PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO QUẬN 10
TRƯỜNG TIỂU TRẦN QUANG CƠ
********************
DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
TỰ GIÁC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Năm học: 2014- 2015
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Dạy học phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh
1
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn
vinh của đất nước.Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức
của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần
thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và
bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh(HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học,
đây là bậc học mang tính chất nền móng để các em học tiếp các bậc học cao
hơn.
Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy
chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp dạy tối ưu nhất, phù hợp với phương
pháp đổi mới, phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học. Song để đi đến
thành công GD đòi hỏi mọi người phải biết và không ngừng nổ lực phấn đấu,
sáng tạo, đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của
mình. Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa mang tính nghệ thuật. Do đó
Đảng và Nhà nước ta đã ghi rõ ở Nghị quyết TW II là “Nâng cao chất lượng
toàn diện ở Tiểu học”. Bộ GD đã đề ra yêu cầu của việc dạy học hiện đại là tăng
mình , tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn
luyện rất ít, điều kiện học tập có rất nhiều thuận lợi .
Các em chưa xác định được tầm quan trọng của việc học nên không ham
học. Là một người đứng trong ngành nghề dạy học tôi luôn bâng khuâng là làm
thế nào để phát huy tính tích cực , chủ động, tự giác của học sinh trong học tập.
Đây là một vấn đề nóng bỏng cần phải thực hiện nhanh và đúng cách để những
thế hệ do chúng ta đào tạo là những người làm chủ tương lai, đất nước, biết xây
dựng quê hương và đưa trình độ hiểu biết của toàn dân đi lên sánh được với các
nước phát triển trên thế giới. Qua đổi mới các phương pháp dạy học sẽ giúp các
em học sinh mạnh dạn, tự tin hơn trước đám đông, biết cách tự đánh giá việc
học của mình cũng như biết đánh giá kết quả học tập của các bạn khác. Từ đó
các em có tính chủ động hơn trong học tập và biết phấn đấu thi đua nhau để việc
học có kết quả cao hơn.
3
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.Phương pháp quan sát:
Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát
hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt...Để phát huy
tính tích cực, tự giác của học sinh.
2.phương pháp thực nghiệm:
Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh,
những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó
nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức
quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.
3.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu
sót và những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của
V.NỘI DUNG:
1.Tình trạng của vấn đề đặt ra và sự cần thiết để tiến hành thực hiện đề
a.Tình trạng chung: Hiện nay trình độ dân trí của nước ta nói chung và
dân trí ở các vùng nông thôn và miền núi nói riêng đang còn rất thấp so với các
nước phát triển và đang phát triển trên thế giới.Vậy làm thế nào để giải quyết
vấn đề đó? Để nâng cao trình độ nhận thức của người dân thì những người đứng
trong ngành giáo dục phải có trách nhiệm khá nặng nề, mà muốn giải quyết
được vấn đề thì đòi hỏi phải đổi mới chương trình SGK, đổi mới PPDH cũng
như hình thức tổ chức dạy học để phù hợp với đối tượng, phù hợp với sự phát
triển của xã hội
b.Tình hình địa phương: Phường 4 quận 10 là một phường có các điều
kiện khá thuận tiện so với một số phường khác trong quận Song trình độ dân trí
ở đây còn thấp, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, sự quan tâm đến việc
học tập của con em trên địa bàn của một số gia đình còn nhiều hạn chế
2.Tính thuyết phục của đề tài:
Trong tình hình hiện nay, việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm nó đòi
hỏi ở học sinh một yêu cầu cao là học sinh phải độc lập, tự giác,sáng tạo trong
học tập. Qúa trình dạy học này gồm hai mặt quan hệ hữu cơ với nhau: Hoạt
động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Người giáo viên là chủ
thể của hoạt động dạy với hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức. Điều
5
cần chú ý trong học tập là phải hoạt động một cách tích cực chủ động có nhận
thức sâu sắc. Bằng hoạt động học tập học sinh tự hình thành và phát triển nhân
cách của mình không ai có thể làm thay được.
Như vậy, dạy học phải xây dựng trên nhu cầu hứng thú, thói quen, năng lực
của học sinh ở các trình độ khác nhau nhằm làm cho học sinh lĩnh hội được
những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ giá trị cần thiết, phát huy được đầy đủ
năng lực của các em.Vai trò của giáo viên là truyền đạt tri thức, là người hướng
trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau để phát
huy tính tích cực, tự giác,độc lập của học sinh trong học tập,cụ thể là:
1.Phương pháp thuyết minh.
9.Phương pháp trò chơi học tập.
2.Phương pháp đàm thoại.
11.Phương pháp quan sát.
3.Phương pháp thảo luận.
12.Phương pháp giải quyết vấn đề.
4.Phương pháp hỏi đáp.
13.Phương pháp khảo sát điều tra.
5.Phương pháp tìm tòi.
14.Phương pháp thực hành luyện tập.
6.Phương pháp kể chuyện.
7.Phương pháp động não.
8.Phương pháp đóng vai.
Việc đổi mới PPDH tất yếu phải đổi mới hình thức tổ chức dạy học để tạo
một sự tương ứng cần thiết. Sự đa dạng của phương pháp dạy học trong sự phối
hợp của chúng, đòi hỏi phải có một số hình thức tổ chức dạy học thích hợp. Mỗi
hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực phát triển học sinh một khía
cạnh nào đó. Vì vậy, chúng ta cần phải biết kết hợp nhiều hình thức tổ chức để
hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động
nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng
không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào những
lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.
* Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự
nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho
học sinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường
8
hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu
tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tai
nghe...Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể. Mặt khác
bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau.
Các em thực hành trồng cây
* Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện
trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhà
bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông ,hồ, thác nước...
Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học
sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp
nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với bài học
HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng
hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.
9
Các em tham quan học tập ngoại khóa
* Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong
lớn trong việc dạy học.Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình
học tập thêm sinh động mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho
các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng ẩn sau các hình thức và những biểu
hiện bề ngoài, kích thích ham hiểu biết của học sinh.
- Cải tiến công tác tự học. Công tác tự học giữ vai trò lớn lao trong việc
nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và tiếp thu
kiến thức mới, không phải vô cớ mà trong giáo dục học coi trọng sự nghiên cứu
của cơ sở lí luận DH của việc tổ chức công tác tự học của học sinh.
- Ngoài 4 nội dung trên, thái độ ngôn ngữ truyền đạt, tình cảm quan hệ giữa
GV và HS cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Do đó đòi hỏi người GV phải là
người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.
4. Cách giải quyết có hiệu quả:
a. Đối với việc học ở nhà:
- Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể
gắn liền với thời gian cụ thể.
- Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các em cho
phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết hợp với cha mẹ
học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.
11
- Thường xuyên liên lạc với gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá
biệt,
những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường
xuyên giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm.
- Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau)
b.Đối với việc học ở lớp:
- Mượn thư viện của trường: Sách,đồ dùng học tập cho những học sinh còn
thiếu.
- Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức
- Tạo hứng thú cho các em bằng cách:Tổ chức thi giải toán nhanh; đố vui
để học hoặc trò chơi học tập; thi điền đúng điền nhanh kết quả giữa các cá nhân ,
giữa các tổ, nhóm...Sau đó cho học sinh cả lớp nhận xét, đánh giá, GV bổ sung
và tuyên dương,
*Đối với môn tiếng việt:
- Khi hướng dẫn học sinh trả lời bài cũ: Yêu cầu học sinh đọc bài và trả
lời câu hỏi ngắn gọn, đúng nội dung và đảm bảo kiến thức trọng tâm, mức độ
hoàn thành từ 50% trở lên.
- Khi hướng dẫn HS học bài mới ở nhà, GV yêu cầu:
+ Đối với phân môn tập đọc: Yêu cầu HS đọc bài trước, tìm hiểu kĩ cách
đọc, tập đọc diễn cảm và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa vào vở nháp.
+ Đối với phân môn chính tả: Yêu cầu học sinh đọc trước bài cần viết, tập
chép bài đó vào vở ở nhà.
+ Đối với phân môn Tập làm văn: Yêu cầu HS đọc đọc phần nhận xét và
trả lời các câu hỏi để tự rút ra bài học và áp dụng bài học đó để viết đoạn văn
ngắn được tốt hơn, diễn đạt hay hơn , chú ý hơn ở những điểm thực tế của sự vật
đang tả nhằm làm cho bài văn sinh động hơn .
+ Đối với phân môn Luyện từ và câu: Yêu cầu HS đọc đọc phần nhận xét
và trả lời các câu hỏi để tự rút ra bài học và áp dụng bài học đó để làm các bài
tập phần luyện tập.
- Khi dạy bài mới: GV sử dụng triệt để các ĐDDH có liên quan đến bài
học, sử dụng phương pháp: Trực quan; đàm thoại; giảng giải; hỏi đáp; thực
hành; phân tích; tổng hợp; tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm và hoạt động
sắm vai...
13
- Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai
giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông hơn. Từ đó
tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì giúp các em biết vận
( Áp dụng nhận xét theo thông tư 30 của Bộ Giáo dục )
- 100 % HS hoàn thành yêu cầu tất cả môn học .
- 100 % HS đạt về mặc Phẩm chất.
- 80 % HS tham gia học tập ngoại khóa.
Cả lớp cùng vui ở cuối học kỳ I
VI. PHẦN TỔNG KẾT:
1. Bài học kinh nghiệm:
Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là
những giờ lên lớp giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ
ích.
Dạy học vừa mang tính khoa học , vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy
học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước.
Đòi hỏi người GV phải nổ lực ,sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để
nâng cao hiệu quả giảng dạy. Nhằm thực hiện tốt chủ trương của ngành Giáo
dục : “Môi trường thân thiện ; Học sinh tích cực”.
a.Về công tác giảng dạy:
Muốn nâng cao hiệu quả và học tập hứng thú trong quá trình giảng dạy, đòi
hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học, hệ thống câu hỏi:
- Thâm nhập kĩ giáo án, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .
15
- Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.
- Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiểu quả.
- Sử dụng tốt các câu chuyển ý, chuyển đoạn, tạo ra sự liên kết chặt chẽ,lô
gic của bài dạy.
- Sử dụng tối đa DDDH và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng môn
học.
- GV phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội.
GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng
đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.
2.Kiến nghị đề xuất
a. Đối với nhà trường:
- Nên duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy
học( tiết chuyên đề toàn giáo viên toàn trường cùng dự để học hỏi trau dồi kinh
nghiệm trong giảng dạy)
- Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.
- Có thêm nhiều sách tham khảo.
b.Đối với địa phương, gia đình:
- Phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên đi học muộn,
phối hợp với gia đình đối với những trẻ chưa có thái độ học tập tốt hoặc có
những hành vi đạo đức chưa tốt với bạn bè và mọi người xung quanh, nhằm uốn
nắn cho các em có những hành vi , thói quen tốt.
- Gia đình phải chú trọng quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều
hơn.
- Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.
- Cần mua sắm và kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ
trước khi đến lớp.
KẾT LUẬN :
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã sử dụng một số biện pháp trên để nhằm
giúp cho học lĩnh hội kiến thúc một cách tốt nhất và biết áp dụng những kiến
thức ấy vào các bài tập cụ thể hoặc vào điều kiên thực tế của cuộc sống, có
những kỹ năng ứng xử phù hợp với từng tình huống, qua đó thấy được sự trưởng
thành của các em hơn.
17
Tuy bản thân có nhiều cố gắng sử dụng tất cả các phương pháp dạy học để
giảng dạy cho học sinh nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót. Kính mong