bộ giáo dục và đào tạo
TrƯờng đại học nông nghiệp hà nội Trần thị hải N
N
g
g
h
h
i
i
ê
ê
n
nc
ứ
c
ch
h
ợ
ợ
p
pt
t
á
á
c
c
t
t
r
r
o
o
n
t
i
i
ê
ê
u
ut
t
h
h
ụ
ụn
n
ô
ô
n
n
g
gs
s
ả
b
b
ắ
ắ
c
cn
n
i
i
n
n
h
h Chuyên ngành : kinh tế nông nghiệp
Mã số : 60.31.10
Ngời hớng dẫn khoa học: ts. Trần văn đức
Nội, một số cơ quan, ban ngành, các đồng nghiệp và bạn bè. Tôi xin trân
trọng cảm ơn tất cả sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Trần Văn Đức đã trực
tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo UBND thành phố Bắc Ninh, Phòng Kinh tế
thành phố Bắc Ninh, Phòng thống kê thành phố Bắc Ninh và các cơ quan, đơn
vị có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu một cách hệ thống
trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn gia đình và bè bạn đã động viên, khích lệ tôi trong suốt
quá trình học tập cũng như trong thời gian tôi tiến hành viết luận văn.
Tác giả thực hiện luận văn
Trần Thị Hải
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ và biểu đồ viii
Danh mục các kỹ hiệu chữ viết tắt ix
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49
3.1.3 Điều kiện văn hóa- xã hội 56
3.2 Phương pháp nghiên cứu 58
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 58
3.2.2 Phương pháp phân tích kinh tế 59
3.2.3 Phương pháp chuyên gia 59
3.3 Một số chỉ tiêu nghiên cứu về các hình thức hợp tác 59
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61
4.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của thành phố Bắc Ninh 61
4.2 Thực trạng các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ
nông sản trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 65
4.2.1 Các loại hình hợp tác sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn
thành phố Bắc Ninh 65
4.2.2 Quy mô các hình thức hợp tác sản xuất và tiêu thụ nông sản
trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 66
4.2.3 Đánh giá các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông
sản trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 69
4.2.4 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến các hoạt động hợp tác ở thành
phố Bắc Ninh 80
4.2.5 Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân 88
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
v
4.3 Định hướng và các giải pháp tăng cường hợp tác trong sản xuất
và tiêu thụ nông sản 93
4.3.1 Định hướng 93
4.3.2 Giải pháp 94
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
5.1 Kết luận 106
địa bàn thành phố Bắc Ninh 70
Bảng 4.6: Nhu cầu và đánh giá của các hộ về sự giúp đỡ, hướng dẫn của
các tổ chức xã hội về một số hoạt động trong sản xuất, tiêu
thụ nông sản 72
Bảng 4.7: Khối lượng nông sản hàng hóa của hộ nông dân được tiêu
thụ qua các kênh 73
Bảng 4.8: Đánh giá của các hộ về vai trò HTX, tổ hợp tác trong thực
hiện một số hoạt động chủ yếu 74
Bảng 4.9: Dự định và nguyện vọng khác của hộ nông dân 75
Bảng 4.10: Các loại hình kinh tế hợp tác ký kết hợp đồng với các doanh
nghiệp về hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản 77
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
vii
Bảng 4.11: Tình hình tổ chức dịch vụ của HTX, tổ hợp tác năm 2010 78
Bảng 4.12: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, tổ hợp tác
năm 2010 79
Bảng 4.13: Một số chỉ tiêu cơ bản của nhóm hộ điều tra 81
Bảng 4.14 Đánh giá của nhóm hộ điều tra về thực hiện các chính sách
trong nông nghiệp, nông thôn 82
thành phố Bắc Ninh qua các năm 50
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp của TP Bắc Ninh qua
các năm 51
Biểu đồ 3.3: Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp
trên địa bànTP Bắc Ninh qua các năm 52Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ Bình quân
GTSX Giá trị sản xuất
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
HTX Hợp tác xã
DVNN Dịch vụ nông nghiệp
THT Tổ hợp tác
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
KTXH Kinh tế xã hội
KHKT Khoa học kỹ thuật
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
DT Diện tích
NS Năng suất
SL Sản lượng
đang tiếp tục triển khai phát triển mô hình nông thôn mới phấn đấu đến năm
2015 sẽ có 50% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới. Thành phố Bắc Ninh với vị
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
2
trí địa lý thuận lợi, thời tiết ôn hòa, đất đai mầu mỡ thuộc vùng châu thổ bờ
nam sông Cầu, tiếp giáp với Hà Nội cũng là nơi có nhiều lợi thế đầu mối giao
thông thuận tiện với Hà Nội và các địa phương lân cận. Tuy nhiên tốc độ đô
thị hóa diễn ra nhanh trong thời gian vừa qua dẫn đến tình trạng đất nông
nghiệp trên địa bàn thành phố ngày càng bị thu hẹp. Nhưng thành phố Bắc
Ninh cũng là địa phương có lợi thế nhất và là địa bàn sản xuất nông sản hàng
hóa lớn nhất trong số 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh. Đặc biệt,
có nhiều vùng chuyên canh trồng các loại nông sản rau mầu hàng hóa được
đầu tư cả về cơ sở hạ tầng, giống, vốn, kỹ thuật. Việc nghiên cứu các hình
thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản trên địa bàn thành phố là vấn
đề đặt ra không chỉ với các hộ nông dân, các nhà sản xuất và tiêu thụ nông sản
mà còn đặt ra với các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm không ngừng phát huy
lợi thế cạnh tranh tạo ra hiệu quả lớn trong sản xuất nông nghiệp.
Câu hỏi đặt ra cần giải quyết là:
- Thực trạng các hình thức hợp tác ở địa bàn thành phố Bắc Ninh trong
những năm qua diễn biến như thế nào ?
- Nguyên nhân nào ảnh hưởng đến sự phát triển các hình thức hợp tác
trong sản xuất và tiêu thụ nông sản?
Để phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất tiêu thụ nông sản
một cách có hiệu quả cần có những giải pháp nào? Có những kiến nghị gì?
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài "Nghiên cứu các hình thức hợp tác trong
sản xuất và tiêu thụ nông sản ở thành phố Bắc Ninh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
4
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm
Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị để tạo nên
sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị
hoạt động riêng rẽ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được, hoặc
thực hiện được cũng kém hiệu quả so với hợp tác [5].
Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh
tế của con người. Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói
chung, của lao động sản xuất và hoạt động kinh tế nói riêng của con người.
Do vậy, sự phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi tiến trình nâng
cao trình độ xã hội hóa sản xuất và hoạt động kinh tế. Trong lao động sản
xuất, hợp tác có tác dụng làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của các
hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác có tác dụng thúc đẩy phát triển
kinh tế.
Hợp tác lao động được thực hiện từ khi loài người xuất hiện và ngày
càng phát triển. Cùng với tiến trình phát triển xã hội, phân công lao động xã
hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều
sâu, do đó nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác
những người lao động tham gia cùng nhau thực hiện những thao tác giống
nhau để hoàn thành một loại công việc như nhau.
“Biểu hiện đặc trưng của hợp tác là sự liên kết. Đối với bất kỳ một hình
thức hợp tác nào cũng yêu cầu cần có một khoảng không gian và thời gian
nhất định, đủ để phát huy sức mạnh của liên kết”.[2]
Như vậy, hợp tác của con người thật phong phú và đa dạng. Sự hợp tác
này xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau và bảo vệ
cho nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập tới hợp
tác trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
6
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan. Đó là
con đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Trong lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, xuất phát từ mục tiêu
kinh tế nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp,
từ đơn ngành đến đa ngành. Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu
hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu
hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ
cao hơn.
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự hình thành và phát triển hợp tác
xã của các hộ, trang trại gia đình nông dân còn xuất phát từ nhu cầu kết hợp
để làm tăng sức mạnh giúp đỡ lẫn nhau chống lại sự chèn ép, lũng đoạn của tư
bản độc quyền lớn nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ và
trang trại gia đình nông dân. Đây là tầng lớp người có khó khăn hơn và chịu
nhiều thiệt thòi, rủi ro hơn trong xã hội tư bản. Từ góc độ này mà kinh tế hợp
tác của nông dân còn được coi là loại hình kinh tế mang bản chất xã hội –
nhân đạo. Nó là hình thức kinh tế cần thiết cho những người nghèo có tiềm
lực kinh tế yếu hơn trong xã hội chống lại xu hướng chèn ép, “cá lớn nuốt cá
phần lớn. Muốn cho nông nghiệp và nông dân giàu lên cần phải xây dựng hợp
tác xã.
Nói về sự cần thiết khách quan, ý nghĩa của hợp tác xã trong nông
nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “Tuy cách làm thì có khác nhau ít
nhiều, nhưng mục đích thì nước nào cũng như nhau… trong lời tuyên ngôn
của hợp tác xã Anh đã nói: “Cốt làm cho những người vô sản giai cấp hóa ra
anh em… làm giùm nhau, nhờ lẫn nhau. Bỏ hết thói tranh cạnh. Làm sao cho ai
trồng cây thì được ăn trái, ai muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây… Tục ngữ An
Nam có những câu: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó” và “Một cây
làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Lý luận hợp tác xã đều ở
trong những điều ấy. Từ ý nghĩa đó, Người kêu gọi nông dân: “Muốn làm hòn
núi cao, phải vào tổ đổi công và hợp tác xã”, vì nhiều người họp lại thì làm được
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
8
nhiều, được tốt, “nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản
xuất. Do đó mà đưa nông thôn… đến chỗ ấm no, sung sướng”.
Thực tế lịch sử thế giới hơn 100 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn
của quan điểm về sự cần thiết khách quan của kinh tế hợp tác trong quá trình
phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
2.1.2 Sự cần thiết hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản là quá trình không thể tách
rời nhau đặc biệt với sản xuất nông sản hàng hóa vì quan hệ hợp tác có vai trò
rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hộ nông dân. Trong nền kinh tế thị
trường quan hệ hợp tác giúp hộ nông dân làm được những việc mà từng
người, từng nông hộ không thể làm được hoặc làm không có hiệu quả; Nâng
cao được năng suất lao động, tiết kiệm được nhiều khoản chi phí trong đầu tư
cho sản xuất kinh doanh; Huy động được nhiều nguồn vốn, nhân lực, hạn chế
được ảnh hưởng của thiên tai, những yếu tố khách quan bất khả kháng, đáp
thì Nhà nước, doanh nghiệp sẽ là những đối tác hỗ trợ, tạo điều kiện khắc
phục nhằm hạn chế phần nào đó những khó khăn của hộ nông dân. Hợp tác
trong sản xuất và tiêu thụ nông sản cũng đồng thời hướng đến khắc phục
những manh mún trong tiêu thụ tự phát của các hộ nông dân qua đó tránh
được tình trạng các hộ nông dân bị tư thương ép giá, ép thời gian trong tiêu
thụ sản phẩm nông sản.
Hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa nông dân và các tổ chức
kinh tế hợp tác sẽ yên tâm hơn trong sản xuất khi sản phẩm của người nông dân
sản xuất ra được ký hợp đồng tiêu thụ, được bao tiêu sản phẩm, đồng thời hộ
nông dân không phải tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đối với các tổ chức
kinh tế hợp tác thì việc hợp tác với nông dân sẽ giúp họ yên tâm về đầu vào sản
phẩm, chất lượng sản phẩm theo đơn đặt hàng của mình từ đó cũng giúp họ yên
tâm thực hiện hợp đồng cam kết với chính đối tác của họ.
Từ những phân tích trên cho thấy việc hợp tác giữa sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm nông sản là việc hợp tác tất yếu giữa hộ nông dân và các tổ chức
kinh tế hợp tác trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời, hiệu quả kinh tế của
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
10
việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quyết định khẳng định
sự cần thiết của quá trình hợp tác này trong giai đoạn hiện nay.
2.1.3 Các loại hình hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
Từ thực tế của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới cho thấy mối quan
hệ nói trên có thể thực hiện dưới các dạng sau:
2.1.3.1 Kinh tế hợp tác giản đơn
a. Tổ, hội nghề nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay đang tồn tại
các loại tổ, hội nghề nghiệp như: tổ nuôi ong, tổ làm vườn, tổ nuôi cá, tổ nuôi
tôm, tổ trồng rừng, tổ trồng cây cảnh v.v…
hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, gia nhập hoặc ra khỏi tổ, thành
lập hoặc giải thể tổ chức, quản lý dân chủ, cùng có lợi. Tổ, nhóm hợp tác rất
đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau.
+ Tổ, nhóm hợp tác "đơn mục đích": là loại tổ, nhóm hợp tác của
những chủ thể hoạt động kinh doanh giống nhau, như tổ trồng rừng, tổ trồng
nấm, tổ nuôi cá lồng v.v…
+ Tổ, nhóm hợp tác "đa mục đích": là loại tổ, nhóm hợp tác của những
chủ thể hoạt động sản xuất - kinh doanh tổng hợp, như trồng trọt kết hợp với
chăn nuôi, chế biến, làm dịch vụ v.v…
+ Tổ, nhóm hợp tác có quy mô nhỏ (từ 5-10 thành viên): quan hệ hợp
tác không mang tính ổn định thường xuyên, không xây dựng quy chế hoạt
động thành văn bản, không mang tính pháp lý, không có tư cách pháp nhân.
Quan hệ hợp tác giữa các thành viên được xây dựng trên cơ sở quan hệ tình
cảm, truyền thống cộng đồng, làng, xóm. Họ tự nguyện thỏa thuận “quy ước
nội bộ” và chỉ hợp tác khi có nhu cầu như: hợp tác đổi công cho nhau trong
khâu gieo trồng, thu hoạch để bảo đảm tính thời vụ. Quan hệ hợp tác không
tính đến giá trị ngày công. Các thành viên trong tổ tự thỏa thuận lịch đổi công
cho nhau. Khi không có nhu cầu thì tổ hợp tác hầu như không hoạt động.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
12
Đây là loại hình hợp tác giản đơn nhất. Nó đã có từ xa xưa trong nông
thôn nước ta. Hiện nay, hình thức này vẫn phát huy tác dụng, đặc biệt ở
những nơi sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cấp tự túc. Nông dân hợp
tác để giúp cho công việc của họ kịp thời vụ, cùng nhau khắc phục thiên tai,
sâu bệnh v.v… Loại hình tổ, nhóm hợp tác kiểu này cũng thường gặp ở những
nơi sản xuất cây công nghiệp hàng hóa tập trung, như trồng chè, cà phê, mía,
nguyên liệu giấy, v.v… Các chủ thể hợp tác đổi công cho nhau theo từng
khâu công việc, phổ biến hơn cả là khâu thu hoạch, vận chuyển bán nguyên
dân chủ”. Năm 1895, định nghĩa này đã được hoàn thiện: “Hợp tác xã dựa
trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và
đoàn kết. Theo truyền thống của những người sáng lập ra hợp tác xã, các xã
viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở,
trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác”[27].
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa hợp tác xã là sự liên kết của
những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện
liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản
mà họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải
quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và
bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ
cho lợi ích vật chất và tinh thần chung v.v… Mặc dù, có nhiều định nghĩa
khác nhau về hợp tác xã, cũng như sự khác nhau về đặc điểm, cơ chế tổ chức,
phương thức hoạt động v.v… của các mô hình hợp tác xã ở các nước trên thế
giới, song các loại hình hợp tác xã đều có một số đặc điểm chung sau đây:
- Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện
góp vốn, góp sức hình thành. Hoạt động của hợp tác xã chủ yếu nhằm mục
đích phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm
giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chính mình). Ngoài ra, hoạt động của hợp
tác xã còn mang tính cộng đồng xã hội – tương trợ, giúp đỡ cộng đồng. Bởi
vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của hợp tác xã.[29]
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
14
Nguyên tắc cơ bản của hợp tác xã là tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi
và quản lý dân chủ.
Ở các nước tư bản, kinh tế hợp tác mặc dù chỉ là dòng “kinh tế phụ”,
nhưng nó đặc biệt quan trọng đối với nông dân. Hợp tác xã giúp đỡ các chủ
trang trại nông dân tồn tại trước những tác động của kinh tế thị trường và ảnh
trình hoạt động và các nguồn vốn khác, như giá trị tài sản được cho, biếu,
tặng v.v…
Thứ tư, xã viên hợp tác xã.
Xã viên hợp tác xã có thể là cá nhân, hoặc hộ gia đình, mỗi xã viên có
thể đồng thời là thành viên của nhiều hợp tác xã, không phân biệt ngành,
nghề, địa giới hành chính. Mỗi xã viên đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa
vụ bao gồm: quyền làm việc, hưởng lãi, tiếp nhận thông tin, đào tạo bồi
dưỡng, hưởng phúc lợi của hợp tác xã, được phép chuyển các quyền lợi, nghĩa
vụ của mình cho người khác và xin ra khỏi hợp tác xã, được trả lại vốn góp và
các quyền lợi khác khi ra khỏi hợp tác xã. Mỗi xã viên có trách nhiệm thực
hiện nghĩa vụ theo quy định của Điều lệ như: góp vốn vào hợp tác xã và chia
sẻ mọi rủi ro của hợp tác xã theo mức vốn đóng góp. Thực hiện các cam kết
kinh tế với hợp tác xã v.v…
Thứ năm, quan hệ giữa hợp tác xã và xã viên.
Quan hệ giữa hợp tác xã và xã viên được xây dựng chủ yếu trên cơ sở
quan hệ kinh tế. Nó được xác lập từ nhu cầu phát triển sản xuất, tăng thu nhập
của các thành viên hợp tác xã. Hợp tác xã tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh
tế của xã viên. Trong hợp tác xã nông nghiệp, xã viên là hộ, trang trại gia
đình, hoặc đại diện hộ, đó là những đơn vị kinh tế tự chủ tham gia vào hợp tác
xã với trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích theo Điều lệ quy định. Sự hình thành
và phát triển hợp tác xã nông nghiệp không phá vỡ tính độc lập tự chủ của
kinh tế hộ, trang trại gia đình. Nó có tác dụng tạo điều kiện phát triển tăng thu