Đại học thái nguyên
trờng đại học nông lâm
--------------------------------
Dơng Thị Thu Hoài
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sức sản
xuất và chất lợng thịt của đàn lợn Đen nuôi
tại Huyện trạm tấu - tỉnh yên bái
Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
Thái Nguyên, 2010
2
Đại học thái nguyên
trờng đại học nông lâm
---------------------------------
Dơng Thị Thu Hoài
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sức sản
xuất và chất lợng thịt của đàn lợn Đen nuôi
tại Huyện trạm tấu - tỉnh yên bái
Chuyên ngành
: Chăn nuôi động vật
Mã số
biết ơn tới:
Cô giáo TS.Nguyễn Thị Liên
Liên, thầy giáo GS.TS. Nguyễn Quang Tuyên là ngời hớng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn thành bản luận văn.
Khoa Sau Đại học, Khoa chăn nuôi thú y, Khoa Khuyến nông và Phát triển nông
thôn đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Trạm Thú y, cán bộ các xã và bà
con nhân dân trong huyện Trạm Tấu đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài.
Nhân dịp này tôi cũng xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình,
bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên khuyến khích tôi trong quá trình học
tập, thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2010
Tác giả
Dơng Thị Thu Hoài
5
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu, biểu đồ, đồ thị và phụ lục
2.3.5. Phân tích các chỉ tiêu sinh lý - sinh hóa của máu ................................. 41
2.3.6. Xác định các chỉ tiêu mổ khảo sát ........................................................ 41
2.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 41
2.4.1. Phương pháp điều tra ............................................................................ 41
2.4.2. Phương pháp đánh giá, giám định ngoại hình thể chất của lợn............ 42
2.4.3. Phương pháp xác định sức sản xuất của vật nuôi ................................. 42
2.4.4. Phương pháp phân tích thành phần hoá học mẫu thịt nạc: ................... 45
2.4.5. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu sinh lý - sinh hoá máu.................. 45
2.5. Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................... 46
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................... 47
3.1. Kết quả điều tra về số lượng, cơ cấu đàn lợn và phương thức chăn
nuôi ................................................................................................................. 47
3.1.1. Số lượng và cơ cấu đàn lợn của huyện Trạm Tấu qua 3 năm
(2006 - 2008)................................................................................................... 47
3.1.2. Cơ cấu đàn lợn nuôi trong một số xã điều tra....................................... 51
3.1.3. Kết quả điều tra quy mô đàn và phương thức chăn nuôi lợn Đen địa phương 54
3.2. Kết quả đánh giá một số đặc tính sinh học.......................................... 57
3.2.1. Kết quả đánh giá mức độ cảm nhiễm bệnh tật của lợn Đen ................. 57
3.2.2. Kết quả điều tra về màu sắc lông - da................................................... 58
3.3. Kết quả điều tra về sức sản xuất........................................................... 60
3.3.1. Kết quả điều tra về các chỉ tiêu khối lượng .......................................... 60
3.3.2. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của lợn Đen ........................ 66
3.4. Kết quả mổ khảo sát - đánh giá phẩm chất thân thịt ......................... 78
3.5. Kết quả phân tích thành phần hóa học thịt lợn Đen .......................... 81
3.6. Các chỉ tiêu sinh lý - sinh hoá của máu................................................ 82
3.6.1. Kết quả phân tích các chỉ tiêu sinh lý máu ........................................... 82
3.6.2. Kết quả phân tích các chỉ tiêu sinh hoá huyết thanh............................. 84
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................................... 85
1. Kết luận ...................................................................................................... 85
2. Đề nghị........................................................................................................ 86
DT
Đơn vị tính
ĐVT
Đại Bạch Ỉ
ĐBI
Follicte Stimulating Hormone
FSH
Gam
g
Gam %
g%
Gam/lít
g/l
Hemolglobin
Hb
Pr
Sơ sinh
SS
Somato Tropin Hormone
STH
Thức ăn
TA
Trung bình
TB
Viện Chăn nuôi
VCN
Vòng ống
VO
8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu đồ 3.5. Sinh trưởng tương đối của lợn Đen qua các tháng tuổi.............. 65
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Tên đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sức sản xuất và chất lượng
thịt của đàn lợn Đen nuôi tại huyện Trạm Tấu - tỉnh Yên Bái”
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một ngành cung cấp thực phẩm không thể thiếu trong đời
sống con người như: thịt, trứng, sữa, bơ, phomat... Trong các ngành chăn nuôi
gia súc trên thế giới cũng như ở nước ta thì chăn nuôi lợn chiếm một ví trí rất
quan trọng, đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất
lượng tốt cho con người như thịt, mỡ và các sản phẩm chế biến từ thịt. Theo
thống kê của FAO (2007) thì sản lượng thịt trên toàn thế giới là 217,159 triệu
tấn; năm 2008 là 217 triệu tấn trong đó 92,992 triệu tấn là thịt lợn và dự tính
đến năm 2010 sản lượng thịt lợn là 101,9 triệu tấn. Sản lượng thịt trung bình
trên thế giới đạt 42 kg/người/năm.
Việt Nam là một trong những nước nuôi nhiều lợn và có ngành chăn
nuôi lợn phát triển mạnh, con lợn được coi là non vật truyền thống của nước
ta. Theo thống kê sơ bộ của cục Khuyến nông - Khuyến lâm - Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn năm 2002 đàn lợn nước ta có 23,146 triệu con,
năm 2004 tăng lên 26,144 triệu con, đến 2005 là 27,435 triệu con, năm 2008
là 26,7 triệu con và năm 2009 là 26,8 triệu con. Trong giai đoạn từ 1990 2002, đàn lợn tăng bình quân 6,84%/ năm, đàn nái tăng 2,6%, tổng sản lượng
thịt hơi tăng 16,75%. Bình quân khối lượng xuất chuồng tăng 2,75% và bình
quân thịt hơi trên đầu người tăng 8,34%. Sản lượng thịt tăng lên 1,653 triệu
tấn vào năm 2002, và năm 2005 sản lượng thịt lợn bình quân 28
kg/người/năm; đến 2008 là 32 kg/người/năm. Mục tiêu đến năm 2010, chỉ
tiêu tăng đàn đạt 2,6%/năm, số lượng đầu lợn đạt trên 32,811 triệu con với
nội tốt, tầm vóc trung bình, khả năng cho thịt tốt, chất lượng thịt và mỡ thơm
ngon, lại có khả năng chịu đựng kham khổ cao và thích ứng tốt với tập quán
chăn nuôi còn lạc hậu.
Tuy nhiên, cho đến nay các số liệu điều tra cơ bản về đàn lợn Đen nuôi
trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc đã có nhưng chưa nhiều, số lượng đàn lợn Đen
3
hiện nay đang có xu hướng tăng lên và trở thành một con vật nuôi không thể
thiếu trong các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc nhưng vẫn chưa được
công bố là một giống lợn chính thức. Các đặc điểm sinh vật học và các chỉ tiêu
sản xuất như khả năng sinh trưởng, sinh sản của đàn lợn này ra sao? Nhiều vấn
đề khoa học và thực tiễn về đàn lợn này vẫn là những vấn đề cần làm sáng tỏ.
Mặt khác trong xu thế tiêu dùng hiện nay thịt lợn nội nói chung, lợn Đen nói
riêng đang rất được ưa chuộng và trở thành “đặc sản” có giá trên thị trường bởi
ưu thế về chất lượng, nhất là trong các dịp lễ tết cuối năm.
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc của nước ta có diện tích đất đai
rộng lớn thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển. Tuy nhiên dân cư nơi đây
chủ yếu là dân tộc ít người, trình độ dân trí còn thấp nên việc tuyên truyền mở
rộng chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp và chăn nuôi giống lợn lai hay
lợn ngoại là thực sự khó khăn và chưa thể phù hợp. Do đặc điểm tập quán
chăn nuôi vẫn còn lạc hậu, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật. Vì vậy, muốn
đẩy nhanh sự phát triển chăn nuôi lợn tại đây, mà lại phù hợp với điều kiện
thực tại của địa phương là điều khó khăn.
Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sức sản xuất và chất lượng thịt của
đàn lợn Đen nuôi tại huyện Trạm Tấu tỉnh - Yên Bái”.
Kết quả của đề tài sẽ góp phần định hướng phát triển ngành chăn nuôi
lợn cho một số khu vực ở Yên Bái nói riêng và miền núi phía Bắc nói chung
đang có ngành chăn nuôi chậm phát triển.
Nguồn gốc lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành và bắt
nguồn từ hai nhóm lợn rừng hoang dại. Đó là lợn rừng Châu Âu (Sus scrofa
ferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus sus vittatus) được con
người thuần hoá trong thời gian dài mà thành. Căn cứ vào hình dáng của tai
mà người ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ Châu Âu và Châu Á thành hai
loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn.
Giống lợn cổ đại là do giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu và nguyên thuỷ
Châu Á tạp giao mà thành. Giống lợn này được nuôi chủ yếu tại các nước dọc
theo Địa Trung Hải. Trong đó, lấy giống lợn lông xoăn La Mã và lợn ở bán
đảo Ban Căng lai với lợn Trung Quốc là giống lợn thành thục sớm, phẩm chất
thịt ngon, mềm, ở đời sau cho tự giao và hình thành giống lợn lai Cổ Đại. Các
giống lợn nhà nuôi hiện nay là do các giống lợn Cổ đại trước kia thông qua
các phương pháp tạp giao cải lương khác nhau mà dần hình thành nên, (Trần
Văn Phùng và cs, 2004) [25].
5
Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng
khác nhau, điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không giống nhau
dẫn đến việc hình thành giống lợn khác nhau.
Để giải quyết nhu cầu về thịt, con người đã cải thiện các điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng và tạo nên giống lợn nguyên thuỷ Châu Á từ lợn rừng
Châu Á có đặc điểm dễ béo, sớm thành thục. Ở Châu Âu, cũng do điều kiện
tự nhiên đã hình thành nên các giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu có đặc điểm
như thành thục muộn, khả năng chịu đựng kham khổ cao.
Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [39] cho biết khi đã được thuần hoá,
lợn hoang đã có nhiều thay đổi. Điều trông thấy rõ nhất là thân hình bé hẳn đi,
nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ. ë Châu Âu, mãi đến cuối thời
kỳ Trung Cổ mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai
rủ, mãi về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn mới đa dạng hơn về
nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ
khác nhau, (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [36].
Giá trị kiểu hình của một tính trạng được ký hiệu là P (phenotype);
Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường
được ký hiệu bằng E (Enviroment). Mối quan hệ này được biểu thị bằng công
thức: P = G +E.
Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ
(minorgene) cấu tạo thành. Các gen này có hiệu ứng riêng bệt của từng gen
thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng
nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiệu ứng đa gen (Polygen). Các minorgen
này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp và át gen. Vì vậy
giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:
G=A+D+I
Trong đó: G - Giá trị kiểu gen
A - Giá trị cộng gộp
D - Giá trị sai lệch trội
I - Giá trị sai lệch cộng gộp
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác
định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò
quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định thông qua con đường
thực nghiệm.
Theo J.F.Lasley (1974) [11] cho biết những tính trạng có hệ số di
truyền (h2) từ 0,12 - 0,3 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp. Những
tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng có hệ số di
truyền trung bình. Những tính trạng có hệ số di truyền > 0,5 là những tính
trạng có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao; còn những tính trạng
có hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [36].
7
kích thích tiết dịch tiêu hoá và tăng cường quá trình tiêu hoá. Do ăn nhiều
thức ăn thô xanh cho nên trong cơ quan tiêu hoá của lợn nội, ruột già thường
phát triển hơn lợn ngoại, vì ruột già và manh tràng là bộ phận chủ yếu của lợn
lợi dụng sự phát triển của hệ vi sinh vật để phân giải cellulose, do đó trong
8
điều kiện sử dụng nhiều rau xanh để nuôi lợn thì các giống lợn nội của ta vẫn
có khả năng sinh trưởng tốt, ngược lại các giống lợn nhập nội sinh trưởng
kém hơn. Song nếu trong điều kiện thức ăn tốt (chủ yếu là thức ăn tinh) thì
các giống lợn ngoại sinh trưởng phát triển tốt hơn lợn nội. Đây cũng là một
minh chứng cho khả năng chịu đựng kham khổ của giống lợn nội tốt hơn so
với lợn ngoại. Hệ số trao đổi cơ bản của lợn thấp hơn các loài gia súc khác, do
đó tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng của lợn so với các loài gia súc khác như
bò, dê, cừu thì thấp hơn nhiều, do vậy nuôi lợn rất kinh tế. Để sản xuất ra một
khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng hết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bò phải ăn
hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ăn hết 6 - 10 kg (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [25].
Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có thể
nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn nhằm
nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn.
1.1.2.3. Lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng, năng suất thịt cao và
chất lượng thịt mỡ tốt
Lợn là loài gia súc có khả năng thành thục sớm, nhất là các giống lợn
nội của Việt Nam, do quá trình chọn lọc, nuôi dưỡng, tập quán chăn nuôi và
ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới. Lợn đực 40 - 50 ngày
tuổi đã có biểu hiện động dục và có khả năng giao phối, cơ quan sinh sản có
khả năng sản sinh ra tinh trùng. Lợn cái 3 - 4 tháng tuổi đã biểu hiện động
dục. Như vậy, nếu đem so sánh với các giống lợn khác trên thế giới thì lợn
nội thành thục rất sớm.
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [25] do khả năng sinh sản của lợn
Sinh sản là hoạt động sinh lý cơ bản của động vật để duy trì nòi giống,
là sự truyền đạt thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia thông qua các
tế bào sinh dục là trứng và tinh trùng. Sự kết hợp giữa trứng và tinh trùng tạo
thành hợp tử và phát triển thành phôi, thai và sinh ra thế hệ mới.
Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch
của cơ thể điều tiết, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời
tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng...). Trong chăn nuôi người ta đánh giá lợn là loài
gia súc có khả năng sinh sản cao, thành thục sớm, đẻ dễ và ít gặp khó khăn trong
khi đẻ. Nhất là các giống lợn nội, con đực 30 ngày tuổi có phản xạ nhảy, 40 ngày
tuổi đã có thể có tinh trùng non, 50 - 60 ngày tuổi cho phối thì con cái đã có thể có
chửa. Lợn cái nội 3 - 4 tháng tuổi đã động dục. Lợn là loài gia súc đa thai, trong
điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thể đẻ 1,8 - 2,4 lứa/năm và đạt 10 - 12
con/lứa. Lợn nái có số vú nhiều, khả năng tiết sữa cao, các giống nội thường có từ
10 vú trở lên, lợn Móng Cái thường có 12 - 16 vú. Thời gian chửa đẻ của lợn ngắn
từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [38].
1.1.2.6. Tập tính sinh hoạt của lợn
Trong tự nhiên lợn rừng sống theo bầy đàn, khi giao phối tự nhiên vào
mùa sinh sản của lợn thường xuyên xảy ra các cuộc chiến tranh giành giật lợn
10
cái giữa các con đực. Lợn nhà thích nghi nhanh với những tập luyện do con
người như hiệu lệnh, đúng giờ ăn, nơi thải phân, nước tiểu và nằm ngủ đúng
chỗ quy định...
Lợn còn có những tập tính sinh hoạt và đặc thù riêng bịêt như: khi lợn
con bú lợn mẹ nằm nghiêng, lợn con mới sinh ra có thể đứng ngay dậy và tìm
vú mẹ để bú, lợn mẹ có thể vừa đẻ vừa cho con bú. Hiểu biết những tập tính
đó sẽ có tác dụng rất tốt đối với việc xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi,
huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện làm cho khả năng thích nghi của lợn
trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên phong phú hơn.
nhanh. Những giống lợn đã được cải tiến thì trán rộng, các giống lợn nguyên
thuỷ thì trán hẹp. Do đó khi chọn giống cần chọn những cá thể có trán rộng.
Mõm: Hình dáng và độ dài của mõm là đặc trưng cho từng giống lợn.
Mõm cong và quá ngắn hoặc mõm quá dài đều không tốt. Khi chọn lợn nên
chọn những con có mõm vừa phải, có sự kết hợp tốt giữa hàm trên và dưới.
Tai: Hình dáng và độ to nhỏ của tai là đặc trưng của giống: Lợn Ỉ tai
nhỏ và đứng, lợn Landrace tai to và rủ xuống. Về độ dày và mỏng của tai thể
hiện thể chất của lợn. Nếu lợn có tai dày chứng tỏ thể chất thô, tai mỏng thể
chất thanh. Lợn tốt có tai mỏng và gốc tai hơi cứng.
Mắt: Mắt phải sáng, tròn nhanh nhẹn, không lồi và lõm quá sâu, mắt
không có nhiều nếp nhăn ở mi mắt. Mắt nhanh nhẹn là mắt tốt và thể chất
khoẻ mạnh.
Hàm: Hàm phải phát triển bình thường, cân đối. Hàm trên và hàm dưới
phải khít nhau, không chọn lợn có hàm lệch để làm giống.
Cổ: Cổ lợn ngắn hay dài, dày hay mỏng đều liên quan đến sinh trưởng,
phát dục của lợn. Yêu cầu có cổ dài vừa phải, cơ phát triển đều đặn, kết hợp
giữa đầu và cổ, cổ với vai phải chặt chẽ, không có vết lõm. Cổ của lợn đực
thường thô và ngắn hơn cổ lợn nái.
- Phần thân trước: Gồm có vai, ngực và hai chân trước. Yêu cầu chung
là cơ phát triển tốt ở vai, ngực sâu rộng, 2 chân trước chắc khoẻ.
Vai: Yêu cầu phải rộng, phẳng, cơ phát triển tốt vì thịt vai có chất
lượng tốt. Sự kết hợp giữa 2 xương cánh tay và xương bả vai cần có tỷ lệ nhất
định. Giữa bả vai với cổ lưng cần bằng phẳng. Khi quan sát ngoài không thấy
rõ ranh giới giữa các bộ phận là biểu hiện phát dục tương đối tốt.
Ngực: ngực cần rộng và sâu, vòng ngực lớn. Các chiều sâu và rộng
ngực có thể dùng thước để đo. Ở lợn phát triển bình thường, sâu ngực chiếm
60 - 65% cao thân, rộng ngực chiếm 40 - 50% cao thân.
Chân trước: Yêu cầu chân trước phải thẳng, không được choãi ra trước
hoặc ra sau, khoảng cách giữa 2 chân rộng không khép lại hình chữ X. Ngón
Đùi: đùi phải dày, rộng, dài. Các giống lợn trong nước, phần dưới đùi
nhiều nếp nhăn, điều này liên quan đến thể chất yếu, tầm vóc không tốt.
Chân sau: Đối với lợn nái, khoảng cách giữa 2 chân phải rộng, do đó
khoảng cách giữa 2 đầu vú sau cũng rộng, như vậy khả năng tiết sữa cao.
Chân yêu cầu thẳng, đầu gối không cong hoặc choãi ra.
13
Đuôi: Gốc đuôi phải to và thon nhỏ dần, chiều dài vừa phải, cuối đuôi
có một chùm lông đuôi chứng tỏ thể chất khoẻ mạnh.
- Các bộ phận khác
Cơ quan sinh dục ngoài: Yêu cầu phát triển bình thường, những đặc
trưng về tính cần biểu hiện rõ ràng: Hai dịch hoàn của lợn đực phải đều, cân
đối và nổi rõ. Cơ quan sinh dục ngoài của lợn cái phái phát triển bình thường,
không to quá, không nhỏ quá và yêu cầu phải nhẵn, trơn.
Da: Da trên toàn bộ cơ thể mềm vừa phải, mỏng, bóng mượt giống
nhau, không có nếp nhăn ở thân và tứ chi.
Lông gáy: Nếu lông gáy bóng mượt thì lợn khoẻ, lông gáy ít, thưa thì
lợn có thể chất yếu, dễ mắc bệnh.
1.1.3.2. Đánh giá thể chất của lợn
a) Khái niệm thể chất
Thể chất là đặc tính thích nghi của toàn bộ cơ thể gia súc, trong những
điều kiện sống, di truyền và phát triển nhất định có liên quan đến sức sản xuất
của vật nuôi. Thể chất biểu hiện cường độ trao đổi chất bên trong cơ thể vật
nuôi, (Dươmg Mạnh Hùng, 2005) [14].
b) Phân loại thể chất
- Phương pháp phân loại của Viện sĩ Ivanov: Theo phương pháp phân
loại của Ivanov có thể chia thể chất của lợn ra các loại sau: Thô săn, thô sổi,
thanh săn , thanh sổi.
- Phương pháp phân loại căn cứ vào độ thành thục sớm hay muộn:
truyền từ đời trước. Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến sự sinh trưởng là nói đến sự phát dục
vì 2 quá trình này là đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh
trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất.
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình
thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình
phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành, khi
con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở
các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu
là tích luỹ mỡ, còn tích luỹ cơ thể xem như ở trạng thái ổn định.
1.1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng
* Tốc độ sinh trưởng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [25]: tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu
kinh tế quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt. Tốc độ sinh trưởng
nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt
nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được
tính theo gam/ngày hay kg/tháng. Tốc độ sinh trưởng của các giống lợn khác
15
nhau là khác nhau. Các giống lợn nội có khả năng tăng khối lượng thấp hơn
lợn lai và lợn ngoại.
Khả năng tăng khối lượng g/ngày tính theo công thức sau:
Tăng khối lượng (g/ngày) =
Trong phạm vi ứng dụng có thể đề cập đến các chỉ tiêu sau đây:
- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo
tăng lên sau một thời gian sinh trưởng.
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc tăng
lên trong một đơn vị thời gian đối với lợn, đơn vị thời gian thường là ngày. Sinh
trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiêu gam. Giá trị
khoảng 9 - 12%
- Tỷ lệ lệ hao hụt (%)
Tỷ lệ hao hụt của thịt xẻ thể hiện tỷ lệ nước chứa trong thịt cao hay
thấp, nói lên chất lượng thân thịt, chế độ nuôi dưỡng và thời tiết khi làm thí
nghiệm. Nhìn chung tỷ lệ hao hụt càng nhỏ càng tốt.
1.1.4.3. Các quy luật phát triển của lợn
Quá trình trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói
riêng đều tuân theo các quy luật sau:
* Quy luật phát triển theo giai đoạn
- Giai đoạn trong thai: Quá trình sinh trưởng trong thai là một phần
quan trọng trong chu kỳ sống của lợn bởi vì thời điểm này có ảnh hưởng đến
sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của lợn. Quá trình phát triển
trong thai được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn phôi thai, tiền thai và bào
thai. Giai đoạn phôi thai từ lúc trong thụ tinh đến 22 ngày, đặc điểm của giai
đoạn này là hợp tử dịch chuyển và làm tổ ở sừng tử cung (trong vòng 2 ngày
đầu tiên), phân chia nhanh chóng thành khối tế bào và thành các lá phôi. Giai
đoạn tiền thai từ ngày 23 - 39, hình thành nên hầu hết các cơ quan bộ phận
trong cơ thể. Giai đoạn thai từ ngày 40 đến khi đẻ là giai đoạn phát triển
nhanh về kích thước và khối lượng của thai.
- Giai đoạn ngoài thai: Giai đoạn ngoài thai được chia thành các thời
kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi. Lợn
con mới sinh chưa thành thục về sinh lý và thể vóc, có rất nhiều sự thay đổi
diễn ra trong thời kỳ đầu tiên sau khi sinh để phù hợp cho cuộc sống của nó
sau này. Có một số thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi đó như
khối lượng sơ sinh và số con đẻ ra trên ổ, lượng đường glucoza trong máu,
vấn đề điều tiết thân nhiệt, khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn, sự thay đổi
về thành phần hoá học của cơ thể theo tuổi...
Thời kỳ bú sữa của lợn Việt Nam thông thường là 60 ngày. Hiện nay
một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày
tuổi, thức ăn của lợn con thời kỳ này là bú sữa mẹ. Tuy nhiên, muốn lợn con