Phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện đông anh, thành phố hà nội - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ THANH PHƯƠNG

THỊNH VINH

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ SỮA CỦA NÔNG HỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

2015
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

THỊNH VINH

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ SỮA CỦA NÔNG HỘ
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành

: Quản lý kinh tế

Mã số

: 60.34.04.10

viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc TS.Vũ Trọng Bình đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công
sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào
tạo, Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Nông nghiệp
Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND
huyện Đông Anh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi
hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Học viên

Thịnh Vinh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page iii


MỤC LỤC

Danh mục hình

ix

Danh mục hộp

ix

PHẦN I MỞ ĐẦU

1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2

1.2.1. Mục tiêu chung

2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

2

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


2.1.4. Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò sữa

11

2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi bò sữa

20

2.2. Cơ sở thực tiễn

23

2.2.1. Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa của một số nước trên thế giới

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

23

Page iv


2.2.2. Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam

24

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

32

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu


3.2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

47

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

48

4.1. Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện Đông Anh 48
4.1.1. Tổng quan chăn nuôi bò sữa tại huyện Đông Anh

48

4.1.2. Tình hình tiêu thụ sữa bò tại huyện Đông Anh

53

4.1.3. Tình hình sử dụng lao động trong chăn nuôi bò sữa tại Đông Anh

58

4.1.4. Thức ăn và dinh dưỡng trong chăn nuôi bò sữa

61

4.1.5. Chuồng trại trong chăn nuôi bò sữa

63



76

4.2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển chăn nuôi bò sữa tại
huyện Đông Anh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

78

Page v


4.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại
huyện Đông Anh trong thời gian tới (từ năm 2015 đến năm 2020)

80

4.3.1 Giải pháp về kỹ thuật

80

4.3.2. Nhóm giải pháp về chính sách:

84

4.3.3. Giải pháp về xã hội

87


BQ

Bình quân

CN-TTCN

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

CNBS

Chăn nuôi bò sữa

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

HTX

Hợp tác xã



Lao động

NN

Nông nghiệp

TM-DV


4.1.

Quy mô chăn nuôi ở nhóm hộ điều tra

49

4.2.

Cơ cấu giống bò trong nhóm hộ điều tra

52

4.3.

Quy định chất lượng sản phẩm sữa tươi và tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng sữa của nhà máy Vinamilk

56

4.4.

Tình hình tiêu thụ sữa Đông Anh qua các năm(2010 – 2014)

57

4.5.

Tình hình lao động huyện Đông Anh

58


4.11.

Tình hình xử lý chất thải trong chăn nuôi bò sữa của nhóm hộ điều tra. 71

4.12.

Tình hình lao động trong chăn nuôi bò sữa huyện Đông Anh

74

4.13.

Dự kiến vốn đầu tư trồng cỏ

85

4.14.

Dự kiến nhu cầu vốn để sản xuất thức ăn tinh

85

4.15.

Dự kiến kinh phí cho công tác lai tạo giống bò sữa

86

4.16.


Số lượng bò sữa giai đoạn 2010 – 2014

48

4.2.

Sản lượng sữa bò huyện Đông Anh năm 2010 – 2014

50

4.3.

Năng suất sữa theo chu kỳ (tấn)

51

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
4.1.

Tên sơ đồ

Kênh tiêu thụ sữa tươi của các hộ

Trang
54

DANH MỤC HÌNH
Số hình


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ix


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nước ta là một nước nông nghiệp, dân số Việt Nam sống dựa vào nông
nghiệp. Đặc biệt, trong những đợt suy thoái kinh tế (kể từ 2013 đến nay), nông
nghiệp thực sự trở thành bình phong trú ẩn cho nền kinh tế. Trong đó, chăn nuôi
được coi là một ngành sản xuất chủ yếu và quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Cùng với ngành trồng trọt, chăn nuôi đã cung cấp nhiều sản phẩm có giá
trị kinh tế cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đem lại nguồn
thu đáng kể, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước xây dựng đất nước.
Chăn nuôi bò sữa là một bộ phận có vị trí đặc biệt quan trọng của ngành
chăn nuôi. Bởi sữa là thực thẩm quý, giá trị dinh dưỡng cao, chứa các chất quan
trọng khác nhau đối với sự phát triển của cơ thể con người mà không có loại thực
phẩm nào có thể thay thế được.
Cùng với tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ của Thủ đô và đất nước, là một
huyện ngoại thành Hà Nội, Đông Anh cũng không nằm ngoài xu thế đó, đất nông
nghiệp đang ngày một thu hẹp nhường chỗ cho đất ở, hệ thống giao thông, các
khu đô thị mới, dẫn đến các tác động không nhỏ tới đời sống của nhân dân, nhất
là các hộ nông dân. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp khiến phần lớn người
dân không có trình độ phải thay đổi nghề để kiếm sống, nhưng cuộc sống rất bấp
bênh, thu nhập không ổn định. Vì vậy, giải pháp tạo công ăn việc làm ổn định tại
chỗ cho nhân dân là điều cần thiết. Huyện Đông Anh là vùng đất phù sa màu mỡ,
lại gần nhà máy sữa Hà Nội (Hà Nội Milk) có thể thu mua tất cả lượng sữa của
các hộ chăn nuôi, rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi bò sữa. Trong những năm

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của các nông hộ trên
địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian
Địa bàn nghiên cứu tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi về nội dung
- Nghiên cứu thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa của các nông hộ tại Đông
Anh, thành phố Hà Nội.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa của các nông hộ tại
huyện Đông Anh;
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của các
nông hộ tại Đông Anh, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi về thời gian
Từ năm 2010 đến năm 2015.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về phát triển
Phát triển là sự mở rộng sự lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc
sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người”. Bên cạnh
đó một khái niệm khác cho rằng phát triển với ý nghĩa rộng hơn, bao gồm cả
những thuộc tính quan trọng, có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó

thể lực và cải thiện nòi giống. (Đinh Văn Cải và cộng sự, 1995)
Ở những nước có điều kiện phát triển chăn nuôi bò sữa, việc cung cấp sữa
cho các khu công nghiệp, các thành phố là rất cần thiết để giảm lượng ngoại tệ
cần thiết để nhập khẩu sữa bột và bơ từ nước ngoài cho các nhà máy chế biến
sữa. Đồng thời, với lợi thế so sánh của mình, những nước đó là là nơi cung cấp
mặt hàng quan trọng này cho các quốc gia khác một cách hiệu quả.
Đối với Việt Nam ngoài những ý nghĩa trên , chăn nuôi bò sữa phát triển còn
góp phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và
thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiệu quả.
* Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn
Để phát triển bò sữa cần có hệ thống chuồng trại và các thiết bị cho chăn
nuôi, đặc biệt là con giống. Tất cả các yếu tố đều có giá trị rất lơn, ngoài các
khoản đầu tư ban đầu ra nó còn có các khoản đầu tư thường xuyên như: thức ăn,
điện, dụng cụ nhỏ, thú ý, phối giống... Vốn đầu tư ban đầu cho một con bò bắt
đầu khai thác cũng có thể lên đến 15-22 triệu đồng/con. Còn giống là bê thì 3
năm sau mới cho sữa và giá trị mỗi con bê từ 3-4 triệu động một con bê cái. Với
số vốn bỏ ra lớn như vậy nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc phát triển theo
quy mô. Vì vậy phát triển chăn nuôi bò sữa trong nông hộ không thể làm ồ ạt mà
phải chọn những hộ có khả năng kinh tế nhất định đủ đáp ứng yêu cầu trên làm
nòng cốt. Trong việc cho vay vốn chăn nuôi cũng tránh cho vay dàn trải, nên tập
chung cho một số hộ có khả năng chăn nuôi đủ để hộ mua giống và thức ăn, thời
gian vay cũng nên dài hơn ít nhất là 3 năm để họ có điều kiện trả nợ. (Đinh Văn
Cải và cộng sự, 1995)
* Tận dụng phế phẩm nông nghiệp vào chăn nuôi bò sữa
Cũng như các ngành khác của sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi bò sữa có
thể tận dụng được những phế phẩm của gia đình sản xuất ra như cám ngô, bã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


* Đặc điểm đặc biệt của ngành chăn nuôi bò sữa là vừa sinh sản vừa
cho sữa
Vì lý do kinh tế, người ta thường cho bò phối ngay sau khi có hiện tượng
động dục trở lại (thường sau khi đẻ từ 2-3 tháng). Nếu phối giống có kết quả thì
hơn 9 tháng sau ta lại có lứa đẻ mới. Trong quá trình này, bò mẹ vừa mang thai
vừa cho sữa. Vì vậy, trước khi đẻ khoảng 2 tháng cần cho bò cạn sữa để vừa đảm
bảo cho bò mẹ có thể lực tốt, vừa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt và không
ảnh hưởng đến chu kỳ sau. Năng suất sữa thường tăng dần sau khi bò đẻ và đạt
cao nhất vào tháng thứ hai hoặc tháng thứ ba, sau đó lại cạn dần đến tháng thứ
mười thì cạn sữa, còn chu kỳ cho sữa cao nhất của bò là chu kỳ thứ ba hoặc thứ
tư, sau đó lại giảm dần, sau từ 6-8 chu kỳ (từ 8-10 năm) khả năng cho sữa cũng
giảm đi, lúc đó bò cần phải loại thải mới có hiệu quả. (Viện Chăn nuôi Quốc gia,
2000)
Để phát triển chăn nuôi bò sữa trong các hộ gia đình, ngoài việc tổ chức
tập huấn các vấn đề cơ bản cho người chăn nuôi để khai thác có hiệu quả đặc
điểm trên còn cần tổ chức công tác dịch vụ về thú y, về thụ tinh nhân tạo...
* Sản phẩm chính của chăn nuôi bò sữa yêu cầu vệ sinh chặt chẽ
Sữa là môi trường cực kỳ lý tưởng của các vi sinh vật. Ngay cả khi tuân
thủ tất cả các biện pháp vệ sinh, sữa vẫn chứa một lượng lớn tế bào và các vi sinh
vật. Các vi sinh vật trong sữa thường là các loại nấm và các vi khuẩn. Khi gặp môi
trường bất lợi, các vi sinh vật chuyển thành các bào tử có sức đề kháng rất lớn, có
thể tồn tại ở nhiệt độ 100oC trong nhiều phút. Gặp điều kiện thuận lợi, chúng liên tục
nhân đôi trong vòng 15-20 phút sau. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2000)
* Ngành chăn nuôi bò sữa là ngành kinh tế sản xuất hàng hoá

đã chỉ rõ:
Điều 1: Phát triển chăn nuôi bò sữa nhằm đáp ững nhu cầu tiêu dùng trong
nước từng bước thay thế sữa nhập khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông
dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn Đến năm
2010 đạt 100 nghìn bò sữa, đáp ứng 20% lượng sữa tiêu dùng trong nước, đến
năm 2010 đáp ứng trên 40% lượng sữa tiêu dùng. Sau những năm 2010 đạt 1,0
triệu tấn sữa.
Điều 2: Phát triển chăn nuôi bò sữa phải gắn với cơ sở chế biến sữa với
vùng chuyên canh tập trung nguyên liệu cho công nghiệp chế biến được tổ chức
chặt chẽ như: Mía đường, dứa, cao su, cà phê, chè…Và phát triển đồng cỏ ở nơi
có điều kiện về đất đai, lao động, khí hậu phù hợp, đảm bảo môi trường sinh thái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


và vệ sinh môi trường. Cụ thể là: các phía Bắc: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,
Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Sơn La và
các huyện ngoại thành Hà Nội. Các huyện trung du thuộc vùng duyên hải miền
Trung: Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Phú Yên… Các phía
Nam: Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Cần Thơ, An
Giang và các huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh. Các tỉnh Tây Nguyên: Lâm
Đồng, Đắc Lăk, Gia Lai, Kon Tum. Chăn nuôi bò sữa ở gia đình thông qua việc
xây dựng hợp tác xã sản xuất sữa ở nông thôn thường đem lại những lợi ích sau:
Nhà nước không phải đầu tư nhiều vốn như đối với chăn nuôi tập trung.
Ví dụ đầu tư cho những nông trường chăn nuôi hàng ngàn bò sữa;
Gia đình sử dụng được sức lao động phụ và tận dụng được phụ phế phẩm
trong nông nghiệp;
Động viên được các thành phần kinh tế (còn tồn tại trong thời kỳ quá độ
lên XHCN) như kinh tế tập thể trong đó có nòng cốt là HTX, kinh tế cá thể, tiểu

2.1.3.1. Đặc điểm chung
Con bò sữa ví như một cái máy sinh vật để sản xuất ra sữa. Nó dùng
nguyên liệu (thức ăn, uống nước…) để chế biến thành sữa thông qua các hệ
thống rất tinh xảo. Đã là máy thì các bộ phận phải tốt và thích hợp cho việc sản
xuất sữa, các bộ phận này lộ ra ngoài (ngoại hình) để phản ánh lên những bộ
phận bên trong (thể chất). Vậy con bò sữa tốt phải có những đặc điểm chủ yếu
như sau:
Nhìn toàn thể: Là một hình thể cân đối (đầu, cổ, thân và 4 chân) theo một
tỷ lệ nhất định. Kết hợp các bộ phận chặt chẽ, khoẻ mạnh, có hướng thiên về
ngoại hình bò hướng sữa (hình nêm).
Nhìn chi tiết từng bộ phận: Đầu cổ kết hợp chặt chẽ, ngực sâu rộng, lưng
thẳng, 4 chân thẳng, cân đối, mông úp, bụng to vừa phải, mông hông rộng, khấu
đuôi to, đuôi dài, bầu vú to, 4 vú đều, khoảng cách 4 vú rộng. Bầu vú nhìn phía
sau của bò tơ nhiều nếp nhăn, tĩnh mạch vú nổi rõ, ngoằn nghoèo, không có lông
ở vú, khoáy thông thường ở vào 1/3 từ u vai tới hông là tốt nhất. Khoáy càng tụt
về phía sau bò càng thưa đẻ. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 1995)
Phân biệt, chọn lọc con F1, F2:
+ Con lai F1: Nếu bò mẹ là lai Sind hoặc Sind thuần, bố là HF (giống Hà
Lan thuần), con sinh ra thường có ngoại hình: tai nhỏ, trán dô, mõm dài, sừng hơi
cong, có chấm trắng ở trán, đốm trắng ở đuôi chân hoặc bụng, vai phẳng (không
có u vai), mông dốc, có rốn. Nếu con bò mẹ dùng để lai là con bò vàng Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


thì con sinh ra khác với con mẹ lai Sind là: Toàn thân mình tròn, chân nhỏ, đầu
thanh, mặt lõm, mồm ngắn.
+ Con lai F2 3/4 thường có màu lông loang màu đen trắng hoặc lang trắng
vàng, toàn thân thô kệch hơn con F1, đầu thô, mông ít dốc, không có rốn, tai nhỏ,


- Bò lai hướng sữa:
+ Bò sữa F1 ( 1/2 máu HF): Bò lai F1 là kết quả lai đồi 1 giữa bò đực
Holstein Friensian với bò cái lai Sind. Bò lai F1 chịu đựng tương đối tốt điều
kiện nóng ẩm, ít bệnh tật, thành thục sinh dục sớm và mắn đẻ. Hầu hết bò lai F1
có màu lông đen, có con có vết lang trắng rất nhỏ ở dưới bụng, bốn chân, khấu
đuôi, lưng hoặc sướn hoặc trán. Động đực lúc 17-18 tháng tuổi, khối lượng cơ
thể con cái 380-450kg, bê sơ sinh 25-30kg, sản lượng sữa 2.500-3.000kg/chu kỳ.
Tỷ lệ mỡ sữa 3,8-4,2%.
+ Bò sữa F2 (3/4 máu HF): Bò lai F2 được tạo ra bằng cách cho lai tiếp bo
lai F1 với bò đực Holstein Friensian Bò lai F2 có màu lông lang trắng đen (gần
giống bò HF), động dục lần đầu lúc 13-18 tháng tuổi.
Khối lượng cơ thể khi trưởng thành con cái 400-500kg, bê sơ sinh 30-35kg.
Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, sản lượng sữa đạt trên 3000kg, tỷ lệ mỡ sữa 3,2-3,8%.
+ Bò sữa F3 (7/8 máu HF ): Được tạo ra bằng cách cho lai bò F2 với bò
đực ( HF ). Bò F3 có màu lông lang trắng đen. Bê sơ sinh có trọng lượng khoảng
30-35kg, bò cái trưởng thành có trọng lượng trung bình là 360-380kg. Trong điều
kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt năng suất sữa đạt 3.000- 4.500kg/chu kỳ (300-350
ngay), tỷ lệ mỡ đạt 3,2-3,8%. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 1995)
2.1.4. Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò sữa
2.1.4.1. Về tăng trưởng đàn bò sữa
Nghiên cứu tình hình phát triển đàn bò sữa về số lượng và chất lượng, số lượng
đàn bò là yếu tố đánh giá sự phát triển lớn nhỏ của, tăng giảm trong chăn nuôi.
Quy mô đàn bò sữa đánh giá bước phát triển nhanh chậm, bởi lẽ khi quy
mô đàn bò sữa tăng chỉ ra một thực tế rằng giá trị kinh tế nói cụ thể là lợi nhuân
được đẩy lên cao thì người chăn nuôi sản xuất mới sẵn sàng tăng quy mô để đẩy
mạnh sản lượng sữa. Ngược lại nếu số lượng đàn bò có dấu hiệu giảm chỉ ra rằng
người chăn nuôi sản xuất không muốn phát triển đàn bò mà thậm trí chuyển đổi
sang hướng chăn nuôi khác.
Sự khác biệt về quy mô, số lượng đàn bò là yếu tố chỉ ra sự phát triển, sự

đó yếu tố giống, chế độ chăm sóc là 2 thành tố quan trọng hàng đầu.
Sự thay đổi chế đố chăm sóc ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sản xuất ra
sữa của bò, khi có chế độ chăm sóc phù hợp công với giống tốt phù hợp với điều
kiện tự nhiên của vùng thì điều tất nhiên là năng suất sữa sẽ cao; còn ngược lại khi
không có giống phù hợp với điều kiện môi trường cộng với chế độ chăm sóc
không tốt thì năng suất sữa sẽ rất thấp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


Dù có chế độ chăm sóc tốt mà giống không đảm bảo phù hợp với môi
trường thì năng suất cũng không cao.
Nói chung yếu tố năng suất là yếu tố giúp đánh giá sự phù hợp của giống,
sự chính xác, sự khác biệt trong chế độ chăm sóc.
Căn cứ vào năng suất sữa để xác định có nên tiếp tục phát triển đàn bò đó
hay thay đổi bằng giống khác phù hợp hơn.
Cơ cấu giống bò của một vùng căn cứ vào sự phù hợp, sự thích nghi. Để duy
trì năng suất sữa đòi hỏi người nuôi có nhiều kinh nghiệm, và yếu tố nữa là cần có
chế độ giống kế cận để thay thế các thế hệ bò sữa đã già, qua thời kỳ cho năng
suất cao nhất.
Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về con giống, chuồng trại,
thiết bị và thức ăn chăn nuôi có chất lượng cao. Việc đào tạo tập huấn kỹ thuật
cho các hộ chăn nuôi, các chủ trang trại, các cán bộ kỹ thuật... là rất quan trọng
và thường tập trung vào các vấn đề liên quan đến chọn giống, lai tạo giống, kỹ
thuật chăn nuôi, bảo quản và chế biến thức ăn, phòng bệnh... cũng như nghiệp vụ
quản lý kinh tế trang trại để các hộ chăn nuôi, các chủ trang trại, các cán bộ kỹ
thuật nắm vững kỹ thuật áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, hạ giá
thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong chăn nuôi. (Đinh Văn Cải và cộng sự, 1995)
2.1.4.4. Tình hình tiêu thụ sữa bò

Sự có mặt của các đơn vị nhà máy, đơn vị tiêu thụ sữa trên địa bàn khu vực
chăn nuôi bò ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình tiêu thụ sữa của các hộ chăn nuôi.
Sữa là yếu tố chịu sự cạnh tranh cao trên thị trường, không chỉ sữa trong nước
mà cả sữa nhập ngoại. Do đó, tình hình tiêu thụ sữa khá phức tạp.
Trong các năm, các thời điểm khác nhau lượng sữa tiêu thụ với các mức
giá khác nhau, sự nhanh chậm cũng khác nhau.
Có sự cạnh tranh giữa các đơn vị nhà máy tiêu thụ sữa thì giá sữa sẽ được
đẩy lên, đồng nghĩa với việc lượng sữa tiêu thụ sẽ nhanh hơn.
Nền kinh tế thị trường sản xuất phải song hành với tiêu thụ được sản phẩm.
Sản phẩm phải có uy tín, được người tiêu dùng chấp thuận. Để có được điều đó thì
phải làm tốt công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm và để phát
triển chăn nuôi theo vùng, xây dựng uy tín và hình ảnh sản phẩm. Do đó vấn đề đặt ra
đối với mỗi địa phương là cần phải xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm của
mình, để sản phẩm sản xuất ra luôn có chỗ đứng trên thị trường, tránh các biến động
thị trường gây ra. (Phạm Thị Minh Nguyệt, 1998)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


2.1.4.5. Vấn đề lao động trong chăn nuôi bò sữa
Lao động là yếu tố không thể thiếu trong mọi lĩnh vực. Nhất là trong nông
nghiệp và chăn nuôi cũng không ngoại lệ. Địa bàn khu vực nông thôn lực lượng
lao động nông nghiệp luôn rất dồi dào.
Chăn nuôi bò sữa là lĩnh vực không đòi hỏi quá nhiều lao động, tuy nhiên
lao động phải am hiểu và có kinh nghiệm mới phát triển ổn định và cho năng suất
cũng như thu nhập cao nhất.
Sự am hiểu của các hộ chăn nuôi sẽ là yếu tố quan trọng để phát triển số
lượng đàn bò ở khu vực đó. Hiện nay, yếu tố khó khăn đối với người chăn nuôi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status