HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------***-------
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA
MỘT SỐ DÒNG VÀ TỔ HỢP LAI MƯỚP ĐẮNG
TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------***-------
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
ĐÁNH GIÁSINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ
DÒNG VÀ TỔ HỢP LAI MƯỚP ĐẮNG
TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số: 60.62.01.10
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. VŨ THANH HẢI
2. TS. NGÔ THỊ HẠNH
HÀ NỘI, NĂM 2015
suốt quá trình học tập và nghiên cứ trong nhà trường.
Và nhân dịp này,tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể anh chị em trong Bộ
môn Rau – Gia vịViện Nghiên cứu Rau Quả đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên
giúp đỡ tôi trongg suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn
này.
Cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, người thân, bạn bè
trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan....................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ......................................................................................................... iii
Mục lục .............................................................................................................. iv
Danh mục chữ viết tắt ....................................................................................... viii
Danh mục bảng ................................................................................................. vii
Danh mục đồ thị ............................................................................................... viii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề .................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu ..................................................................................... 2
1.2.1. Mục đích ........................................................................................................2
1.2.2 Yêu cầu ...........................................................................................................2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................... 3
2.5.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu............................................ 30
Chương 3 KẾTQUẢVÀ THẢO LUẬN ............................................................. 31
3.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của các dòng mướp đắng .......................... 31
3.1.1. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các dòng
mướp đắng ....................................................................................................31
3.1.2. Đặc điểm hình thái cây của các dòng mướp đắng ..................................32
3.1.3. Các chỉ tiêu về hình thái quả của các dòng mướp đắng.........................33
3.1.4. Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng mướp đắng ....................35
3.1.5. Tình hình nhiễm sâu, bệnh của các dòng mướp đắng ............................36
3.2. Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai mướp đắng .....37
3.2.1. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp lai........ 37
3.2.2. Đặc điểm hình thái cây của các tổ hợp lai mướp đắng ..........................39
3.2.3. Đặc điểm ra hoa, đậu quả các tổ hợp lai mướp đắng .............................41
3.2.4. Các chỉ tiêu về hình thái quả của các tổ hợp lai .....................................42
3.2.5. Một số loại bệnh hại trên cây mướp đắng ...............................................44
3.2.6. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai ..........46
3.2.7 Khả năng kết hợp của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm .....................48
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................... 51
Kết luận ............................................................................................................. 51
Đề nghị.............................................................................................................. 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 52
PHỤ LỤC.......................................................................................................... 55
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. CT1
1.1.
Tên bảng
Trang
Thành phần dinh dưỡng trong quả mướp đắng ............................... 3
2.1.
Vật liệu tham gia thí nghiệm đánh giá dòng và lai thử ..................... 22
3.1:
Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởngcủa 8 dòng giống mướp đắng
ưu tú trong vụ thu đông năm 2014 tại Gia Lâm – Hà Nội ........................ 31
3.2.
Chiều cao và số lá của các dòng mướp đắng ưu tú trong vụ thu đông
năm 2014 ................................................................................................ 33
3.3.
Đặc điểm quả của các dòng mướp đắng tư phối ưu tú trong thu đông
năm 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội ............................................................... 34
3.4.
Đặc điểm hình thái quả của các dòng mướp đắng tự phối ưu tú trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Số biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 1. Giá trị khả năng kết hợp riêng giữa các dòng bố mẹ ở tính trạng
số quả trên cây ...................................................................................... 49
Biểu đồ 2: Giá trị khả năng kết hợp riêng giữa các dòng bố mẹ ở tính trạng
năng suất thực thu ................................................................................. 49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Mướp đắng (Momordica charantia L.) hay còn gọi là khổ qua, thuộc họ
Bầu bí (Cucurbitaceae), là cây rau phổ biến ở châu Á và ở Việt Nam. Mướp
đắng là cây rau ăn quả quen thuộc được người dân miền Nam, miền Trung ưa
chuộng và người tiêu dùng miền Bắc cũng đã quen với vị đắng của loại rau này.
Mướp đắng cung cấp phần ăn được đạt trên 95%, trong quả mướp đắng chứa
trọngtrong tạo giống ưu thế lai về năng suất, chất lượng cũng như khả năng
chống chịu sâu bệnh hại. Nhằm đáp ứng yêu cầu của sản xuất, đề tài: “Đánh giá
sinh trưởng, phát triển của một số dòng và tổ hợp lai mướp đắng tại Gia Lâm Hà Nội” đã được thực hiện.
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
- Xác định các dòng mướp đắng tự phối ưu tú để sử dụng cho lai tạo giống.
- Xác định được tổ hợp lai mướp đắng có triển vọng về năng suất, chất
lượng và nhiễm bệnh hại thấp để phục vụ sản xuất.
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các dòng
mướp đắng tự phối triển vọng.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và
khả năng nhiễm một số bệnh hại chínhtrên đồng ruộng của các tổ hợp lai
mướp đắng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về cây mướp đắng
1.1.1 Giá trị dinh dưỡng của mướp đắng
Mướp đắng còn gọi là khổ qua, là một trong những cây rau ăn quả có giá
trị dinh dưỡng cao. Chính vì vậy, mướp đắng ngày càng được sử dụng trong các
bữa ăn gia đình phần ăn được của quả mướp đắng chiếm khoảng 95%. Trong
100g phần ăn được của quả có:
Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng trong quả mướp đắng
Thành phần dinh dưỡng
Chất xơ
0,8 – 1,7
6
Năng lượng
7
Ca
20 -23 mg
8
Fe
1,8 – 2 mg
9
P
38 – 70 mg
10
Vitamin C
Momordin, Oleanolic acid, Oleic acid, Oxalic acid, Peptides, Petroselinic acid,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Polypeptides, Rubixanthin, chất đạm, chất sợi, các sinh tố A, C, Folic acid... (
Trần Khắc Thi và Ngô Thị Hạnh, 2008 ).
Theo tài liệu của Viện Đại học Purdue vê các loại rau quả Á Châu hội
Nhập vào Mỹ (Willsetal 1984), thành phân dinh dưỡng tính bằng gam trong 100g
mướp đắng như sau: Phần ăn được 84 g, nư6c 93,8 g, Protein 0,9, Vitamin A
0,04 mg, Vitamin B1 0,05, Vitamin B2 2 0,03, Niacin 0,4, Vitamin C 50, Chât béo
0,1, Cacbohydrate 0,2, Calcium 22 mg, Potassium 260 mg, Magnesium 16 mg,
Sắt 0,9 mg. Hạt mướp đắng chứa 32% dầu với các acid béo stearic, linoleic,
oleic. Hạt cũng chứa nucleosid. Thành phân protein trong hạt dao động trong
khoảng 16,9% đến 19,7% và protein trong cùi dao động từ 6,6% đến 9,5%.
Thành phân protein có trong dung dịch chiết suất từ cùi 5,7% đến 10,3% và
thành phần protein trong dung dịch chiết suất từ hạt dao động từ 19% đến 22%.
Trong khi cùi có một thành phần độ ẩm tương ứng xấp xỉ 94%, hạt có thành phần
độ ẩm khác nhau phụ thuộc vào độ chín. Hiện tượng điện chuyển đã chỉ ra rằng,
protein trong hạt của ba loại mướp đắng có một thành phần khá đơn giản với bốn
dãy cơ bản ở khoảng 50, 48, 40 và 28 kDa. Những kết quả này chỉ ra rằng hạt
chứa chủ yếu thành phần protein của mướp đắng và hạt cũng chứa nhiều protein
hơn so với cùi.
Quả mướp đắng có thể làm salad, nước ép, hoặc chế biến thành nhiều món
ăn khác nhau. Lá và hạt cũng có thể dung để nấu. Mướp đắng có thể được dùng
thay thế các loại rau khác nhau trong các món ăn yêu thích của nhiều người.
Theo văn hóa châu Á, thịt quả màu trắng thường bị bỏ đi vì nó quá đắng. Ở Ấn
Độ, mướp đắng được dùng để xào với gia vị hoặc hầm trong món cari. Để giảm
vị đắng của quả, thái lát quả mướp đắng và ngâm trong nước me. Đài Loan,
A1C ở 6 bệnh nhân dùng 15g dịch chiết mướp đắng. Một thử nghiệm tại trường
Đại học Calcutta (Ấn Độ) như sau: 6 bệnh nhân tiểu đường loại II uống mỗi ngày
một lần 100ml nước sắc quả mướp đắng tươi. Sau 3 tuần, lượng đường huyết
giảm 54%. Sau 7 tuần đường huyết trở lại bình thường.
Các công trình nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã khẳng định được vai trò của khổ
qua có hiệu quả trong việc sửa chữa tế bào beta tuyến tụy (đây là tế bào đảm
nhận chính công việc sản xuất insulin - một nội tiết tố có vai trò quan trọng giúp
cân bằng lượng đường trong máu. Một yếu tố mà bệnh nhân đái tháo đường
thường khiếm khuyết, nó làm tăng nồng độ insulin trong máu và tăng cường độ
nhạy của insulin, cải thiện khả năng hấp thu glucose của tế bào và cản trở việc
tăng đường huyết bất thường do gan bài tiết. Vị đắng của khổ qua cũng có vai trò
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
kích thích đường ruột tiết ra một số chất ức chế sự hấp thu đường tại ruột, điều
này có ý nghĩa đối với những trường hợp bị tăng đường huyết sau ăn. Người bị
bệnh đái tháo đường thông thường sẽ kèm theo hội chứng rối loạn chuyển hóa,
điều này liên quan đến việc tăng cân, rối loạn mỡ máu và tăng huyết áp. Đây là
vấn đề quan trọng mà các nhà điều trị thường khuyên người bệnh chú ý đến vì nó
làm tăng nguy cơ dẫn đến các bệnh lý về tim mạch, do đó người bệnh cần phải
điều chỉnh chế độ tập luyện và ăn uống để khống chế sự tiến triển của bệnh đái
tháo đường, cũng như sự xuất hiện của một vài bệnh lý khác thường đi kèm. Một
số chất có trong mướp đắng cũng giúp ích cho người bệnh trong vấn đề này. Sử
dụng trà hay nước ép khổ qua hàng ngày có thể đạt hiệu quả trong việc giảm cân,
làm giảm các loại mỡ máu không có lợi, ổn định huyết áp và ngăn ngừa các bệnh
lý về tim mạch. Ngoài những tác dụng trên, người ta còn tìm thấy trong trái khổ
qua có chứa hàm lượng vitamin C phong phú thuộc loại hàng đầu trong các loại
Trong hạt mướp đắng chứa một hoạt chất đáng ngại là vicine (vi-xin), có
khả năng tạo ra nhiều men oxy hoá khử trên màng tế bào. Khi chất này được sinh
ra quá nhiều trên màng tế bào máu, nhất là tế bào hồng cầu sẽ gây hư hại, thậm
chí thủng màng tế bào. Điều này gián tiếp làm tan máu (còn gọi là huyết tán, nếu
kéo dài tủy xương không sản xuất kịp hồng cầu mới để bù đắp, cơ thể sẽ bị thiếu
máu) ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Trong các trường hợp điển hình, tất cả
các trẻ em bị thiếu hụt men G6PD di truyền không được sử dụng mướp đắng vì
có thể gây ra tình trạng tan máu cấp tính. Người ta đã chiết xuất ra từ hạt mướp
đắng hai chất “đắng” là alpha và beta momorcharin (có bản chất là các
glycoprotein). Hai chất này được chứng minh có độc với tế bào gan. Điều này
càng trở nên nhạy cảm hơn với trẻ em, lứa tuổi mà gan chưa đủ khả năng thanh
thải. Vì vậy, khi dùng mướp đắng phải nạo bỏ hết hạt bên trong. Những người
đang bị đợt cấp của viêm gan virus, viêm gan do rượu, viêm gan nhiễm mỡ
không nên sử dụng mướp đắng liều cao. Mặc dù chưa rõ cơ chế nhưng người ta
thấy mướp đắng có khả năng kích thích cơ trơn co mạnh; làm tăng co bóp của cơ
tử cung gây sảy thai. Nó cũng là một tác nhân làm chậm hoá quá trình cầm máu
sau đẻ. Vì vậy, phụ nữ có thai, bà mẹ sau sinh và đang cho con bú tuyệt đối
không nên “hạ nhiệt” bằng mướp đắng. Ngoài ra, thí nghiệm trên chuột cho thấy,
dùng mướp đắng liên tục liều cao thì có thể làm tổn thương tinh hoàn, ảnh hưởng
tới khả năng sinh sản. Tinh hoàn ít protein dưỡng chất hơn, ít tinh trùng hơn,
giảm acid nhân ARN hơn. Do vậy mà với những người đang điều trị vô sinh
không nên dùng mướp đắng (Lâm Yên Phúc, 2014).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Khả năng hạ đường huyết: Được nghiên cứu, chứng minh ở thú vật và
người. Thành phần tạo ra tính hạ đường trong mướp đắng gồm charantin,
Page 8
chất hạ đường huyết, nên dè dặt khi người bệnh đã có triệu chứng đường xuống
quá thấp. Mướp đắng có thể độc hại cho tế bào gan ở thú vật, enzym gan tăng cao
sau khi dùng mướp đắng. Các chất trong mướp đắng có khả năng thay đổi hình
dáng tế bào gan. Hạt mướp đắng chứa một chất tên vicine, là một độc tố có khả
năng gây ngộ độc tầm đậu (favism), một hội chứng cấp tính gồm nhức đầu, đau
thắt bụng và hôn mê. Ngay cả khi cây mướp đắng trồng ở những vùng thổ
nhưỡng khác nhau thì thành phần trong quả cũng có tỷ lệ và sự có mặt các vi chất
khác nhau. Do đó nếu cây trồng trên vùng đất có nhiễm kim loại nặng rất có thể
trong quả mướp đắng trồng tại vùng này bị nhiễm kim loại nặng mà gây độc cho
cơ thể khi chúng ta ăn nó. Khi dùng mướp đắng (ở mọi dạng chế biến), không
được dùng huyền sâm hoặc các chế phẩm có huyền sâm. Mướp đắng tính mát,
không nên dùng cho người tỳ vị hư hàn (rối loạn chức năng tiêu hóa do
lạnh)....(Hoàng Xuân Đại, 2013).
1.1.3 Một số món ăn ngon bổ dưỡng được chế biến từ mướp đắng
Quả mướp đắng có rất nhiều cách chê biên món ăn nhưng nhìn chung
món xào là chính, song ngoài ra còn có the hâm, nâu canh, ăn sông, muôi dưa
chua, dưa mặn hoặc sấy khô. Khi đời sống ngày càng được cải thiện, mướp đắng
dần được người tiêu dùng ưa thích bởi giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị dược
liệu của nó.
Một số món ăn bổ dưỡng được chế biến từ mướp đắng và có tác dụng tốt
cho sức khỏe và đặc biệt đối với những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường, bệnh
tim mạch và những bệnh nhân béo phì như:
- Mướp đắng xào trứng (Oliver, 2013)
- Canh mướp đắng nấu vải thiều (Linh thu, 2015)
- Mướp đắng nhồi thịt (Linh thu, 2015).
1.2.1 Nguồn gốc và phân loại của cây mướp đắng
Mướp đắng được trồng ở vùng nhiệt đới, bao gồm cả các bộ phận của
Amazon, phía đông châu Phi, châu Á và vùng biển Caribbean, và được trồng
khắp Nam Mỹ như là một thực phẩm và thuốc. Theo nghiên cứu của Gagnepain,
(1912) cho thấy mướp đắng có nguồn gốc ở Châu Á như ở Bắc Ấn Độ hoặc Nam
Trung Quốc bởi vì ở những vùng giáp ranh người ta tìm thấy quần thể hoang dại
hay quần thể tự nhiên của mướp đắng được đưa sang Châu Mỹ La Tinh thông
qua việc buôn bán trao đổi hàng hoá. Chúng mọc tự nhiên thành dạng cây cỏ ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ Brazin đến Đông Nam nước Mỹ.
Mướp đắng là một loại cây thanh mảnh, thân leo lá dài và cuống, hoa đơn
tính cùng gốc. Quả trông giống như một bầu nốt sần nhỏ, thường là hình chữ nhật
và tương tự như dưa chuột nhỏ.
Theo nghiên cứu của Jeffrey (1967) chỉ tính riêng ở Châu Phi đã có tới 23
loài. Các loài trồng trọt như Momorrdica charantia, hoặc Karela của Ấn Độ,
Momorrdica cochinchineses, mướp ngọt (Sweet gourd), hoặc Gol kakola của
Assa và NE States, Momordica dioica của vùng bộ lạc Bengal, Bihal và Orissa
và kartoli của tỉnh Maharashtra, ngoài ra Momordica balsamina (Balsam apple)
và Momordica cymbalaria (Syn. Momordica tuberosa)
Theo M.E.C. Reyes, B.H. Gildermach và C.J. Jansen (1993) Mướp đắng
(Momordica charantia L.) thuộc:
Họ (familia): Cucurbitaceae
Chi (genus): Momordica
Chi mướp đắng Momodica thuộc họ Cucurbitaceae có khoảng 45 loài
tập trung chủ yếu ở Châu Phi, một số loài ở Châu Mỹ, Châu Á chỉ có khoảng
5 – 7 loài.
Theo Phạm Hoàng Hổ (1991) chi Momordica ở Việt Nam có các loài sau:
Momordica charantia L.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Độ lại chỉ có hai giống vào mùa khô và mùa mưa.
Năm 1975 M. Keraudren công bố ở Campuchia, Lào và Việt Nam chỉ có 4
loài mướp đắng.
Theo Phạm Hoàng Hộ(1991) Momordica ở Việt Nam có 3 loài là
Momordica charatia L.; Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng, và
Momordica subangulata Blumem. Điều đáng lưu ý là các tác giả đều thống nhất
cây mướp đắng trồng ở Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực Đông
Nam Á phổ biến nhất là loài Momoradica charantia L.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Thanh và cộng sự (2001) cho thấy một
trong những đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt mướp đắng với các loài khác
cùng chi là lá bắc của mướp đăng dính ở phía gốc hoặc sát gốc cuống hoa, còn ở
các loài khác thì ngược lại.
Khi nghiên cứu về đặc tính nông sinh học của một số mẫu giống mướp đắng,
Lê Thị Tình(2008) phân 5 mẫu nghiên cứu lấy ở 5 nơi khác nhau (1.Gia Lâm –
Hà Nội;2. Đà Lạt – Lâm Đồng;3. Văn Giang – Hưng Yên;4. Thị Xã Cao Bằng –
Cao Bằng;5.Tân Phong – Phù Yên - Sơn La) thành 3 nhóm giống khác nhau là:
+ Nhóm giống thứ 1: quả to, dài màu trắng hoặc xanh nhạt, gai tù, vị đắng ít
(mẫu số 1,2,3)
+ Nhóm giống thứ 2; quả dài, hơi cong, màu xanh, gai nhọn, vị đắng nhiều,
thịt quả dày ( mẫu số 4).
+ Nhóm giống thứ 3: quả nhỏ, hơi tròn và hơi nhọn ở hai đầu, xanh nhạt, gai
tù vị đắng ít (mẫu số 5).
Theo nghiên cứu của B.H. Gildemacher and G. J Jansen ( 1993) cho thấy hiện nay
có 2 loại giống khác nhau của Momordica charantia thường được sử dụng đó là:
Lá mướp đắng mọc so le, cuống lá dài 3 – 5 cm, lá hình tim có xẻ thùy, xẻ
thùy nông hay sâu tùy thuộc vào đặc điểm của từng giống. Trên lá có long, nhất
là mặt dưới, Các tua cuốn không phân nhánh, vươn dài tới 20 cm.
Hoa đơn tính cùng gốc (monoecious), rất hiếm có hoa lưỡng tính. Hoa đực
và hoa cái mọc riêng lẻ ở kẽ lá, màu vàng, đường kính hoa: 1,5 – 2,0 cm. Hoa
đực có cuống dài 3 – 8 cm, có long; lá bắc hình thận, mép hơi có thuỳ nông, đính
ở khoảng 1/3 về phía gốc cuống hoa, lá bắc hình ô van, mặt ngoài có long; 5 cánh
hoa hình thìa, rời, mỏng có 5 -7 gân mờ, 3 nhị rời; bao phấn màu vàng đậm
thường dính nhau và vặn hình chữ “S”. Hoa cái có cuống dài 4 – 10 cm có long;
lá bắc xẻ thuỳ, đính sát gốc cuống hoa; đài và cánh hoa giống như ở hoa đực;
nhuỵ ngắn, đầu nguỵ gồm 3 khối màu vàng đậm, đính nhau ở dưới tạo thành hình
nón tù. Bầu hình thoi dài, có nhiều gai nhỏ, kích thước bầu (1,5 – 3,0) x (8 -20,0)
mm (Trần Khắc Thi và Ngô Thị Hạnh, 2008).
Quả mướp đắng có nhiều màu sắc khác nhau, quả non có màu trắng, xanh
nhạt tới xanh đậm, có nhiều hàng gờ phân bố dọc theo chiều dài quả, có các u
vấu phân bố rải rác khắp trên bề mặt vỏ quả. Quả có các hình thoi, hình trụ, hình
cầu nhọn hai đầu hoặc hình quả lê. Có một số giống thương mại có quả dài tới 25
cm, nhưng có giống hoang dại quả chỉ dài khoảng 5cm. Khi chín quả chuyển
sang màu vàng, da cam và nứt ra, thường quả mướp đắng chín từ đuôi quả và để
lộ ra màu đỏ chói.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Hạt mướp đắng có hình răng ngựa hay hơi giống hình con rùa, dẹt, thắt lại
đột ngột ở hai đầu. Vỏ hạt cứng, màu nâu vàng hay nâu nhạt, có nốt sần nhỏ và
các nếp nhăn ở cả 2 mặt, vùng giữa hạt nhẵn xung quanh là những răng tù. Kích
thước hạt thay đổi theo từng giống 4,0 – 8,0 mm x 6,0 – 13,0 mm x 1,5 -2,5 mm.
ngày sau gieo và sau đó giảm đi. Diện tích lá tăng nhanh trong giai đoạn từ 30 –
90 ngày sau gieo. Đây cũng là giai đoạn ảnh hưởng lớn tới khả năng tích luỹ chất
hữu cơ từ đó ảnh hưởng tới tiềm năng năng suất của cây. Nếu cây mướp đắng đạt
giá trị chỉ số diện tích lá ở mức độ tối ưu trong giai đoạn này thì có khả năng đạt
năng suất 40,66 tấn quả/ ha.
Trên thế giới nguồn gen Momodica đặt tại Ngân hàng quốc gia nguồn gen
thực vật (NBPGR) New Delhi, Ấn Độ. Tại Đông Nam Châu Á, các tập đoàn có
sẵn ở Philippin (NPGRL – 1 PB Los Bafios) và ở Thái Lan (Bộ môn làm vườn,
Đại học Kasersat, Bangkok). Ở một số nơi khác, tập đoàn công tác được lưu giữ
lại một vài Viện nghiên cứu ở Ấn Độ, Nam Phi, Đài Loan và Mỹ.
Trước đây trong tạo giống chủ yếu sử dụng các giống thụ phấn tự do (OP),
ngày nay các giống lai dần chiếm ưu thế, Ấn Độ đã thành công trong việc chọn
tạo một số tổ hợp lai mướp đắng ưu thế lai cao giữa dòng mướp đắng đơn tính
cái (DBGY – 201) với 8 dòng thuần khác, kết quả cho tổ hợp lai DBGY – 201 x
Pusa Vishes và DBGY 201 x Priya có khả năng ưu thế lai cao về giới tính, ngày
thu quả, trọng lượng, chiều dài, chiều rộng quả và năng suất quả.
H.L. Bhardwaj và cộng sự (2008) tiến hành nghiên cứu mùa vụ và các
điều kiện thời tiết ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mướp đắng tại
Virginia đã thu được kết quả ban đầu rất khả quan. Mướp đắng đòi hỏi trồng trên
đất thoát nước tốt, có độ ẩm đất cao (60 – 70%). Quả của cây này phát triển
nhanh chóng trong điều kiện thời tiết nóng và phải thu hoạch hằng ngày để giữ
quả không trở nên quá lớn (quả già có gía trị thương phẩm không cao). Quả
mướp đắng nhạy cảm với thương tích bên ngoài lớp vỏ và không nên lưu trữ
dưới 13oC. Quả mướp đắng sẽ tươi lâu hơn nên lưu giữ trong điều kiện ấm, khô.
Sự xuất hiện của các loại côn trùng và bệnh hại mướp đắng phụ thuộc vào
mùa vụ, thời tiết và điều kiện ngoại cảnh xung quanh. Đó là kết quả nghiên cứu
của M. Keraudren ở Philippines công bô năm 2008.( Keraudren M, 2008)
Các cây thuộc họ bầu bí đã được nghiên cứu cho thấy có sự biến động lớn
về các dòng hoa lưỡng tính đến đơn tính cùng gốc (Robinson và
nước. Ở các tỉnh miền Nam, mướp đắng là cây rau ăn quả rất phổ biến, trong
những năm gần đây mướp đắng cũng đã được phát triển và mang lại hiệu quả
kinh tế cao ở nhiều tỉnh phía Bắc như: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên, Bắc Giang, Hải Phòng, Hoà Bình… Theo số liệu thống kê của Trung
tâm Rau thế giới, diện tích mướp đắng của Việt Nam đạt 12.000 ha năm 2007
chiếm 46,40% diện tích của các cây bầu bí mướp (25.840 ha) (AVRDC, 2007).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16