủy đặc trưng của văn hóa dân tộc, đặc biệt phát triển ở miền Nam.
Từ đây, những phương tiện thuyền, ghe, xuồng, bè đã trở thành quen thuộc
và ghi một dấu ấn đậm nét vào văn hóa vùng.
Sông nước cũng ảnh hưởng đến cả đời sống tâm linh của người Việt từ cổ
xưa. Nghi lễ thủy táng và việc sử dụng quan tài hình thuyền để chôn cất
người chết mang đậm dấu ấn sông nước. Khi con người còn sống, sông trở
thành nguồn gốc của sự sống, cung cấp môi trường sống và sinh hoạt. Đến
khi chết đi, sông mở ra đón nhận, trở thành nơi an ủi linh hồn mà con người
muốn trở về.
2.2.
Ứng xử văn hóa với sông nước của người Việt Nam
Người Việt Nam là cư dân gốc nông nghiệp. Một đặc điểm lớn trong cách
sống và cách ứng xử của cư dân nông nghiệp với tự nhiên nói chung là họ
luôn tôn trọng tự nhiên. Người dân ý thức được cuộc sống của mình phải
phụ thuộc vào tự nhiêntrong đó sông nước được coi là yếu tố quan trọng bậc
này, nhân dân muốn cầu xin một năm mưa thuận gió hòa để cày cấy thuận
lợi, mùa màng tốt tươi, con dân được hưởng ấm no. Không chỉ trong những
nghi lễ tâm linh mang tính tập thể, cộng đồng mà cả trong tập tục thờ cúng ơ
mỗi gia đình cũng thể hiện dấu ấn của tín ngưỡng thờ nước. Trên bàn thờ gia
tiên của người Việt Nam có thể thiếu rượu chứ không bao giờ được thiếu
mấy chén nước sạch.
Suốt cả dải đất Việt Nam gần như hiếm có một địa phương nào lại không có
ít nhất một nghi lễ tâm linh liên quan đến tín ngưỡng thờ sông nước. Như
vậy có thể thấy, xuất phát từ điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sống và
môi trường lao động, kết hợp với quan niệm “ vạn vật hữu linh”, tôn thờ
nước đã tạo nên một tín ngưỡng vô cùng đặc trưng trong bề dày văn hóa dân
tộc.
3.Sông nước trong văn học Việt Nam
Văn học là một bộ phận của văn hóa nhưng đồng thời văn học cũng là
phương tiên để lưu trữ và truyền tải. Văn học tiếp nhận những giá trị văn hóa
của một dân tộc, một cộng đồng, một tập thể đã tồn tại từ lâu và thể hiện nó
ra bằng các hình tượng nghệ thuật. Cùng với đó, nhà văn với tư cách là
người sáng tạo nên tác phẩm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thể
hiện đặc trưng văn hóa dân tộc vào trong tác phẩm văn chương. Nhà văn đặt
bút viết cũng phải phù hợp và thỏa mãn sự tiếp nhận của cộng đồng mình.
Vì thế, văn học chính là sự phản ánh của văn hóa. Và với tư cách là một bộ
phận của văn hóa, nền văn học nước nhà cũng chịu ảnh hưởng và mang
trong mình những dấu ấn của sông nước trong một hành trình dài xuyên suốt
cả trong văn học dân gian, cho tới văn học trung đại và sau này là văn học
hiện đại.
3.1 Văn học dân gian
Đến với văn học dân gian là tìm đến với đời sống tâm hồn mộc mạc, chất
phác của nhân dân. Nhân dân luôn đưa vào trong văn học dân gian những gì
không quên)
Sông hiện diện trong tình yêu đôi lứa như một kiểu trở ngại để thử thách
lòng người.(Ước gì sông rộng một gang /Bắc cầu dải yếm cho chàng sang
chơi ; Yêu nhau mấy núi cũng trèo / Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua;
Sông dài cá lội biệt tăm / Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ)
Sông nước còn gợi lên những ý niệm về cuộc đời, về kiếp người (Sông có
khúc, người có lúc ; Khúc sông chật hẹp khôn tuỳ / Lo cho thân bậu sá gì
thân qua)
Sông là nhân chứng cho những khúc ngoặt, đoạn rẽ của cuộc đời con người
(Vai mang khăn gói sang sông / Mẹ kêu em dạ, thương chồng phải theo)
Sông nước mang nhiều triết lý, kinh nghiệm sống đáng để con người phải
suy ngẫm ( Nước chảy đá mòn ; Uống nước nhớ nguồn ; Sông sâu còn có kẻ
dò/ Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng ); thể hiện đạo đức và cách ứng
xử (Thác trong hơn sông đục ; Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo )
Từ không gian sông, những câu hò điệu lý cất lên cao vút:
“ Hò ơ ai về sông nước miền Tây
Cò bay thẳng cánh ruộng đồng bao la
Người ơi xin hãy ghé qua, thăm vùng sông nước
Hò ơ thăm vùng sông nước
Hiền hòa mến yêu…”
( Hò miền Tây sông nước)
Cùng gần giống với hò là những điệu lý dân gian mượt mà, vần điệu với lời
ca giàu chất trữ tình, mang nỗi niềm hoài niệm tình yêu,quê hương, dòng
sông bến nước con đò làng quê thân thuộc.
“ Sông dài còn chảy xuôi theo dòng
Mà sao vắng em tôi biết tìm nơi đâu
Dòng sông còn chứa chan ân tình
Nay dang dở tình đầu ta còn ngóng đợi ai…”
“ Tiền Đường thả một bè lau cứu người”
“ Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường”
“ Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan”
“ Lâm Truy buổi trước, Tiền Đường buổi sau”
Sông Tiền Đường trở thành nơi mang đến ám ảnh về cõi chết, là nơi mà
Đạm Tiên- người kĩ nữ mệnh bạc hẹn “gặp” Kiều; cũng là nơi Thúy Kiều
lựa chọn để giải thoát khỏi cuộc đời đau khổ. Tiền Đường là dòng sông định
mệnh của đời Kiều. Cuối tác phẩm, dòng sông như một bản lề khép lại
quãng đời lưu lạc trước của Thúy Kiều, đồng thời mở ra một cuộc đời mới
của nàng với cuộc đoàn tụ cùng gia quyến. Tuy nhiên Tiền Đường có thể
còn xa. Có những dòng sông đã chảy suốt bao đời trên đất Việt, qua những
biến thiên của lịch sử, chứng kiến những hưng phế của các triều đại, trở
thành nơi lưu danh tên tuổi của anh hùng muôn đời. Con sông “ tự cổ huyết
do hồng” Bạch Đằng, cửa bển Thần Phù chảy qua những khúc quanh co của
lịch sử, đi vào thơ văn của nhiều tác giả trung đại với tất cả vẻ lộng lẫy và
hào hùng như (Bạch Đằng giang phú, Quá Thần Phù hải khẩu…) Sông trở
thành hình ảnh biểu trưng cho quê hương, đất nước; biểu trưng cho cả một
dân tộc kiên cường đã trải qua cả một chặng đường dài lịch sử dựng nước và
giữ nước. Các tác giả ca ngợi sông đẹp đẽ, tráng lệ cũng chính là ca ngợi đất
nước và con người Việt Nam kiêu hùng, anh dũng vậy. Sông chảy mãi như
chứng nhân lịch sử nhắc nhở con người nghĩ về quá khứ oanh liệt của dân
tộc
“ Cố quốc quy tâm lạc nhạn biên
Thu phong nhất diệp hải môn thuyền
Kình phun lãng hống lôi nam bắc
Sóc ủng sơn liên ngọc hậu tiền…”
( Nguyễn Trãi, Thần Phù hải khẩu)
Như vậy có thể thấy, không chỉ ở văn học dân gian, sông nước còn xuất hiện
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
“ Đứng bên này sông sao nuối tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay…”
Con sông quê hương là hình ảnh hiện thân cho đất nước: đẹp đẽ trong lịch
sử, đau thương trong hiện tại. Con sông quê hương với nhà thơ đã trở thành
một phần gắn bó máu thịt, giống như chính thân thể. Sông trở thành một
thực thể cũng có tâm hồn, cũng đang tồn tại thân thiết và gần gũi. Sông gợi
nhắc đến quê hương xứ sở, mang trong mình nỗi đau của đất nước, con
người ( Huy Cận, Tràng giang)
Quê hương có vô vàn hình ảnh để gợi nhắc con người nhớ về nó: cây đa, bến
nước, mái đình... nhưng dòng sông vẫn là một trong những hình ảnh tiêu
biểu nhất hiện hữu trong tâm trí mỗi người con xa quê khi nghĩ đến quê
hương. Dòng sông quê hương là dòng sông tắm mát tuổi thơ, nuôi dưỡng
tâm hồn con người ( Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương)
Không chỉ trong thơ ca trữ tình, sông nước còn là nguồn cảm hứng cho các
nhà văn sáng tạo nên những truyện ngắn, tiểu thuyết, ký… đặc sắc. Cũng
như trong thơ ca, dòng sông vẫn là hình ảnh thu nhỏ của đất nước, là nguồn
cảm hứng, là hình tượng nghệ thuật để các tác giả viết nên những bài ca ca
ngợi, bày tỏ tình yêu với Tổ quốc. Các tác giả thổi hồn vào dòng nước vô tri,
biến dòng sông từ một thực thể tự nhiên vô hồn tĩnh lặng trở nên một thực
thể sống có cảm xúc. Người lái đò sông Đà là bút ký đặc sắc của Nguyễn
Tuân. Bằng tình yêu thiên nhiên đất nước kết hợp với ngôn từ độc đáo, tài
hoa, Nguyễn Tuân đã tái hiện lên một con sông Đà thật hùng vĩ mà cũng thật
trữ tình. Nó không còn là một hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ đơn thuần, mà đã
trở thành một con người gây thương nhớ cho bất kì ai từng gặp qua nó.
Dòng sông không chỉ tồn tại ở bản đồ địa lý đất nước mà sông đã đi vào văn
chương nghệ thuật. Sông Đà của Nguyễn Tuân, sông Đuống cuả Hoàng
truyền tải. Trên con đường phát triển của văn học Việt Nam từ buổi ban đầu
với văn học dân gian cho đến nền văn học đương đại bây giờ, chúng ta có
thể khẳng định sông nước chưa bao giờ đánh mất vị trí của mình. Hình
tượng nghệ thuật dẫu rằng là một sự sáng tạo của nhà văn và ngày càng có
nhiều hình tượng nghệ thuật độc đáo, mới mẻ nhưng sông vẫn luôn chiếm
một vị trí nhất định không thể bị soán ngôi trong văn học.
Sông nước từ lâu đã không chỉ có vai trò như một biểu tượng, một giá trị
văn hóa nguyên thủy mà nó đã đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi con người
Việt Nam. Sông đã hóa thân thành hình ảnh dung dị, thân thuộc của quê
hương xứ sở, trở thành một phần tồn tại không thể tách rời trong cuộc sống
của người Việt Nam. Sông đi vào trong văn hóa, trở thành một dấu ấn đặc
trưng trong bề dày văn hóa dân tộc. Sông vào trong văn học, trở thành một
hình tượng nghệ thuật xuyên suốt nổi bật. Và sông không ngừng chảy, luôn
song hành cùng tiến trình phát triển của văn hóa- văn học Việt Nam, trở
thành đối tượng khám phá chưa bao giờ là xưa cũ khi luôn tồn tại, bồi đắp
những ý nghĩa tiềm ẩn mới mẻ.