ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN TÂM
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN HỮU CƠ
SINH HỌC SẢN XUẤT TỪ PHẾ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
VÀ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI TỚI SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT LÚA TẠI XÃ CỐC SAN,
HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Văn Minh
THÁI NGUYÊN - 2011
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được sử dụng được bảo vệ một học vị nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này, đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Người viết cam đoan
Nguyễn Văn Tâm
2.1. Mục tiêu tổng thể .......................................................................................... 2
2.2. Mục tiêu cụ thể ............................................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ............................................................................. 2
3.1. Ý Nghĩa khoa học ......................................................................................... 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn........................................................................................... 3
4. Những đóng góp mới của đề tài .......................................................................... 3
Phần 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................... 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ................................................................................. 4
1.1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 4
1.1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................... 5
1.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trong nước và trên thế giới....................... 5
1.2.1. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trên thế giới ....................................... 5
1.2.1.1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu gạo trên thế giới ................ 5
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới ................................................ 9
1.2.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa ở Việt Nam ...................................... 12
1.2.2.1. Tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam............................. 12
1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất lúa ở Việt Nam ............................................................. 14
1.3. Tình hình nghiên cứu, sử dụng phân bón hữu cơ sinh học và vi sinh
trong nước và trên thế giới ............................................................................. 17
1.3.1. Phân loại phân hữu cơ và vai trò của vi sinh vật đất trong hệ sinh
thái nông nghiệp bền vững ...................................................................... 17
1.3.1.1. Phân loại phân hữu cơ ....................................................................... 17
1.3.1.2. Vai trò vi sinh vật đất trong hệ sinh thái nông nghiệp bền vững ............ 17
1.3.2. Tình hình nghiên cứu, sử dụng phân bón vi sinh trên thế giới ................ 24
iv
1.3.3. Tình hình nghiên cứu, sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh ở Việt Nam......... 28
v
3.1.1. Trình độ nhận thức của người dân về vấn đề ủ phân hữu cơ từ rác
thải hữu cơ sinh hoạt và phế phụ phẩm nông nghiệp .............................. 47
3.1.2. Hiện trạng thu gom, sử dụng phế phụ phẩm sau thu hoạch sản xuất
nông nghiệp của các hộ được điều tra ..................................................... 48
3.1.3. Hiện trạng sử dụng phân bón tại các hộ điều tra ..................................... 49
3.2. Kết quả nghiên cứu xử lý phế phụ phẩm phẩm nông nghiệp thành
phân hữu cơ .................................................................................................... 50
3.2.1. Diễn biến nhiệt độ của các đống ủ trong quá trình ủ ............................... 50
3.2.2. Diễn biến thể tích và trọng lượng đống ủ trong quá trình ủ ................ 51
3.2.3. Khả năng phân huỷ của chế phẩm vi sinh ............................................... 51
3.2.4. Thành phần các chất dinh dưỡng trong sản phẩm phân bón được
chế biến từ phế phụ phẩm nông nghiệp. .................................................. 52
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của giống lúa CTA 88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh
Lào Cai ........................................................................................................... 52
3.3.1. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của giống
lúa CTA 88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ....................... 52
3.3.2. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chiều cao cây của giống lúa
CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai .............................. 54
3.3.3. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa
CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai .............................. 55
3.3.4. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chỉ số diện tích lá của giống lúa
CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai .............................. 56
3.3.5. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến khả năng tích luỹ vật chất khô
của giống lúa CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ....... 59
3.3.6. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến khả năng chống chịu sâu bệnh và
khả năng chống đổ của giống lúa CTA88 tại xã Cốc San, huyện
Bát Xát, tỉnh Lào Cai ............................................................................... 61
Hệ số biến động
ĐNHH
:
Đẻ nhánh hữu hiệu
LAI
:
Chỉ số diện tích lá
LSD
:
Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
:
Bảng 1.5. Sản xuất phân bón vi sinh vật ở Thái Lan ...................................... 26
Bảng 1.6. Các loại phân vi sinh vật ở Ấn Độ.................................................. 26
Bảng 1.7. Hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh đối với lúa ở một số quốc gia .. 27
Bảng 1.8. Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật cố định nitơ hội sinh đối với
một số cây trồng .............................................................................. 32
Bảng 1.9. Khả năng tiết kiệm đạm khoáng của phân vi sinh vật cố định nitơ ... 33
Bảng 1.10: Hiện trạng của một số nhà máy chế biến phân compost tập
trung ở Việt Nam ............................................................................ 35
Bảng 3.1: Nhận thức của cộng đồng về vấn đề ủ phân hữu cơ....................... 48
Bảng 3.2: Hiện trạng thu gom, sử dụng phế phụ phẩm sau thu hoạch sản
xuất nông nghiệp ............................................................................. 48
Bảng 3.3: Lượng phân bón sử dụng của 90 hộ điều tra tại xã Cốc San, huyện
Bát Xát, tỉnh Lào Cai ....................................................................... 49
Bảng 3.4: Diễn biến nhiệt độ của các đống ủ trong quá trình ủ...................... 50
Bảng 3.5: Diễn biến thể tích và trọng lượng đống ủ trong quá trình ủ........ 51
Bảng 3.6: Khả năng phân huỷ rác thải hữu cơ và phế phụ phẩm nông
nghiệp của các chủng VSV tính theo trọng lượng .......................... 51
Bảng 3.7: Chất lượng của các sản phẩm phân bón hữu cơ ............................. 52
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi đến thời gian sinh trưởng của
giống lúa CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. .... 53
ix
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chiều cao cây của giống lúa
CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ..................... 54
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến khả năng đẻ nhánh của giống
lúa CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ............... 55
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chỉ số diện tích lá (LAI) của
giống lúa CTA88 tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai ..... 57
chung và trong sản xuất lúa nói riêng. Nếu xử lý tốt, chúng ta có thể thu được một
lượng lớn phân hữu cơ từ các phế phụ phẩm nông nghiệp và rác thải. Tuy nhiên,
hiện nay đa số người nông dân thường nghĩ phế phụ phẩm nông nghiệp là rác thải
và là thứ bỏ đi. Họ tìm cách loại bỏ nó hoặc tìm cách đốt bỏ các loại phế phụ phẩm
sau khi thu hoạch nông nghiệp. Điều này sẽ gây ô nhiễm môi trường và lãng phí
nguồn nguyên liệu phân bón. Đa phần các loại chất thải và các phế phụ phẩm từ
nông nghiệp là các chất hữu cơ nên dễ dàng phân huỷ nếu có biện pháp xử lý hợp lý
bằng cách tác động các chế phẩm VSV thì quá trình phân huỷ sẽ nhanh và hiệu quả
hơn tạo ra nguyên liệu sản xuất phân bón hữu cơ. Điều này có ý nghĩa rất đặc biệt
đối với ngành nông nghiệp nói chung và hoạt động sản xuất lúa nói riêng. Ngoài ra
việc xử lý chất thải hữu cơ và phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ không
chỉ tận dụng được nguồn tài nguyên chất thải mà còn đem lại nhiều lợi ích về kinh
tế góp phần bảo vệ môi trường.
2
Để nâng cao nhận thức của người dân về phân hữu cơ, đồng thời giúp người
dân yên tâm áp dụng phân hữu cơ chế biến từ phế phụ phẩm nông nghiệp và rác thải
vào sản xuất thì việc nghiện cứu thử nghiệm và việc xây dựng các mô hình trình
diễn là hết sức quan trọng.
Xuất phát từ thực tế trên với sự giúp đỡ của PGS.TS. Đặng Văn Minh tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón hữu cơ sinh học
sản xuất từ phế phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi tới sinh trưởng,
phát triển và năng suất lúa tại xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu tổng thể
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sản xuất từ phế phụ phẩm nông
nghiệp với sự tham gia của 1 số loại chế phẩm sinh học đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất của giống lúa CTA 88. Từ đó xác định được phương pháp ủ và mức
Phần 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Cở sở lý luận
Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đã có những bước nhẩy
vọt, từ một nước thiếu lương thực trầm trọng đã vươn lên sản xuất đủ nhu cầu lương
thực đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Diện tích trồng lúa hầu như không tăng
mà có xu hướng giảm dần, do đô thị hoá và chuyển sang đất chuyên dùng, nhưng
sản lượng không ngừng tăng lên. Để đạt được thành quả đó là nhờ vào rất nhiều yếu
tố, trong đó chúng ta không thể khống nhắc đến yếu tố phân bón bao gồm bón phân
cân đối và sử dụng phân bón hợp lý,...
Bón phân cân đối là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng thiết
yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng đối tượng cây
trồng, đất, mùa vụ cụ thể đảm bảo năng suất cao, chất lượng nông sản tốt và an toàn
môi trường sinh thái (Lê Văn Khoa và cs, 1998) [13].
Sử dụng phân bón hợp lý là kết hợp hài hòa giữa phân hữu cơ và phân vô cơ,
bón cân đối không những chỉ quan tâm đến tỷ lệ mà còn phải cân đối với lượng hút
để bù lại lượng thiếu hụt do cây trồng lấy đi từ đất (Lê Quang Anh, 2002) [1].
Sử dụng phân bón hữu cơ (bao gồm cả phân hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ
vi sinh) sẽ thay thế một phần phân bón hóa học trên đồng ruộng, nhờ đó đất trồng
trọt không bị suy thoái mà vẫn đảm bảo được nâng cao năng suất thu hoạch.
Sử dụng phân bón hữu cơ về lâu dài sẽ dần dần trả lại độ phì nhiêu cho đất
như làm tăng lượng photpho và kali dễ tan trong đất canh tác, cải tạo, giữ độ bền
của đất đối với cây trồng nhờ khả năng cung cấp hàng loạt các chuyển hóa chất
khác nhau liên tục do nhiều quần thể vi sinh vật khác nhau tạo ra.
Việc sử dụng phân bón hữu cơ còn có ý nghĩa rất lớn là tăng cường bảo vệ
môi trường sống, giảm tính độc hại do hóa chất trong các loại nông sản thực phẩm
do lạm dụng phân hóa học.
lương thực, sản xuất lúa gạo trong vài thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng
kể, nhưng phân bố không đều do các trở ngại về tiếp cận lương thực, thu nhập quốc
6
gia và thu nhập của hộ gia đình không đủ để mua lương thực, sự bất ổn giữa cung
cầu, thiệt hại do thiên tai mang lại là những nhân tố khiến cho vấn đề lương thực trở
nên cấp thiết hơn lúc nào hết. Tuy tổng sản lượng lúa không ngừng được gia tăng,
năm sau cao hơn năm trước nhưng dân số tăng nhanh hơn, nhất là ở các nước đang
phát triển, nên lương thực vẫn là vấn đề cấp bách phải quan tâm trong những năm
trước mắt cũng như lâu dài.
Hiện nay trên thế giới có trên một trăm nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục
với tổng diện tích là 161,4 triệu ha. Theo (FAO STAT, 2010) [34] thì sản xuất lúa
gạo tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 88,7% diện tích gieo trồng
và sản lượng. Trong đó Ấn Độ là nước có diện tích lúa lớn nhất (44,1 triệu ha), tiếp
đến là Trung Quốc (trên 29,9 triệu ha) (FAO STAT, 2010) [34].
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(Nghìn ha)
(tạ/ha)
(Nghìn tấn)
599,355
2001
152,043
39,35
598,316
2002
147,953
38,49
569,451
2003
148,532
39,36
584,630
2004
150,549
159,251
43,07
685,875
2009
161,421
42,04
678,682
Năm
(Nguồn: FAO STAT năm 2010) [34]
7
Bảng 1.1 cho thấy diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần
đây có xu hướng tăng. Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế kỷ
XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI. Về năng suất của
lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80. Đến thập
niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn
chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,81 tạ/ha năm 1970 lên 42,04 tạ/ha vào năm
2009. Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng
tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những
tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng
thấp có tưới tiêu. Lúa ngập nước được trồng khoảng 24% và đất cao chỉ chiếm 6%.
Năm 2005 diện tích đất lúa 6,0 triệu ha, sản lượng 22 triệu tấn. Hiện nay Myanmar
đang tăng cường sản xuất lúa với các loại giống cải tiến có năng suất cao. Các nhà
khoa học ở đây đã tích cực thu nhập nguồn vật liệu từ INGER và nguồn gen lúa cổ
truyền địa phương để lai tạo, chọn lọc ra các giống lúa tốt. Myanmar hiện đang duy
trì năng suất lúa ở mức 3,6 tấn/ha (Lê Văn Dân, 2004) [6].
Philippine có diện tích đất lúa xấp xỉ 3,4 triệu ha, trong đó có: 2,1 triệu ha đất
được tưới tiêu; 1,2 triệu ha đất thấp chịu nước trời và 0,07 triệu ha đất cao. Lúa
được tưới tiêu chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng. Diện tích trồng các giống lúa cổ
truyền địa phương giảm từ 23% (1980) xuống 13% (1988). Philippines tăng cường
sử dụng các giống lúa mới. Diện tích trồng các giống mới tăng lên 87% vào năm
1991. Năng suất lúa bình quân đạt 3,0 triệu tấn/ha năm 2000. Sản lượng lúa tăng từ
12,4 triệu tấn năm 2000 lên 14,8 triệu tấn năm 2005 (Lê Văn Dân, 2004) [6].
Tại Mỹ, lúa được trồng 1 vụ/năm ở hầu hết các vùng. Sản lượng lúa đạt 8,5
triệu tấn (1994), chiếm 1,4% tổng sản lượng thế giới. Lúa chiếm 0,7% diện tích đất
trồng trọt và < 1% giá trị sản phẩm nông nghiệp. Hầu hết lúa ở đây được gieo trồng
và cung cấp đủ nước. Việc quản lý, cung cấp nước và sử dụng các giống lúa bán lùn
là hai yếu tố quan trọng làm tăng năng suất lúa ở đây. Năng suất lúa đạt bình quân
7,4 tấn/ha năm 2005, sản lượng lúa đã tăng từ 8,6 triệu tấn năm 2000 lên 10 triệu
tấn năm 2005, những thách thức đối với sản xuất lúa ở Mỹ hiện nay là duy trì năng
suất, chất lượng cũng như giữ vững hệ thống sản xuất lúa trong phạm vi bảo tồn và
cải thiện đất đai, không khí, chất lượng nước nhằm gìn giữ môi trường. Mỹ đã từng
là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai, sau Thái Lan (Bùi Văn Nhiên, 2004) [19].
9
Xuất khẩu gạo của thế giới đạt mức kỷ lục cao 28,1 triệu tấn vào năm 2002.
Trong năm 2003, các nước xuất khẩu gạo chính là Thái Lan 7,6 triệu tấn, Việt Nam
3,9 tấn, Mỹ 3,6 triệu tấn, Pakistan 1,9 triệu tấn. Nhìn chung mức phát triển sản xuất
vậy, nhờ tạo được các giống lúa bằng lúa lai 3 dòng, họ đã tạo ra giống lúa ưu thế
lai đầu tiên như: Nam ưu số 1, Sán ưu số 2. Năm 1996, Trung Quốc lại thành công
với quy trình sản xuất lúa lai 2 dòng, sau khi các nhà nghiên cứu tìm được dòng bất
dục truyền nhân, mẫn cảm với môi trường đã góp phần làm giảm giá thành sản xuất
hạt lai F1. Hiện nay, Trung Quốc đang nghiên cứu thành công giống lúa 2 dòng cho
năng suất cao và cao hơn lúa lai 3 dòng khoảng 20% và đang nghiên cứu giống lúa
lai một dòng (Nguyễn Thị Lẫm và CS, 2003) [14].
Ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu thập và làm thuần một số giống lúa địa phương,
đưa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và miền Bắc của nước này.
Ở Nhật Bản việc đưa ra giống Tongil đã tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lúa.
Ở Mỹ, năm 1926, J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi
khảo sát lúa ở Đài Loan. Có 2 người tham gia vào đề xuất vấn đề sản xuất lúa lai
thương phẩm là Stansent và Craiglules.
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển
thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng. Các giống này không phải là biến
đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc phụ thuộc
vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta-carotene và anthocyanins - Một chất chống
ôxy hoá. Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm tạo ra giống lúa đột biến
với việc sử dụng các tác nhân hoá học.
Cây lúa có khả năng thích ứng rộng với các điều kiện sinh thái khí hậu khác
nhau: vùng trồng lúa tương đối rộng từ nơi có vĩ độ cao như Hắc Long Giang
(Trung Quốc) 530B; Nhật, Nga (Krasnodar)450B đến Nam bán cầu: New South (Úc)
350N. Vùng phân bố chủ yếu ở Châu Á từ vĩ độ: 300B - 100N.
Trên thế giới có khoảng trên 100 nước đang trồng lúa thì đa số nằm ở châu
Á. Cây lúa gắn bó mật thiết với các quốc gia thuộc Đông Nam Á và Nam Á, trải
rộng từ Pakistan đến Nhật Bản. Trong số 25 nước sản xuất lúa chính của thế giới có
17 nước nằm trong vùng này và 8 nước nằm ngoài vùng (Jay Maclean, 1985). Trên
85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước mà những nước này đều tập
12
1.2.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa ở Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam
Việt Nam là một trong mười nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất thế giới, với
đặc điểm tự nhiên ưu đãi, vị trí địa lý nằm ở vùng Đông Nam châu Á, có khí hậu
nhiệt đới gió mùa, có nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớn được phù sa bồi đắp, cây
lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghía quan trọng trong đời sống của
người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999) [7].
Từ thuở đầu dựng nước cây lúa đã được gắn liền với nền văn minh lúa nước
trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cùng với thời
gian diện tích và năng suất lúa không ngừng tăng lên rõ rệt, tổng diện tích lúa của cả
nước từ 4,72 triệu ha năm 1970 tăng lên 7,67 triệu ha năm 2000 và giảm xuống còn
7,44 triệu ha năm 2009. Năng suất không ngừng được nâng cao từ 21,5 tạ/ha (năm
1970) lên 52,3 tạ/ha (năm 2009). Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình đô
thị hóa, công nghiệp hóa đã làm diện tích trồng lúa có xu hướng giảm, mặc dù sản
lượng vẫn tăng do việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất làm tăng
năng suất lúa. Bên cạnh việc tăng năng suất lúa, chúng ta cũng đã chú trọng đến chất
lượng của lúa gạo, những giống lúa cổ truyền như Tám Ấp Bẹ, Tám xoan, Dự, nếp
cái Hoa vàng, nếp Hòa Bình, nếp Hải Phòng, Nàng Nhen, Nàng thơm Chợ Đào, đã
được phục tráng và mở rộng trong sản xuất (Lê Vĩnh Thảo và cs, 2004) [26].
Nghề trồng lúa ở Việt Nam có từ lâu đời và gắn liền với sự phát triển nông
nghiệp của nước ta. Với những kinh nghiệm quí báu của ông cha ta để lại và trí
thông minh sáng tạo đã tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất
làm cho nghề trồng lúa của Việt Nam không ngừng phát triển. Nước ta từ một nước
thiếu đói lương thực triền miên, bằng nội lực của mình đã trở thành nước xuất khẩu
gạo đứng thứ hai thế giới.
Sản xuất lương thực trong thời kỳ đổi mới của đất nước được Đảng ta xác
1980
5,600.200
20,798
11,647.400
1990
6,042.800
31,814
19,225.104
2000
7,666.300
42,431
32,529.500
2001
7,492.700
42,852
48,890
35,832.900
2006
7,324.800
48,942
35,849.500
2007
7,207.400
49,869
35,942.700
2008
7,414.300
52,230
38,725.100
2009
Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa lai từ năm 1985, nhưng thực sự được xúc
tiến mạnh từ những năm 1990. Một số dòng bất dục đực tế bào chất, dòng phục hồi
và tổ hợp lúa lai ba dòng được nhập nội từ Trung Quốc và IRRI đã được đánh giá.
Những kết quả bước đầu đã xác định được một số dòng bố mẹ và giống lúa lai thích
ứng với điều kiện sinh thái và sản xuất của Việt Nam, đem lại năng suất và hiệu quả
kinh tế cao (Nguyễn Trí Hoàn và cs, 2003) [12].
Công tác nghiên cứu và chọn tại các giống lúa lai ở Việt Nam cũng được
thúc đẩy mạnh mẽ, tập trung vào việc thu thập, đánh gía các dòng bất dục đực nhập
nội, sử dụng các phương pháp chọn giống truyền thống như lai hữu tính, đột biến để
tạo ra các dòng bố mẹ mới. Các kết quả nghiên cứu đã xác định được các vật liệu bố
mẹ tốt, thích ứng với điều kiện sinh thái miền Bắc và có khả năng cho ưu thể lai cao
như các dòng mẹ: BoA-B. IR58025A-B, VN-01, 11S, TGMS11, TGMSVN1, T1S96, 103S, TGMS6; các dòng bố R3, R20, R24, RTQ5... (Nguyễn Trí Hoàn và cs,
2003), [12].
Từ năm 1997 đến năm 2005, có khoảng 68 giống lúa lai trong nước được
khảo nghiệm, trong đó có 3 giống được công nhận chính thức: Việt Lai 20, HYT83,
TH3-3, một số giống được công nhận tạm thời HYT57, TM4, HYT100, HYT92,
TH3-4, HC1, TH5-1, Việt Lai 24 và một số giống triển vọng khác (Phạm Văn
Cường, 2005) [4].
15
Ngoài ra, chúng ta cũng tích cực nhập nội các giống lúa lai nước ngoài chọn
lọc các tổ hợp lai tốt, thích ứng với điều kiện Việt Nam để phục vụ sản xuất. Cho
đến nay, Việt Nam đã có được một cơ cấu giống lúa lai khá đa dạng, ngoài các
giống đang được sử dụng phổ biến trong sản xuất như: Nhị ưu 838, Nhị ưu 63, D.ưu
527, Bồi tạp sơn thanh, Bác ưu 903, nhiều giống mới được mở rộng trong sản xuất
có năng suất, chất lượng khá như: Khải phong 1, Q.ưu 1, CNR36, Nghi hương
2308, VQ14, Phú ưu số 1 và một số giống lúa lai của Việt Nam như HYT83,
HYT100, TH3-3, Việt Lai 20, TH3-4... (Phạm Đồng Quảng, 2006) [21].