HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THỦY
SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN HUYỆN YÊN PHONG,
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THỦY
SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ
MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN HUYỆN YÊN PHONG,
TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành
: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Quyền Đình Hà
Tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào
tạo, Bộ môn phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế- Học viện Nông nghiệp Việt
Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chấp hành Hội LHPN huyện Yên Phong
đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi
hoàn thành Luận văn./.
Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2016
Học viên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Mục tiêu chung
2
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
2
1.3
Câu hỏi nghiên cứu
3
1.4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
1.4.1
Đối tượng nghiên cứu
3
1.4.2
13
2.1.4
Đặc điểm sự tham gia của Phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
15
2.1.5
Nội dung sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
16
2.1.6
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của Phụ nữ trong Quản lý
2.2
môi trường nông thôn.
22
Cơ sở thực tiễn
23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
36
3.1.1
Điều kiện tự nhiên
36
3.1.2
Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
41
3.2
Phương pháp nghiên cứu
44
3.2.1
Phương pháp tiếp cận
44
thôn trên địa bàn huyện Yên phong, tỉnh Bắc Ninh
51
4.1.1
Thực trạng về ô nhiễm môi trường nông thôn huyện Yên Phong
51
4.1.2
Số lượng cán bộ, hội viên phụ nữ tham gia QLMT tại huyện
Yên Phong
4.1.3
60
Độ tuổi sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn
huyện Yên Phong
4.1.4
4.1.5
61
Chất lượng cán bộ, hội viên phụ nữ tham gia quản lý môi trường
nông thôn Huyện Yên Phong
4.1.9
73
Đánh giá sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông
thôn trên địa bàn huyện Yên Phong
4.2
74
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của pn trong quản lý môi
trường nông thôn tại huyện Yên Phong
79
4.2.1
Ảnh hưởng của các nhân tố khách quan
79
4.2.2
Ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan
87
4.3
nông thôn
4.3.5
90
Triển khai các hoạt động của phụ nữ tham gia quản lý môi trường
nông thôn trên địa bàn huyện Yên Phong
91
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
101
5.1
Kết luận
101
5.2
Kiến nghị
103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
: Hội đồng nhân dân
KT
: Khai thác
NN&PTNN
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
QLMT
: Quản lý môi trường
TCCP
: Tiêu chuẩn cho phép
TCVN
: Tiêu chuẩn Việt Nam
TN & MT
: Tài nguyên và Môi trường
UBMTTQ
: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Bảng tổng hợp số lượng nước thải thải ra môi trường qua các kênh
55
4.3
Nguồn vốn đầu tư vào nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
qua các năm (2012 -2014)
56
4.4
Tỷ lệ các hình thức đổ rác của các hộ gia đình tại Huyện
58
4.5
Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn
58
4.6
Tỷ lệ kiểu nhà vệ sinh
59
gây ra theo trình độ học vấn
4.12
64
Nhận thức của phụ nữ theo nghề nghiệp về mức độ phân loại thu
gom, xử lý rác thải
67
4.13
Nhận thức giới tính trong việc phân loại rác thải sinh hoạt
68
4.14
Đánh giá sự hiểu biết của phụ nữ về kiến thức môi trường trong
công tác quản lý môi trường nông thôn huyện Yên Phong
69
4.15
Tổng hợp các tổ thu gom rác thải trên địa bàn huyện Yên Phong
70
trường NT
4.20
76
Đánh giá về các kỹ năng quản lý môi trường của chị em phụ nữ
trong công tác quản lý môi trường
4.21
77
Khối lượng rác thải tại một số địa phương trên địa bàn huyện Yên
Phong
4.22
78
Ảnh hưởng của các nhân tố khách quan về sự tham gia của PN
trong QLMT nông thôn huyện Yên Phong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
81
Page ix
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung, và đặc
biệt ở các làng nghề, cụm, khu Công nghiệp…, biến đổi khí hậu đã trở thành chủ
đề quan trọng, thu hút nhiều sự quan tâm của hầu hết các quốc gia, đặc biệt là
những nước đã và đang chịu tác động nặng nề của ô nhiễm môi trường và biến
đổi khí hậu.
Hiện nay, số lượng làng nghề của Bắc Ninh chiếm khoảng 18% tổng số
làng nghề của cả nước, trong đó có 62 làng nghề bao gồm 30 làng nghề truyền
thống, 32 làng nghề mới với những sản phẩm nổi tiếng như gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ,
sắt thép (Đa Hội, Châu Khê). giấy (Phong Khê, Phú Lâm). rượu (Tam Đa, Đại
Lâm). tái chế nhôm (Văn Môn). Các làng nghề ở Bắc Ninh có đặc điểm chung là
quy mô sản xuất nhỏ lẻ, cả làng cùng sản xuất ra những sản phẩm giống nhau, có
dây chuyền công nghệ mang tính thủ công và lạc hậu, tiêu tốn nhiêu nguyên,
nhiên liệu; trong đó phải kể đến làng nghề sản xuất giấy tái chế Phong Khê và
Phú Lâm, sản xuất rượu Đại Lâm, đúc nhôm chì Văn Môn, sản xuất sắt thép tái
chế Đa Hội, dệt nhuộm Tương Giang, sản xuất đô gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, đúc
đồng Văn Môn (Hà Minh Họa, 2010).
Ngoài ra ô nhiễm môi trường nông thôn cũng đang là vấn đề cần quan
tâm do người dân sử dụng các loại hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp
(thuốc trừ sâu, trừ bệnh, thuốc trừ cỏ dại...) không đảm bảo an toàn; Tình trạng ô
nhiễm môi trường gây ra chủ yếu là do ý thức con người, trong từng hanh vi,
hành động ứng xử đối với môi trường ở mỗi con người, mỗi gia đình.Trong đó
Phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường vì phụ nữ là
những người tạo nên các mối liên hệ với môi trường như trong sinh hoạt hàng
ngày trong gia đình, trên những cánh đồng chủ yếu đều có mặt của phụ nữ. Đây là
đối tượng nhạy cảm chịu ảnh hưởng trực tiếp của các chất ô nhiễm trong sinh hoạt,
sản xuất, là người vất vả nhất khi gia đình chịu tác động tiêu cực của môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của Phụ
nữ trong quản lý môi trường nông thôn;
- Đánh giá thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
huyện Yên Phong;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong quản
lý môi trường nông thôn huyện Yên Phong;
- Đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý
môi trường nông thôn huyện Yên Phong trong thời gian tới.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Quản lý môi trường là gì, vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường
như thế nào?
- Thực trạng môi trường nông thôn, quản lý môi trường nông thôn và sự
tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường nông thôn như thế nào?
- Các nguyên nhân gì ảnh hưởng tới sự tham gia quản lý môi trường của
phụ nữ ở khu vực nông thôn?
- Giải pháp gì nhằm thu hút sự tham gia và hiệu quả tham gia của phụ nữ
trong quản lý môi trường nông thôn ở khu vực nghiên cứu?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp tăng cường sự tham
gia của phụ nữ trong công tác quản lý môi trường nông thôn để có thể thu hút
sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường ở khu vực nghiên cứu. Nội
dung nghiên cứu đánh giá chất lượng sự tham gia của PN trong công tác quản
lý môi trường trên các mặt: Phân loại, thu gom, xử lý, kiểm tra, giám sát, đôn
đốc nhắc nhở… và các nhân tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong quản
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1. Khái niệm về môi trường
Đã có nhiều định nghĩa về môi trường với ý nghĩa khái quát hoặc thiên về
một lĩnh vực chuyên biệt khi nghiên cứu về các yếu tố môi trường(đất, nước,
không khí…). sự tương tác giữa các quần thể sống khác nhau…
Tuy nhiên có một định nghĩa được nhiều người sử dụng nhất là định nghĩa
về “môi trường sống của con người” do tổ chức UNEP đưa ra vào năm 1980:
“Môi trường là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội
bao quanh và có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của một cá nhân, một
quần thể hoặc những cộng đồng người”.
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
Môi trường bao gồm 4 thành phần:
- Khí quyển: khí quyển là lớp khí bảo vệ bao quanh trái đất bao gồm
nitrogen, oxygen, ngoài ra còn có argon, CO2, và một số loại khí khác. Nó duy
trì sự sống trên trái đất. Nó bảo vệ trái đất khỏi những tác động từ ngoài
không gian. Nó hấp thu các tia từ vũ trụ và phần lớn bức xạ ánh sáng mặt trời.
Nó chỉ cho phép các tia có bước sóng từ 300 – 2500 nm và 0,14 – 40 m (sóng
radio) đi vào trái đất trong khi lọc hầu hết các sóng tử ngoại có hại (< 300
nm). (Hà Anh, 2003)
- Thủy quyển: thủy quyển bao gồm tất cả các loại nguồn nước như: nước
đại dương, sông hồ, nước đóng băng, nước ngầm - 97% là nước ở các đại dương
- 2% là nguồn nước bị đóng băng ở các cực - 1% là nước ngọt ở các sông hồ,
nước ngầm phục vụ cho nhu cầu con người và các nhu cầu khác. (Hà Anh, 2003)
- Địa quyển: là lớp đất ở võ của trái đất bao gồm các khoáng chất, chất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành. Như vậy, quản
lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật,
xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững
kinh tế - xã hội quốc gia (Hồng Anh, 2010).
b) Khái niệm sự tham gia của phụ nữ trong quản lý môi trường
Có nhiều khái niệm về sự tham gia, như sự tham gia của cộng đồng, theo
David Wilcox (1994) đã trích dẫn của Sherry Arnstein (1969) mô tả quá trình
tham gia của cộng đồng như là một chiếc thang với tám bước: 1. Sự vận động và
2. Liệu pháp: chưa tạo ra sự tham gia, chỉ có mục đích đào tạo người tham gia.
Giả sử kế hoạch kiến nghị là tốt nhất và phải giành được sự ủng hộ từ cộng đồng
thông qua quan hệ công chúng. 3. Cung cấp thông tin. Đây là bước quan trọng
đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia nhưng thường thông tin chỉ mang tính một
chiều mà không có phản hồi. 4. Tham vấn. Khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc
họp khu dân cư và tham khảo ý kiến cộng đồng. Thường lại chỉ là những nghi
thức. 5. Động viên. Bầu những thành viên xứng đáng vào ủy ban. 6. Hợp tác.
Dàn xếp để phân phối lại quyền lực giữa công dân và nhà cầm quyền. Cả hai đều
phải có trách nhiệm trong lên kế hoạch và ra quyết định. 7.Ủy quyền. Các công
dân phải nắm giữ đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định. Quần
chúng đã có thể chịu trách nhiệm
Tham gia - participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia.
Theo Lương Tiến Dũng (2008) trích dẫn lời của GS Tô Duy Hợp thì tham dự
là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức cao. Và phương pháp
luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ người dân và trở
thành khoa học.
Ngày 19/10/1988, Nhà nước đã ban hành Quyết định 163/HĐBT về
cụ thể của từng đối tượng quản lý. Ở nước ta, quản lý môi trường cần dựa vào
những nguyên tắc sau:
*) Bảo đảm tính hệ thống
Môi trường là một hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp
thành. Các phần tử có bản chất tự nhiên và xã hội khác nhau. Trên cơ sở thu
thập, tổng hợp và xử lý thông tin về hoạt động của các đối tượng trong hệ thống
môi trường, nhiệm vụ của quản lý môi trường là đưa ra các quyết định quản lý
phù hợp nhằm thúc đẩy các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối, hài
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
hòa hướng tới mục tiêu đã định.
*) Bảo đảm tính tổng hợp
Các hoạt động phát triển thường diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau,
dù dưới hình thức nào, quy mô và tốc độ hoạt động ra sao, mỗi loại hoạt động
đều gây ra tác động tổng hợp lên hệ thống môi trường. Vì thế, trong khi hoạch
định chính sách quản lý môi trường cần phải tính đến tác động tổng hợp và hậu
quả của chúng.
*) Bảo đảm tính liên tục và nhất quán
Môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển
thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng. Đặc tính này quy định tính
nhất quán và tính liên tục của tác động quản lý lên môi trường, đòi hỏi không
ngừng nâng cao năng lực dự đoán và xử lý tổng hợp cũng như năng lực quản
lý vĩ mô của Nhà nước.
*) Bảo đảm tập trung dân chủ
Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấp khác nhau. Vì thế, cần phải
bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý môi
trường. Tập trung phải thực hiện trên cơ sở trong bàn bạc, quyết định các vấn đề có
các khâu, các cấp quản lý của Nhà nước.
*) Tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau của quản lý
môi trường, đảm bảo khai thác và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả. Thông
qua việc hoạch định chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia để giảm
tiêu hao năng lượng, tiết kiệm lao động, đảm bảo đầu tư vật chất và tài chính có
trọng điểm.
2.1.2. Các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nông thôn
Với việc phát triển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, ngành
nghề, diện mạo kinh tế nông thôn thời gian qua đã có những thay đổi, góp phần
tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt
tích cực, sự thay đổi này đã tạo áp lực đối với môi trường như gia tăng lượng
chất thải sinh hoạt, chất thải làng nghề; ô nhiễm môi trường nước ngày càng
nghiêm trọng...
Theo Báo cáo Môi trường quốc gia 2014 vừa được Bộ tài nguyên và Môi
trường (TN&MT) công bố, nông thôn Việt Nam đang chịu những sức ép không
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
nhỏ về ô nhiễm môi trường từ các khu - cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất và
sinh hoạt của người dân, doanh nghiệp.
Hiện nay, khu vực nông thôn đang chịu tác động tiêu cực của ô nhiễm
môi trường (bao gồm: ô nhiễm không khí, nước mặt, nước dưới đất, đất nhiễm
hóa chất). gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, phát triển kinh tế - xã hội,
cảnh quan sinh thái.
Đối với môi trường không khí, đáng chú ý nhất là vấn đề ô nhiễm bụi, ô
nhiễm do khí thải NH3, SO2, NO2 tại một số khu công nghiệp, làng nghề. Bên
cạnh áp lực từ nhu cầu nước sạch, nông thôn còn đứng trước nguy cơ ô nhiễm từ
được cấp nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn còn thấp.
Ông Lê Quốc Doanh (2013), Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn cho biết, hiện nay việc quản lý ô nhiễm môi trường nông thôn không
phải đơn giản chỉ về mặt kỹ thuật mà liên quan đến cả tổ chức, cộng đồng nhỏ lẻ
và khó kiểm soát. Trước kia nói đến ô nhiễm là ở thành thị và các khu công
nghiệp, nhưng hiện nay nông thôn lại chính là nơi ô nhiễm mà rất khó khống chế,
khó kiểm soát.
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Bùi Cách Tuyến (2013) cho
rằng, thời gian qua công tác xử lý triệt để cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng, đặc biệt là môi trường nông thôn đã có hiệu quả tích cực. Tuy nhiên cần
thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế hiện nay để có giải pháp đúng đắn và
kịp thời.
Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến đề nghị, Ban chỉ đạo liên ngành xử lý các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thống nhất các bộ, ngành chủ động bố
trí kinh phí thường xuyên cho công tác xử lý ô nhiễm; đề xuất các kế hoạch ODA
vào xử lý ô nhiễm môi trường... Đồng thời, các tỉnh, thành phố cần quan tâm đến
vấn đề xử lý triệt để ô nhiễm môi trường, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm.
Từ kinh nghiệm thực tiễn phát sinh ô nhiễm, các chuyên gia môi trường
cũng cho rằng, đối với việc xử lý nước thải sinh hoạt, chính quyền địa phương nên
vận động dân góp vốn, cùng với ngân sách địa phương để xây mới hệ thống cống
ngầm thoát nước. Từ hệ thống cống ngầm này, nước thải phải được đưa ra hệ
thống tiêu thoát nước lớn của vùng để hạn chế ô nhiễm tới mức thấp nhất cho
nguồn nước ngầm... Các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường ngày càng nhiều, mức
độ gây ô nhiễm ngày một lớn và nguy hại tới sức khỏe của con người. Do vậy tất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
cả mọi người trên hành tinh xanh này đều phải có hành động vầ trách nhiệm của
Page 13