HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HỒ QUANG THẮNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC HỢP TÁC
TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN Ở
HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------------***---------------
HỒ QUANG THẮNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC HỢP TÁC
TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN
Ở HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Phúc Thọ
HÀ NỘI, 2015
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ trong UBND huyện Gia Lâm, phòng Kinh
tế huyện Gia Lâm, Thống kê huyện Gia Lâm và các cơ quan, đơn vị có liên quan đã
tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu một cách hệ thống, đóng góp ý kiến, cung cấp
thông tin để tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Nội vụ huyện Gia Lâm nơi tôi công tác và gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Hồ Quang Thắng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
4
2.1
Cơ sở lý luận
4
2.1.1
Một số khái niệm cơ bản
4
2.1.2
Sự cần thiết hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
9
2.1.3
Các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Thực trạng phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ
rau an toàn ở một số địa phương của Việt Nam
2.2.3
2.2.4
Bài học kinh nghiệm phát triển hợp tác sản xuất tiêu thụ rau an toàn ở
huyện Gia Lâm
40
Một số công trình nghiên cứu liên quan
43
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1
36
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
45
45
Page iv
54
3.2.2
Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
55
3.2.3
Phương pháp xử lý số liệu
56
3.2.4
Phương pháp phân tích thông tin
56
3.2.5
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
57
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
59
65
Các hình thức hợp tác sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn
huyện Gia Lâm
4.2.2
65
Các phương thức hợp tác đã được áp dụng trong sản xuất và tiêu thụ
RAT ở vùng RAT trọng điểm huyện Gia Lâm
67
4.2.3
Tình hình hợp tác trong mua sắm các yếu tố đầu vào
68
4.2.4
Tình hình hợp tác trong quá trình chăm sóc, thâm canh RAT
75
4.2.5
Tình hình hợp tác trong thu hoạch RAT
Page v
4.3
Định hướng và giải pháp phát triển hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ
rau an toàn trên địa bàn huyện Gia Lâm
102
4.3.1
Định hướng tăng cường quan hệ hợp tác trong sản xuất tiêu, thụ rau an toàn 102
4.3.2
Giải pháp tăng cường quan hệ hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 103
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
118
5.1
Kết luận
118
5.2
ĐVT
Đơn vị tính
GAP
Good Agriculture Production
Thực hành nông nghiệp tốt
HTXDVNN
Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
HTX
Hợp tác xã
RAT
Rau an toàn
SX
Sản xuất
SX&TT RAT
Sản xuất và tiêu thụ RAT
48
Bảng 3.3
Tình hình cơ sở hạ tầng huyện Gia Lâm năm 2014
50
Bảng 3.4
Tình hình phát triển kinh tế của huyện Gia Lâm giai đoạn 2012 2014
52
Bảng 3.5
Bảng thu thập mẫu điều tra
56
Bảng 4.1
Biến động tỷ lệ diện tích RAT/tổng diện tích các năm 2005-2014
60
Bảng 4.2
Năng suất RAT trên địa bàn huyện theo chủng loại rau các năm 20122014
Hợp tác trong tạo vốn đầu tư cho RAT của các hộ điều tra
61
Bảng 4.9
Tình hình hợp tác của hộ với đơn vị trong mua vật tư
70
Bảng 4.10 Kết quả đầu tư ứng trước cho các hộ nông dân sản xuất RAT
huyện Gia Lâm năm 2012 - 2014
73
Bảng 4.11 Thông tin cơ bản về các HTX RAT năm 2014
73
Bảng 4.12 Tình hình hỗ trợ các yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp, tổ chức
đối với hộ sản xuất RAT
75
Bảng 4.13 Tình hình hợp tác của các hộ trong chăm sóc RAT
76
Bảng 4.14 Hợp tác chuyển giao kỹ thuật chăm sóc RAT của các hộ
86
Bảng 4.21 Nguyện vọng của hộ nông dân
87
Bảng 4.22 Các loại hình kinh tế hợp tác ký kết hợp đồng với các doanh
nghiệp về hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ RAT năm 2014
89
Bảng 4.23 Tình hình tổ chức dịch vụ của HTX, tổ hợp tác năm 2014
90
Bảng 4.24 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, tổ hợp tác năm
2014
91
Bảng 4.25 Một số chỉ tiêu cơ bản của nhóm hộ điều tra
97
Bảng 4.26 Năng lực cán bộ quản lý của HTX, tổ hợp tác
98
Bảng 4.27 Tình hình tập huấn cho cán bộ chủ chốt HTX, tổ hợp tác
81
Biểu đồ 4.1 Tình hình hợp tác giữa các hộ trong mua máy móc, công cụ lao
động
Đồ thị 4.1
Biến động diện tích rau và diện tích RAT giai đoạn 2005-2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
74
59
Page x
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất và tiêu thụ rau an toàn luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan
tâm chỉ đạo nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giá trị sản xuất nông nghiệp, cải
thiện đời sống cho người nông dân, ổn định an sinh xã hội, góp phần quan trọng đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Từ năm 1994, thành phố Hà Nội đã triển khai chương trình sản xuất rau an
toàn, đến nay vẫn duy trì và phát triển, tuy nhiên còn nhiều bất cập như kinh tế hộ
nông dân với quy mô còn nhỏ bé, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất rau
an toàn chưa được phổ biến rộng rãi và thường xuyên, năng lực kinh doanh và tiếp
cận thị trường thấp, đang bộc lộ nhiều hạn chế và hợp tác trong sản xuất cũng như
tiêu thụ rau an toàn còn lỏng lẻo, chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để góp phần
nâng cao thu nhập của các hộ sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu sản xuất
Page 3
PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Hợp tác
Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị, để tạo nên sức
mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động
riêng rẽ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được, hoặc thực hiện được
cũng kém hiệu quả so với hợp tác(Phạm Thị Cần và cs, 2003).
Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của
con người, hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung, của lao
động sản xuất và hoạt động kinh tế nói riêng của con người. Do vậy, sự phát triển
của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi tiến trình nâng cao trình độ xã hội hóa sản
xuất và hoạt động kinh tế. Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác dụng làm tăng
năng suất lao động. Sự phát triển của các hình thức và tính chất thích hợp của hợp
tác có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế(Nguyễn Văn Bích và cs,2001).
Hợp tác lao động được thực hiện từ khi loài người xuất hiện và ngày càng
phát triển. Cùng với tiến trình phát triển xã hội, phân công lao động xã hội và
chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, do đó
nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt
chẽ và mở rộng. Nó không bị giới hạn trong phạm vi từng đơn vị, từng ngành, từng
địa phương, trong một nước, mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế.
Hợp tác có nhiều hình thức với các đặc điểm, tính chất, trình độ khác nhau:
hợp tác ngẫu nhiên, nhất thời, hợp tác thường xuyên, ổn định; hợp tác lao động như
Mác đã phân tích về ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp;
hợp tác giữa các đơn vị, các ngành, v.v…
Theo Từ điển tiếng Việt năm 1992, “Hợp tác là hoạt động có mục tiêu cùng
hợp tác nào cũng yêu cầu cần có một khoảng không gian và thời gian nhất định, đủ
để phát huy sức mạnh của liên kết”( Nguyễn Văn Bích và cs., 2001).
Như vậy, hợp tác của con người thật phong phú và đa dạng. Sự hợp tác này
xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống nhằm, giúp đỡ, hỗ trợ nhau và bảo vệ cho nhau.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập tới hợp tác trong sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan, đó là con
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế nông
dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến
đa ngành. Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối
quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát
triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn.
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự hình thành và phát triển hợp tác xã
của các hộ, trang trại gia đình nông dân còn xuất phát từ nhu cầu kết hợp để làm
tăng sức mạnh giúp đỡ lẫn nhau chống lại sự chèn ép, lũng đoạn của tư bản độc
quyền lớn nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ và trang trại gia
đình nông dân. Đây là tầng lớp người có khó khăn hơn và chịu nhiều thiệt thòi, rủi
ro hơn trong xã hội tư bản. Từ góc độ này mà kinh tế hợp tác của nông dân còn
được coi là loại hình kinh tế mang bản chất xã hội - nhân đạo. Nó là hình thức kinh
tế cần thiết cho những người nghèo có tiềm lực kinh tế yếu hơn trong xã hội chống
lại xu hướng chèn ép, “cá lớn nuốt cá bé” trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh
tàn khốc.
Mặc dù các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin không có nhiều điều kiện
nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; song, khi nói đến nhiệm vụ đưa
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “Tuy cách làm thì có khác nhau ít nhiều, nhưng
mục đích thì nước nào cũng như nhau… Trong lời tuyên ngôn của hợp tác xã Anh
đã nói: “Cốt làm cho những người vô sản giai cấp hóa ra anh em… làm giùm nhau,
nhờ lẫn nhau. Bỏ hết thói tranh cạnh, làm sao cho ai trồng cây thì được ăn trái, ai
muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây… Tục ngữ Việt Nam có những câu: “Nhóm lại
thành giàu, chia nhau thành khó” và “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại
nên hòn núi cao”. Lý luận hợp tác xã đều ở trong những điều ấy. Từ ý nghĩa đó,
Người kêu gọi nông dân: “Muốn làm hòn núi cao, phải vào tổ đổi công và hợp tác
xã”, vì nhiều người họp lại thì làm được nhiều, được tốt, “nông dân ta mới có thêm
sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất. Do đó mà đưa nông thôn… đến chỗ ấm
no, sung sướng”.
Thực tế lịch sử thế giới hơn 100 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của
quan điểm về sự cần thiết khách quan của kinh tế hợp tác trong quá trình phát triển
kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
2.1.1.2 Phát triển hợp tác
Từ những khái niệm về hợp tác thì ta rút ra được khái niệm về phát triển hợp
tác. Phát triển hợp tác là việc mở rộng, tăng thêm của các hình thức, phương thức,
nội dung hợp tác cả theo chiều rộng và theo chiều sâu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
Theo chiều rộng, phát triển hợp tác là việc gia tăng các tác nhân tham gia vào
mối hợp tác. Đó là sự tăng thêm của các hộ nông dân trong HTX, các tổ nhóm hợp
tác, sự gia tăng về số lượng các HTX, tổ nhóm sản xuất, tiêu thụ, sự gia tăng của
các doanh nghiệp tham gia vào cung ứng đầu vào hay tiêu thụ nông sản đầu ra cho
hộ nông dân; sự gia tăng của các tổ chức xã hội, của Nhà nước, nhà Khoa
học,…vào trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản nói chung và RAT nói riêng
; mở rộng về hình thức, phương thức và cả nội dung hợp tác.
định về sản xuất rau an toàn như sau:
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá,
hoa quả) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hoá
chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép,
bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn" (Hồ Ngọc Hy, 2003).
Các yêu cầu chất lượng của rau an toàn:
- Chỉ tiêu về nội chất: Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm:
+ Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
+ Hàm lượng nitrat (NO3-).
+ Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu: Cu, Pb, Hg, Cd, As,...
+ Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Samonella ...) và kí sinh
trùng đường ruột (trứng giun đũa Ascaris).
- Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng yêu cầu
từng loại rau (đúng độ già kỹ thuật hay thương phẩm); không dập nát, hư thối,
không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp.
Tóm lại, rau an toàn là rau đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm,
được canh tác với quy trình kỹ thuật tổng hợp, hạn chế sử dụng phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật ở mức tối thiểu cho phép.
2.1.2 Sự cần thiết hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn là quá trình không thể tách rời
nhau đặc biệt với sản xuất rau an toàn hàng hóa vì quan hệ hợp tác có vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hộ nông dân. Trong nền kinh tế thị trường
quan hệ hợp tác giúp hộ nông dân làm được những việc mà từng người, từng nông
hộ không thể làm được hoặc làm không có hiệu quả; Nâng cao được năng suất lao
động, tiết kiệm được nhiều khoản chi phí trong đầu tư cho sản xuất kinh doanh;
Huy động được nhiều nguồn vốn, nhân lực, hạn chế được ảnh hưởng của thiên tai,
những yếu tố khách quan bất khả kháng, đáp ứng kịp thời yêu cầu về sản xuất và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
đó những khó khăn của hộ nông dân. Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
cũng đồng thời hướng đến khắc phục những manh mún trong tiêu thụ tự phát của
các hộ nông dân, qua đó tránh được tình trạng các hộ nông dân bị tư thương ép giá,
ép thời gian trong tiêu thụ sản phẩm rau an toàn (Trần Thị Hải,2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn giữa nông dân và các tổ chức
kinh tế hợp tác sẽ yên tâm hơn trong sản xuất, khi sản phẩm của người nông dân sản
xuất ra được ký hợp đồng tiêu thụ, được bao tiêu sản phẩm, đồng thời hộ nông dân
không phải tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đối với các tổ chức kinh tế hợp tác
thì việc hợp tác với nông dân sẽ giúp họ yên tâm về đầu vào sản phẩm, chất lượng
sản phẩm theo đơn đặt hàng của mình từ đó cũng giúp họ yên tâm thực hiện hợp
đồng cam kết với chính đối tác của họ(Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006).
Từ những phân tích trên cho thấy việc hợp tác giữa sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm rau an toàn là việc hợp tác tất yếu giữa hộ nông dân và các tổ chức kinh tế
hợp tác trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời, hiệu quả kinh tế của việc sản xuất
cũng như tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quyết định, khẳng định sự cần thiết của quá
trình hợp tác này trong giai đoạn hiện nay.
2.1.3 Các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
Từ thực tế cho thấy mối quan hệ nói trên có thể thực hiện dưới các dạng sau:
2.1.3.1 Kinh tế hợp tác giản đơn
a. Tổ, hội nghề nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay đang tồn tại các loại
tổ, hội nghề nghiệp như: tổ nuôi ong, tổ làm vườn, tổ nuôi cá, tổ nuôi tôm, tổ trồng
rừng, tổ trồng cây cảnh v.v…
Tổ, hội nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các chủ thể
kinh tế độc lập, có hình thức và mục đích hoạt động kinh doanh giống nhau, nhằm
tên gọi khác nhau(Phạm Thị Cần và cs., 2003).
+ Tổ, nhóm hợp tác "đơn mục đích": là loại tổ, nhóm hợp tác của những chủ
thể hoạt động kinh doanh giống nhau, như tổ trồng rừng, tổ trồng nấm, tổ nuôi cá
lồng v.v…
+ Tổ, nhóm hợp tác "đa mục đích": là loại tổ, nhóm hợp tác của những chủ
thể hoạt động sản xuất - kinh doanh tổng hợp, như trồng trọt kết hợp với chăn nuôi,
chế biến, làm dịch vụ v.v…
+ Tổ, nhóm hợp tác có quy mô nhỏ (từ 5-10 thành viên): quan hệ hợp tác
không mang tính ổn định thường xuyên, không xây dựng quy chế hoạt động thành
văn bản, không mang tính pháp lý, không có tư cách pháp nhân. Quan hệ hợp tác
giữa các thành viên được xây dựng trên cơ sở quan hệ tình cảm, truyền thống cộng
đồng, làng, xóm. Họ tự nguyện thỏa thuận “quy ước nội bộ” và chỉ hợp tác khi có
nhu cầu như: hợp tác đổi công cho nhau trong khâu gieo trồng, thu hoạch để bảo
đảm tính thời vụ. Quan hệ hợp tác không tính đến giá trị ngày công. Các thành viên
trong tổ tự thỏa thuận lịch đổi công cho nhau. Khi không có nhu cầu thì tổ hợp tác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
hầu như không hoạt động.
Đây là loại hình hợp tác giản đơn nhất. Nó đã có từ xa xưa trong nông thôn
nước ta. Hiện nay, hình thức này vẫn phát huy tác dụng, đặc biệt ở những nơi sản
xuất nông nghiệp còn mang tính tự cấp tự túc. Nông dân hợp tác để giúp cho công
việc của họ kịp thời vụ, cùng nhau khắc phục thiên tai, sâu bệnh v.v… Loại hình tổ,
nhóm hợp tác kiểu này cũng thường gặp ở những nơi sản xuất cây công nghiệp
hàng hóa tập trung, như trồng RAT, cà phê, mía, nguyên liệu giấy, v.v… Các chủ
thể hợp tác đổi công cho nhau theo từng khâu công việc, phổ biến hơn cả là khâu
thu hoạch, vận chuyển bán nguyên liệu cho cơ sở chế biến. Tổ hợp tác kiểu này còn
có tên gọi là tổ đổi công (không thường xuyên).
tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của
những người sáng lập ra hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa
đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc
người khác”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa hợp tác xã là sự liên kết của
những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết
nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã
chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó
khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức
năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần
chung v.v… Mặc dù, có nhiều định nghĩa khác nhau về hợp tác xã, cũng như sự
khác nhau về đặc điểm, cơ chế tổ chức, phương thức hoạt động v.v… của các mô
hình hợp tác xã ở các nước trên thế giới, song các loại hình hợp tác xã đều có một
số đặc điểm chung sau đây:
- Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn,
góp sức hình thành. Hoạt động của hợp tác xã chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt
động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng
là giúp đỡ chính mình). Ngoài ra, hoạt động của hợp tác xã còn mang tính cộng
đồng xã hội - tương trợ, giúp đỡ cộng đồng. Bởi vậy, lợi nhuận không phải là mục
tiêu duy nhất của hợp tác xã.
Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và
quản lý dân chủ.
Ở các nước tư bản, kinh tế hợp tác mặc dù chỉ là dòng “kinh tế phụ”, nhưng
nó đặc biệt quan trọng đối với nông dân. Hợp tác xã giúp đỡ các chủ trang trại nông
dân tồn tại trước những tác động của kinh tế thị trường và ảnh hưởng của các tổ
chức độc quyền lớn. Do vậy, ngoài mục tiêu kinh tế, hợp tác xã còn là loại hình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14