Sự tham gia của người dân trong quản lý rừng bền vững - Pdf 13

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG QUẢN LÝ RỪNG BỀN
VỮNG - TRƯỜNG HỢP QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH BẮC KẠN
Nguyễn Bá Ngãi
1
, Trần Ngọc Thể
21. Quan điểm về quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng
Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững đã trở thành một nguyên tắc
đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh
doanh rừng phải đạt tới. Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm
phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã
đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ
mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất
tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi
trường tự nhiên và xã hội.
Nhìn chung, quản lý rừng bền vững phải đảm bảo 2 nguyên lý, đó là:
Thứ nhất, quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các
mục tiêu đề ra như sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ…;
phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, phòng chống cát bay, phòng chống sạt lở
đất…; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái…
Thứ hai, đảm bảo bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể là bền
vững về kinh tế là đảm bảo kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu
quả ngày càng cao; bền vững về mặt xã hội là đảm bảo kinh doanh rừng phải tuân
thủ luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, đảm bảo quyền hạn
và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân và cộng đồng địa phương;
bền vững về môi trường là kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi
trường và duy trì được đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối
với hệ sinh thái khác.

thành một phương thức quản lý rừng mà ở đó ”Sự tham gia của cộng đồng” được
khẳng định thông qua quá trình quản lý rừng, đó là xác định vấn đề (dân biết); lập
kế hoạch (dân bàn); thực hiện (dân làm); giám sát và đánh giá (dân kiểm tra).
Với 2 nguyên lý cho quản lý rừng bền vững nêu trên, vai trò về sự tham gia
của người dân, của cộng đồng thông qua quản lý rừng cộng đồng hay quản lý rừng
dựa vào cộng đồng sẽ đảm bảo quản lý rừng bền vững. Quản lý rừng bền vững để
đáp ứng các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Muốn quản lý rừng bền vững
phải có sự tham gia của người dân, của cộng đồng thông qua các phương thức
quản lý rừng có sự tham thích hợp. Quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng ở
một số địa phương tại tỉnh Bắc Kạn sẽ trình bày dưới đây bước đầu phản ánh thực
tiễn sinh động này.
2. Đặc điểm chung của tỉnh Bắc Kạn liên quan đến quản lý rừng
Bắc Kạn là tỉnh miền núi vùng cao, nằm sâu trong lục địa, xa biên giới và các
trung tâm kinh tế phát triển. Là tỉnh có địa hình phân dị lớn do sự kiến tạo bởi
canh cung Ngân Sơn -Yên Lạc và cánh cung sông Gâm nên có địa hình chia cắt
mạnh. Diện tích núi đá dốc chiếm tỷ lệ cao đã hình thành những thung lũng nhỏ,
hẹp gây khó khăn cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nông thôn. Là một
tỉnh có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, do ảnh hưởng của vị trí địa lý, địa hình
nên khí hậu Bắc Kạn có nhiều nét đặc trưng như gió lốc, mưa đá, băng giá và
sương muối thường xuất hiện gây thiệt hại lớn cho cây trồng và vật nuôi. Bắc Kạn
nằm trong vùng đầu nguồn của các sông lớn như: sông Cầu, sông Năng, sông Gâm,
sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang. Dòng chảy của các con sông này qua địa phận tỉnh
Bắc Kạn thường dốc, có nhiều thác ghềnh, lòng sông hẹp, vách sông dạng chữ V,
sức xói mòn mạnh; về mùa khô thường xuất hiện hạn hán, mùa mưa thường xuất
hiện lũ quét làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Đây cũng
là tỉnh giàu tài nguyên rừng và khoáng sản nhưng phân bố phân tán, không tập
trung nên việc khai thác, chế biến gặp nhiều khó khăn.
Năm 2007, dân số tỉnh Bắc Kạn là 305.800 người, mật độ trung bình 62
người/km
2

năm 2007. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh theo kết quả rà soát, quy
hoạch lại 3 loại rừng cụ thể như sau:
Tổng diện tích tự nhiên: 486.842 ha.
Trong đó: Diện tích đất lâm nghiệp: 388.049 ha.
Cụ thể:
- Rừng sản xuất: 268.339,4 ha.
+ Đất có rừng: 169.978 ha.
+ Đất chưa có rừng: 98.361,4 ha.
- Rừng phòng hộ: 94.127,6 ha.
+Đất có rừng: 69.268,5 ha.
+ Đất chưa có rừng: 24.859,1 ha.
- Rừng đặc dụng: 25.582 ha.
+ Đất có rừng: 24.257,5 ha.
+ Đất chưa có rừng: 1.324,5 ha.
Những kết quả như trên mặc dù rất đáng khích lệ nhưng vẫn chưa phản ánh
đúng tiềm năng và thế mạnh của tỉnh. Một trong những nguyên nhân có thể xem là
gây trở ngại lớn trong phát triển kinh tế lâm nghiệp đó là công tác quy hoạch lâm
nghiệp còn thiếu đồng bộ và chưa kịp thời như: giao đất giao rừng còn chậm; qui
hoạch cơ sở hạ tầng lâm nghiệp và qui hoạch các cơ sở chế biến lâm sản còn yếu
kém đã làm khó khăn trong việc lựa chọn cơ cấu loài cây trồng, khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực lâm nghiệp…
Từ năm 1992, tỉnh Bắc Kạn đã thực hiện chủ trương giao đất giao rừng cho
các đối tượng, trong đó có hộ gia đình và cộng đồng dân cư thôn bản. Đến nay,
Nhà nước giao cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý bảo vệ là 76.969 ha, trong
đó có 24.479 ha đã giao cho cộng đồng quản lý. Một phần diện tích lớn rừng và
đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời nhưng chưa được thống
kê đầy đủ, ước tính trên 50.000 ha - đây là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó
nước, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng. Đó cũng còn
là tập tục rừng làng bản, “rừng của ông cha” - tập tục này vẫn được duy trì đến
nay tại Bắc Kạn; có thể nói đó vừa là thuận lợi cho việc bảo vệ và phát triển rừng,

- Tại các bản đã hình thành các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và có quy ước
riêng để quản lý rừng.
- Ngoài mục đích kinh doanh gỗ củi từ rừng được giao, rừng cộng đồng còn
có mục đích bảo vệ đầu nguồn, lưu vực và đóng vai trò quan trọng trong đời sống
cộng đồng.
- Bảo vệ tốt vốn rừng được giao, hạn chế được tình trạng khai thác trái phép,
phát nương làm rẫy trên diện tích đã giao, phát huy năng lực sản xuất của rừng.
- Thu hút lao động trên địa bàn tham gia bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng
phá rừng trái phép góp phần tăng thu nhập cho người dân, từ đó hạn chế được các
tệ nạn xã hội, nâng cao ý thức lâm nghiệp cộng đồng.
- Góp phần bảo vệ môi trường trong sạch, giảm ô nhiễm môi trường giữ
nguồn nước cho vùng hạ lưu.
3.2. Những kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng
3.2.1. Đối với diện tích rừng đã giao cho cộng đồng quản lý
- Rừng cộng đồng ít được đầu tư của Nhà nước nhưng vẫn được quản lý tốt.
Chủ yếu cộng đồng dân cư tự tổ chức quản lý, bảo vệ và khai thác các lợi ích khác
của rừng.
- Giao rừng cho cộng đồng đã đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của
người dân trong cộng đồng, khuyến khích người dân tham gia các hoạt động bảo
vệ và sản xuất kinh doanh nghề rừng. Tại các bản đã xây dựng được quy ước bảo
vệ phát triển rừng nên việc quản lý bảo vệ rừng sau khi giao được chặt chẽ hơn,
công tác PCCC rừng được thực hiện tương đối tốt.
Bên cạnh những ưu điểm còn một số tồn tại, đó là:
- Khó khăn lớn nhất là luật pháp, chính sách chưa phù hợp, chưa công nhận
cộng đồng là một chủ thể có đầy đủ tư cách pháp nhân để được hưởng các quyền
lợi về giao đất giao rừng, về vay vốn tín dụng hoặc là chủ thể đầy đủ để đàm phán,
ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Cộng đồng bản không phải là một đơn vị hành chính trong hệ thống hành
chính của quốc gia vì vậy các thủ tục hành chính trong việc xây dựng các quy
hoạch, kế hoạch, quy ước bảo vệ và phát triển rừng… chỉ đóng vai trò tham gia

và thôn Khuổi Liềng, xã Văn Minh) đều đã được UBND huyện Na Rì cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư thôn, cụ thể:
- Thôn Bản Sảng: được giao 3 thửa có tổng diện tích 1.902.596 m
2
.
- Thôn To Đoóc: được giao 2 thửa có tổng diện tích 451.276 m
2
.
- Thôn Nà Mực: được giao 2 thửa có tổng diện tích 1.183.463 m
2
.
- Thôn Khuổi Liềng: được giao 4 thửa có tổng diện tích 1.211.193 m
2
.
b) Thành lập Ban quản lý rừng cộng đồng và xây dựng quy chế
Thành lập được 2 ban quản lý rừng cộng đồng xã Lạng San và xã Văn Minh.
Thành phần ban quản lý gồm chủ tịch UBND xã, cán bộ địa chính và cán bộ
khuyến nông xã. Tại 4 thôn đã thành lập 4 ban quản lý rừng cộng đồng cấp thôn,
mỗi ban có 5 người. Tại 4 thôn đã xây dựng quy chế quản lý rừng cộng đồng và
quy chế quản lý quỹ phát triển rừng.
Dự án CARD (Tăng cường năng lực trong Nông nghiệp và PTNT) hỗ trợ
cho mỗi thôn dự án 13.000.000 đồng để thành lập quỹ phát triển rừng. Trong quá
trình thực hiện dự án các thôn đã sử dụng vào các mục đích khác nhau như chi chè
nước phục vụ các hoạt động rừng cộng đồng, mua sắm dụng cụ tuần tra rừng, cho
các hộ trong thôn vay với lãi suất thấp… và thu từ những khoản đóng góp của các
lớp tập huấn, lãi suất cho vay, bán cây giống… Qua kiểm tra các thôn sử dụng quỹ
đúng mục đích và phù hợp với quy chế quản lý quỹ phát triển rừng của các thôn đã
xây dựng, cụ thể quỹ của các thôn đến 31/8/2008:
- Xã Lạng San còn 9.704.500 đ, trong đó:
+ Thôn Bản Sảng còn: 5.359.500 đ.

- Xã Văn Minh đã trồng được hơn 15 ha, trong đó:
+ Thôn Nà Mực đã trồng được hơn 7 ha.
+ Thôn Khuổi Liềng đã trồng được hơn 8 ha.
e) Kết quả và tác động tích cực từ quản lý rừng cộng đồng
Quản lý rừng cộng đồng tại 2 xã Văn Minh và Lạng San, huyện Na Rì đã
đem lại những hiệu quả thiết thực cho người dân cũng như trong công tác quản lý
bảo vệ rừng tại địa phương, cụ thể:
- Những diện tích đất lâm nghiệp chưa có chủ nay đã được UBND huyện Na
Rì giao cho cộng đồng dân cư thôn quản lý (có giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất). Đã ngăn chặn và răn đe được những hành vi phá rừng làm nương rẫy, khai
thác rừng trái phép.
- Trên diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng đã xây dựng các kế
hoạch hàng năm về trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, xây dựng mô hình
nông lâm kết hợp, từ đó nhân rộng ra các mô hình hộ gia đình, cá nhân.
- Người dân được chuyển giao kỹ thuật về xây dựng vườn ươm, mô hình
nông lâm kết hợp, kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc và khai thác rừng bền vững.
Được học tập các quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ rừng.
- Người dân được đầu tư xây dựng các vườn ươm cấp thôn bản, chủ động
nguồn giống tại chỗ để trồng rừng cộng đồng và trồng rừng cá nhân.
- Các thôn dự án được cấp nguồn quỹ ban đầu để triển khai các hoạt động
của dự án cũng như cho người dân trong thôn vay với lãi suất thấp phục vụ cho
sản xuất, chăn nuôi. Ngoài ra, các thôn có thể khai thác sản phẩm từ các mô hình
nông lâm kết hợp để bổ sung vào nguồn quỹ.
4. Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, quản lý rừng bền vững dựa vào cộng
đồng tại Bắc Kạn còn có một số khó khăn vướng mắc sau:
- Thứ nhất, cộng đồng chưa phải là chủ thể có đầy đủ tư cách pháp nhân để
được hưởng các quyền lợi về giao đất giao rừng, về vay vốn tín dụng ưu đãi như
các tổ chức nhà nước và hộ gia đình để bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng;
miễn giảm thuế tài nguyên khi khai thác rừng tự nhiên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status