duy trì sự tham gia của người dân trong quản lý TNTN - Pdf 28

LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn tài nguyên thiên nhiên (rừng và đất) trong những năm vừa qua
tại Lào đang có nguy cơ bị cạn kiệt do nhiều nguyên nhân khác nhau. Độ
che phủ rừng của Lào giảm từ 67% xuống còn 47% tại thời điểm năm 1989.
Chương trình giao đất giao rừng nhằm đảm bảo quyền của người dân
trong quản lý, bảo vệ và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất và nước)
đã được Nhà nước Lào thực hiện từ thập niên 90 đến nay. Tuy nhiên, trên
thực tế cho thấy phương pháp tiếp cận của những chương trình này thiếu sự
phù hợp để huy động sự tham gia của người dân trong suốt quá trình. Kết
cục là, người dân không phải là chủ nhân của chính những hoạt động của
mình. Tài nguyên thiên nhiên, mặc dù trên giấy tờ đã có chủ, vẫn chưa thật
sự được quản lý một cách có hiệu quả trên thực tế.
Ngoài ra, các Chương trình giao đất giao rừng còn thiếu nghiên cứu kỹ
lưỡng những giá trị của cộng đồng như các qui định trong luật tục của cộng
đồng trong quản lý và qui hoạch sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên.
Điều này dẫn đến tình trạng, sau khi kết thúc chương trình, tài nguyên thiên
nhiên vẫn không được quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả.
Chương trình giao đất giao rừng tại bản Lóng Lăn, huyện
Luangprabang, tỉnh Luangprabang, Lào được thực hiện bởi sự hỗ trợ, tư vấn
của Chương trình CHESH tại Lào từ đầu năm 2004 đến nay. Chương trình
này đã phát huy một cách tối đa có hiệu quả sự tham gia của người dân vào
trong mọi hoạt động. Ngoài ra, chương trình còn nghiên cứu, kế thừa và
lồng ghép những kiến thức của người dân, các giá trị của cộng đồng (ví dụ,
luật tục truyền thống...) trong cả quá trình từ việc đào tạo thực hành các kiến
thức về luật tài nguyên thiên nhiên, giao đất trên thực địa, giải quyết các
vướng mắc về đất đai, xây dựng các loại bản đồ (hiện trạng, qui hoạch), xây
dựng qui chế cộng đồng trong quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và
qui chế cộng đồng trong quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và qui
hoạch sử dụng đất. Vai trò của người dân được xem như chủ đạo trong mọi
hoạt động của chương trình. Những giá trị về kiến thức bản địa và qui chế
cộng đồng được xem như là phương pháp luận tiếp cận của chương trình

I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ THAM GIA CỦA
CỘNG ĐỒNG
1. KHÁI NIỆM SỰ THAM GIA
1.1. Căn cứ đưa ra khái niệm
Khái niệm này được đưa ra dựa trên các yếu tố sau:
- Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát huy dân chủ cơ sở, phát
huy sức mạnh tổng hợp của người dân trong phát triển kinh tế - văn
hoá – xã hội của đất nước. Mọi hoạt động đều dựa vào sức mạnh
của người dân. Như câu nói của lãnh tụ Hồ Chí Minh nói rằng
“ Dễ trăm lân không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân hiệu cũng xong.”
Sự tham gia chính là phát huy sức mạnh tổng hợp của người dân
- Tài nguyên thiên nhiên, môi trường và con người gắn chặt với
nhau, hoà quyện với nhau không thể tách rời được. Từ đây, môi
trường và điều kiện sống đã tạo cho các cộng đồng có những giá trị
bản sắc văn hóa riêng biệt, những luật tục truyền thống và kinh
nghiệm bản địa riêng biệt. Không ai hiểu mảnh đất, tài nguyên
thiên nhiên của mình bằng chính người dân địa phương. Không ai
hiểu những giá trị luật tục truyền thống bằng chính người dân địa
phương.
Sự tham gia của người dân chính là phát huy những giá trị truyền
thống văn hoá này của các dân tộc.
1.2. Thế nào là sự tham gia
Sự tham gia trong nghiên cứu này được hiểu như là một quá trình tự
nguyện, đồng trách nhiệm và đồng quyết định của từng thành viên và cả
cộng đồng trong công việc.
Tìm hiểu và xác định thứ tự ưu tiên các bức xúc, nhu cầu của từng
thành viên, gia đình và toàn cộng đồng để từ đó mới có thể tác động đúng
với nhu cầu thực tế của họ, sau khi có được chính xác những bức xúc trong
cộng đồng từ đó mới có thể tìm ra và xác định những thứ tự ưu tiên các

cùng sinh sống trong một vùng địa lý nhất định, có cùng ngôn ngữ tiếng nói,
có cùng bản sắc văn hóa, cùng quản lý và sử dụng chung nguồn tài nguyên
thiên nhiên và có cùng chung một sở thích và mối quan tâm.
3. THẾ NÀO LÀ QUI CHẾ CỘNG ĐỒNG
a) Khái niệm quy chế cộng đồng trong quản lý TNTN
Trước hết cần phải hiểu nguồn gốc của quy chế cộng đồng: Nó được
xuất phát từ những luật tục truyền thống của cộng đồng, đó chính là các qui
định bất thành văn được lưu truyền thông qua hệ thống giáo dục phi chính
thống từ người này sang người khác, từ bố mẹ sang con cái. Nói một cách
đơn giản, trong cộng đồng có những việc nên làm hay không nên làm đó
chính là luật tục. Qui chế cộng đồng là các giá trị chuẩn mực của cộng đồng
nhằm điều chỉnh các hành vi, cách ứng xử của con người, giữa người trẻ với
người già, giữa người sống và người chết, giữa con người với tự nhiên.
Các khái niệm qui chế cộng đồng, kinh nghiệm bản địa và cộng đồng
được chương trình CHESH Lào hiểu như sau:
Kinh nghiệm bản địa chính là sự thích ứng và thích nghi qua nhiều thế
hệ của một cộng đồng và dân tộc trong các mối quan hệ giữa môi trường xã
hội và môi trường tự nhiên. Hay nói cách khác, kinh nghiệm bản địa chính
là sự kết tinh của sức sáng tạo của con người trong lao động, sản xuất. Kinh
nghiệm bản địa có thể được lưu giữ và thực hành bởi tất cả các thành viên
trong cộng đồng. Tuy nhiên, nó phản ánh được tính đặc thù của một nhóm
người, cộng đồng và một dân tộc trong một vùng địa lý nhất định. Nó được
lưu truyền từ đời này qua đời khác thông qua quá trình giáo dục phi chính
thống (giáo cụ thực hành).
Tính bền vững của qui chế cộng đồng được thể hiện qua nhận thức, ý
thức, thái độ và hành vi tự nguyện của từng thành viên trong quản lý và bảo
vệ rừng. Nhận thức của người dân bản Lóng Lăn thông qua luật tục bất
thành văn được giáo dục bằng nhiều hình thức khác nhau. Họ được giáo dục
từ bé đến lớn và trở thành ý thức trong quản lý, bảo vệ rừng.
b) Nội dung bản quy chế cộng đồng trong quản lý TNTN

Tại Việt Nam, nhà nước luôn tôn trọng các quy định của cộng đồng trong
việc xử phạt những người vi phạm việc săn bắt thú rừng, đặc biệt là săn bắt
những con vật thiêng của dòng họ, của cộng đồng.
Quy định quyền hạn, trách nhiệm của bản, hội đồng già làng là người
quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến việc thực hiện quy chế cộng đồng
của những người trong và ngoài bản. Trưởng bản là người tư vấn pháp luật
nhà nước và là người thực thi các quyết định của hội đồng già làng trong
việc thực hiện quy chế của người dân. Tổ bảo vệ rừng của bản có trách
nhiệm theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện quy chế của những người trong
và ngoài cộng đồng. Bắt giữ, thu tang vật của những người vi phạm đưa về
bản để hội đồng già làng giải quyết.
Quy định phương thức quản lý sử dụng trong từng loại đất rừng Ví dụ
với rừng cấm, Nhà nước quy định là bảo tồn gen các loại cây, còn người
Hmông lại quan tâm xem rừng đó thần rừng có ở được hay không. Họ quan
tâm đến niềm tin nhiều hơn và đằng sau đó là bảo vệ rừng.
Họ quy định mặc dù đó là rừng sản xuất nhưng những người sống đến
10 năm mới được chặt cây làm nhà và mới được phép khai thác gỗ. Mục
đích đó để những người đến ở mới hiểu được các giá trị của rừng mới được
chặt, khai thác rừng. Còn trong luật Nhà nước thì quy định rừng sử dụng là
rừng được khai thác sử dụng được luôn không cần phải có thêm quy định gì
có liên quan đến giá trị của rừng.
Quy chế cộng đồng về quản lý, sử dụng và phát triển rừng và tài nguyên
rừng của bản được sự phê duyệt của chủ tịch UBND huyện, và được ký bởi
Hội đồng già làng, Trưởng bản và UBND huyện.
Nội dung của quy chế cộng đồng này phải được đưa kèm theo bản đồ
quy hoạch sử dụng đất của bản và quyết định của Uỷ ban Nhân dân huyện,
tỉnh. Trong đó nội dung quy chế, phải được cộng đồng bản, huyện, tỉnh
thống nhất về nội dung cũng như các điều trong quy chế.
c) Vai trò của quy chế cộng đồng trong quản lý TNTN
Là các luật tục của cộng đồng để cộng đồng dựa vào đó làm cơ sở để

Nhà nước Lào đã có quyết định cụ thể về tăng cường sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý các hoạt động phát triển tại cấp cở sở.
Căn cứ vào luật của Nhà nước Lào trong đó có các loại như: Luật đất
đai, Luật bảo vệ môi trường, Luật về rừng, Luật về nước và tài nguyên
nguồn nước. Ví dụ trong
*
Trong điều 63 - mục 6 - Luật Lâm nghiệp Lào ghi
rõ: Bản cần xây dựng quy chế riêng về quản lý, bảo vệ rừng, nguồn nước,
động vật dưới nước, thú rừng và môi trường thiên nhiên phù hợp với tình
hình thực tế của bản.
Trong mục 4 của quy định về việc quản lý, sử dụng đất nông nghiệp,
lâm nghiệp có các thành phần tham gia của tỉnh Luang Prabang có ghi:
Trước mắt không chỉ quản lý đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp, nguồn nước
trong nội bộ của bản mà giúp cho việc quản lý các loại đất và nguồn nước
trên trong khu vực của các bản lân cận. Vì vậy cho nên, người dân các bản
lân cận ít nhất cũng phải thấu hiểu và cần có sự tham gia đóng góp trong
việc xây dựng quy chế đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp. Từ đó việc hợp tác
và phối hợp giữa các bản mới có sáng kiến. Trong điều 4 của Luật đất đai đã
quy định về khuyến khích phát triển đất đai. Nhà nước khuyến khích mọi
thành phần kinh tế và xã hội tham gia vào việc phát triển đất bằng cách đề ra
những chính sách, phương pháp và biện pháp, để quản lý điều hành thật tốt,
để làm cho đất tốt lên và làm tăng giá trị của đất. Điều 63 Luật lâm nghiệp
đã quy định các cộng đồng cần xây dựng quy chế trong quản lý bảo vệ rừng
tại vùng quản lý của mình.
Căn cứ vào NĐ 09 của Nhà nước Lào ra ngày 08 tháng 06 năm 2004
của ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân Dân Cách mạng Lào, về xây
dựng thôn bản và cụm bản phát triển.
Tóm lại: Các văn bản pháy lý của Nhà nước Lào đã quyết định rất rõ về
yêu cầu phải có sự tham gia của cộng đồng trong quản lý TNTN. Sưm tham
gia của cộng đồng trong xây dựng quy chế chỉ là một bước cụ thể hoá việc

a) Quá trình xây dựng qui chế cộng đồng về bảo vệ TNTN phải
được sự tham gia đầy đủ của người dân, phải kết hợp hài hoà những ưu
tiên của Nhà nước với nhu cầu và mong muốn của dân địa phương
Trong việc quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp phải được sự
tham gia đầy đủ và tích cực của những người dự đích sẽ được giao đất lâm
nghiệp và được hưởng lợi từ mạnh đất của mình mà được Nhà nước giao.
Quá trình xây dựng quy chế cũng không khác gì với sự tham gia trong các
hoạt động GĐGR. Xây dựng quy chế cộng đồng phải được sự tham gia đầy
đủ của từng thành viên trong cộng đồng, những người dân sống trong các
làng và xã cũng phải được tham gia ngay từ khi bắt đầu quá trình.
Những phương pháp và công cụ cùng tham gia như đánh giá đói
nghèo có sự tham gia của người dân (PPA) và đánh giá nhanh nông thôn
(RRA) cần được sử dụng nhằm khuyến khích sự tham gia của mọi người
dân địa phương có liên quan. Sau đó việc chỉ đạo thực hiện cả quá trình sẽ
được chuyển sang những người có trách nhiệm ở cơ sở và cộng đồng với sự
hỗ trợ của tổ công tác thực hiện việc xây dựng quy chế cộng đồng về bảo
vệ TNTN.
Quá trình xây dựng quy chế cộng đồng về quản lý TNTN phải kết hợp
hài hoà những mục đích lâu dài của nhà nước để phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường với những nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương.
Quy chế cộng đồng trong quản lý TNTN được xem như là bước đầu tiên
cho việc bảo vệ TNTN tại vùng núi, nhằm mục đích dần dần từng bước ổn
định việc sử dụng TNTN phục vụ cho sản xuất ở vùng trung du và vùng núi
một cách hiệu quả và bền vững, để từ đó ổn định và phát triển kinh tế hộ gia
đình.
b) Phù hợp với luật pháp đã được Nhà nước ban hành
Quá trình xây dựng quy chế cộng đồng về bảo vệ TNTN cần được
triển khai và thực hiện trong khuôn khổ luật pháp và hành chính hiện hành ở
cấp Trung ương, tỉnh và huyện, xã.
c) Đảm bảo công bằng, người dân tự nguyện, không ép buộc

bộ và kỹ thuật viên của Nhà nước ở tất cả các cấp, khi xuống làng, xã làm
việc. Phải đảm bảo sự hợp tác liên ngành giữa lâm nghiệp, nông nghiệp, địa
chính và những đơn vị liên quan.
Tổ công tác ở cấp huyện và cán bộ chỉ đạo cần hỗ trợ cho dân ở các
làng, xã trong việc chuẩn bị kế hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp
cũng như xây dựng quy chế trong bảo vệ nguồn TNTN và đất nông nghiệp,
giúp người dân hiểu được những chính sách và cơ chế liên quan, tiến hành
hưỡng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ các thủ tục hành chính trong suốt quá trình thực
hiện.
g) Quy chế cộng đồng trong bảo vệ TNTN phải được xây dựng sau
khi tiến hành GĐGR
Trước khi xây dựng quy chế cộng đồng trong quản lý bảo vệ TNTN
phái có hoạt động GĐGR của làng, xã trong đó đề ra những mục tiêu lâu dài
và định hướng xác định và trình bày những cách sử dụng đất khác nhau cho
một khu vực. Thông qua đó, những khu đất dành cho sản xuất nông nghiệp,
đất nông nghiệp trông cây hành năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm và
các khu rừng bảo vệ, rừng phòng hộ … phải được xác định một cách rõ
ràng.
h) Tôn trọng các kinh nghiệm của địa phương
Mỗi một cộng đồng nhất là người dân tộc thiểu số đều có những luật
tục truyền thống trong việc sử dụng cũng như bảo vệ TNTN riêng của mình.
Phương pháp tiến hành phải linh hoạt khi thiết kế và thực thi để tôn trọng
tập quán địa phương và sử dựng kiến thức bản địa trong việc xây dựng quy
chế cho phù hợp và sát thực với đời sống thực tế của địa phương.
i) Đảm bảo sự phát triển cân bằng giữa hai phương pháp từ trên
xuống và từ dưới lên
Cần thể hiện đây đủ yếu cầu đổi mới của chính sách, quá trình xây
dựng quy chế cộng đồng phải được kết hợp giữa Trung ương và địa phương,
Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Việc xây dựng quy chế cộng đồng bảo vệ TNTN cần phải xem xét cả

c) Sau khi nghiên cứu, bổ sung, các cán bộ chuyên môn này xuống
bản để trao đổi, chia sẻ với các già làng, những người có uy tín trong bản,
nhằm:
Trao đổi, chia sẻ những vấn đề cần bổ sung trong quy chế của bản.
Lắng nghe những nhu cầu, bức xúc, mong muốn của cộng đồng về quản lý,
sử dụng rừng và tài nguyên thiên nhiên. Cùng dân tìm ra các nguyên nhân
và giải pháp và thống nhất bản quy chế quản lý, bảo vệ và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên của bản (quy chế lần 2).
d) Các cuộc họp với các lãnh đạo, các già làng của các bản kề cận
nhằm:
Quy chế cộng đồng được xây dựng bởi sự tham gia của tất cả cộng
đồng có liên quan để đảm bảo được tính bền vững của quy chế, quy chế phải
xin ý kiến góp ý của các bản kề cận. Phải nắm bắt các nhu cầu, bức xúc của
các bản kề cận, từ đó cùng thống nhất các giải pháp giải quyết để thống nhất
được bản quy chế quản lý, bảo vệ, sử dụng TNTN của bản (quy chế lần 3)
e) Tổ chức cuộc họp giữa cộng đồng bản, đại diện các bản kề cận
với đại diện chính quyền huyện, kiểm lâm huyện, kiểm lâm tỉnh
Sau khi có được các ý kiến của người dân các bản kề cận, để đảm
bảo các ý kiến đó được bổ sung vào bản quy chế một cách bình đẳng, cần
phải tổ chức cuộc họp giữa cộng đồng bản, đại diện bản kề cận, với đại diện
chính quyền huyện, kiểm lâm huyện, kiểm lâm tỉnh, nhằm xin ý kiến đóng
góp vào bản quy chế của chính quyền huyện và cơ quan kiểm lâm huyện
cúng như của cơ quan kiểm lâm tỉnh. Cán bộ cấp huyện, cấp tỉnh hiểu được
những bức xúc của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và sử dựng TNTN. Đến
đây phải thống nhất được bản quy chế bảo vệ, sử dụng TNTN của bản, sau
khi có ý kiến của cấp chính quyền và kiểm lâm (quy chế lần 4).
f) Trình và phê duyệt quy chế quản lý, bảo vệ và sử dụng TNTN
của bản từ các cấp có thẩm quyền.
g) Sau khi bản quy chế cấp trên phê duyệt, phải được photo ra
nhiều bản nhằm:

được sự tham gia của cộng đồng nhưng nó cũng tạo tiền đề cho việc chuẩn
bị các điều kiện thực hiện các hoạt động phát triển, và là cơ sở để tiến dần
lên các cấp độ tham gia cao hơn.
Đây là hình thức cộng đồng tham gia mang tính bị động nên cộng
đồng không được tham gia vào việc chuẩn bị cho các quyết định trong các
hoạt động phát triển có liên quan đến cộng đồng. Vì thế hoạt động phát triển
vẫn còn có nguy cơ không phù hợp với mong đợi của cộng đồng, đặc biệt
là trong hoạt động xây dựng quy chế cộng đồng . Vì sự tham gia là bị động
nên không có được thông tin ngược từ cộng đồng kết quả là chúng ta không
nhận được hiệu ứng tích cực đối với việc thực hiện hoạt động phát triển từ
phía cộng đồng.
Cách làm trong hình thức này, các nhà quản lý cũng như cán bộ làm
công tác phát triển dựa vào quy định hành chính để thực hiện, cộng đồng
được biết qua các thông báo, và thông tin đến cộng đồng từ các phương tiện
đại chúng, báo chí.
1.2. Hình thức tham gia bằng việc cung cấp thông tin
Đây là hình thức tham gia mà trong đó người dân trả lời các câu hỏi
được đặt ra từ phía cán bộ thực hiện hoạt động phát triển, cũng như các nhà
lãnh đạo, nhà nghiên cứu để làm cơ sở cho việc hình thành các quyết định
cho hoạt động phát triển.
Hình thức này mang tính chất bán chủ động, tức là vừa mang tính chủ
động và mang tính vừa bị động nó mang tính chủ động vì cộng đồng được
trả lời các câu hỏi và được cung cấp thông tin mà các nhà quản lý, nhà lãnh
đạo và cán bộ phát triển đặt ra. Mang tính bị động vì không nắm được ý
nghĩa hay tác dụng của những thông tin từ cộng đồng cung cấp, họ không
biết được là thông tin đó để làm gì.
Ngoài ra hình thức này còn mang tính hai chiều nhưng không đầy đủ
việc cung cấp thông tin, người dân không nắm vững được mục tiêu của việc
cung cấp thông tin. Cộng đồng không được phản ứng lại tác dụng của việc
cung cấp thông tin đó.

Đây là hình thức tham gia cao nhất đối với việc chuẩn bị cho một
quyết định của một hoạt động phát triển. Quyết định này là cơ sở chắc chắn
phù hợp với ý nguyện của cộng đồng.
1.4. Tham gia vị lợi
Đây là hình thức tham gia trong đó gắn với quyền lợi vật chất trực
tiếp, là hình thức tham gia mang tính chất cung cấp nguồn lực. Hình thức
này sử dụng được nguồn lực của cộng đồng cho việc thực hiện hoạt động
phát triển.
Mặc dù vậy nhưng hình thức này cũng tạo nên tâm lý vị lợi cho người
dân, dẫn đến việc họ sẽ không tham gia nếu lợi ích vật chất không bảo đảm
cho họ. Nhưng trong tất cả các hoạt động phát triển muốn bền vững được lợi
ích vật chất chỉ là một phương tiện phục vụ, vậy muốn cho sự tham gia bằng
hình thức này đạt hiệu quả cao, trước hết phải tuyên truyền ý nghĩa của
công việc cho cộng đồng tham gia tự nguyện.
1.5. Tham gia vị chức
Là hình thức tham gia của cộng đồng mà sự tham gia đó được gắn
liền với một trách nhiệm cụ thể trong quá trình thực hiện cũng như trong
giám sát việc thực hiện hoạt động phát triển và trong việc sử dụng các thành
quả của các hoạt động phát triển đó.
Hình thức này cho phép sử dụng triệt đề nguồn lực của cộng đồng.
Vậy để đảm bảo sự tham gia bằng hình thức vị chức này phải nâng cao năng
lực quản lý và trình độ cho cộng đồng.
1.6. Tham gia tương hỗ
Là hình thức tham gia của cộng đồng vào trong các hoạt động phát
triển trong hình thức tương hỗ đó là hình thức tham gia của cộng đồng bằng
cách tổng hợp các loại hình thức đã nêu ở phần trên.
2. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG SỰ THAM GIA CỦA CỘNG
ĐỒNG
2.1. Tính minh bạch
Tính minh bạch ở đây muốn nói đến tỷ lệ phần trăm triển khai hoạt

Là các nhân tố trong nội tại của từng thành viên trong cộng đồng hoặc
đó là nhận thức suy nghĩ của từng con người từng vị trí trong cộng đồng.
Nhưng thực tế trong cộng đồng cũng có mức độ khác nhau về nhận thức, sự
hiểu biết có thể khác nhau theo thành phần nhóm tuổi, giới tính, ví dụ: nhóm
già làng, họ khác với nhóm thành niên và khác với nhóm phụ nữ vì già làng
họ rất am hiểu về luật tục của mình trong quản lý và bảo vệ TNTN vì vậy họ
rất nhiệt tình tham gia vào trong xây dựng quy chế để từ đây có thể được
truyền đạt các luật tục đó cho con cháu những thế hệ trẻ sau này.
Còn những người phụ nữ đặc biệt là phụ nữ người Hmông hàng ngày họ
chỉ biết làm nương rẫy, ít có cơ hội tiếp xúc với bên ngoài cho nên họ sẽ ít
tham gia hơn và sự hiểu biết của họ về luật tục cũng ít hơn so với những
người đàn ông và các già làng.
3.2. Các nhân tố khách quan
Các nhân tố luật pháp, chủ trương của Nhà nước tác động đến sự tham
gia, muốn phát huy được sự tham gia tại cấp cơ sở cấp địa phương thì phải
cần có luật pháp nhằm đảm bảo và khuyến khích người dân tham gia.

Trích đoạn Tạo cơ hội và điều kiện để các già làng, lãnh đạo bản và ban chỉ đạo GĐGR bản Lóng Lăn trao đổi và thống nhất lần cuối cùng ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 1 Về mức độ sự tham gia Tổ chức tập huấn 6 42 ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG QUI CHẾ QUẢN LÝ TNTN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status