VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HỒNG LĨNH
ÂM NHẠC TRONG LỄ TRAI ĐÀN CHẨN TẾ
CỦA NGƢỜI VIỆT - SO SÁNH TRƢỜNG HỢP
Ở HUẾ VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN GIAN
MÃ SỐ: 62 22 01 30
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỤY LOAN
HÀ NỘI - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này do tôi thực hiện dƣới sự giúp đỡ của
ngƣời hƣớng dẫn khoa học. Đề tài và hƣớng nghiên cứu không trùng lặp với
đề tài nào trƣớc đây. Các sự kiện, trích dẫn, số liệu đƣợc sử dụng trong luận
án là trung thực. Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Tác giả luận án
2.1.4. Tƣơng đồng về trật tự và cách sử dụng âm nhạc trong diễn trình
cuộc lễ..................................................................................................................
2.1.5. Tƣơng đồng về những nghi tục liên quan tới diễn xƣớng lễ nhạc....
2.2. Khác biệt......................................................................................................
2.2.1. Khác biệt về một bộ phận nhỏ nhạc khí trong cơ cấu dàn nhạc.......
2.2.2. Khác biệt về số lƣợng, sắc thái và giai điệu của một số thể hát.......
2.2.3. Khác biệt về cách sử dụng các thể hát....................................................
2.2.4. Khác biệt về tên gọi và giai điệu của đại bộ phận bài bản khí nhạc......
2.2.5. Khác biệt trong cách phối hợp giữa nhạc khí, pháp khí với thanh nhạc..
2.2.6. Khác biệt trong cách sử dụng bài bản khí nhạc hỗ trợ cho lễ thức...
2.2.7. Khác biệt trong cách phối hợp giữa khí nhạc và thanh nhạc............
2.3. Đặc trƣng âm nhạc trong lễ Trai đàn chẩn tế của ngƣời Việt ở Huế
và Thành phố Hồ Chí Minh.....................................................................
2.3.1. Đặc trƣng âm nhạc trong lễ Trai đàn chẩn tế của ngƣời Việt ở Huế.....
2.3.2. Đặc trƣng âm nhạc trong lễ Trai đàn chẩn tế của ngƣời Việt ở
Thành phố Hồ Chí Minh......................................................................................
Tiểu kết chƣơng 2..............................................................................................
i
ii
iv
v
1
7
7
7
22
26
26
30
3.1. Những yếu tố văn hóa tác động tới sự tƣơng đồng và khác biệt
giữa âm nhạc trong lễ Trai đàn chẩn tế của ngƣời Việt ở Huế
và Thành phố Hồ Chí Minh.............................................................
3.1.1. Vai trò của Nhà nƣớc phong kiến đối với những nét thống
nhất trong lễ Trai đàn chẩn tế của ngƣời Việt và một số khía cạnh âm
nhạc của nó ở hai địa phƣơng....................................................................
3.1.2. Môi trƣờng tự nhiên, lịch sử và văn hóa - xã hội trong việc
tạo nên sự khác biệt về tính cách con ngƣời, thị hiếu và một số khía cạnh
âm nhạc trong lễ Trai đàn chẩn tế của ngƣời Việt ở hai nơi.......................
3.1.3. Vai trò của những yếu tố nội sinh trong việc tạo nên sắc thái
địa phƣơng của âm nhạc trong lễ Trai đàn chẩn tế của ngƣời Việt ở hai
nơi...............................................................................................................
3.2. Mối quan hệ tƣơng tác giữa các dòng văn hóa cung đình, dân
gian và Phật giáo...............................................................................
3.2.1. Tác động của văn hóa cung đình đối với văn hóa Phật giáo và
dân gian.................................................................................................................
3.2.2. Tác động của văn hóa dân gian đối với văn hóa Phật giáo và
cung đình...............................................................................................................
3.2.3. Tác động của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa cung đình và
dân gian.................................................................................................................
3.2.4. Nhận xét chung.................................................................................
Tiểu kết chƣơng 3.....................................................................................
KẾT LUẬN...............................................................................................
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ.......................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................
PHỤ LỤC..................................................................................................
91
91
Giáo hội Phật giáo
GHPGVN
Giáo hội Phật giáo Việt Nam
GS
Giáo sƣ
GS. TS
Giáo sƣ, Tiến sĩ
HT
Hòa thƣợng
KHXH
Khoa học xã hội
LNPG
Lễ nhạc Phật giáo
NLPG
Nghi lễ Phật giáo
Thành phố
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
tr.
Trang
TS
Tiến sĩ
TT
Thƣợng tọa
(...)
Những phần không trích dẫn
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Thứ tự
1
90
Minh………………………………………........…………
Bảng 3.1. Đối chiếu cấu trúc và quy trình quốc lễ Trai đàn
6
chẩn tế do triều đình tổ chức dƣới thời Tự Đức với cấu trúc
và quy trình lễ Trai đàn chẩn tế ở Huế trong khoảng 1990 -
95
2014.......................................................................................
Bảng 3.2. Đối chiếu cấu trúc và quy trình lễ Trai đàn chẩn
7
tế của ngƣời Việt ở Huế và Thành phố Hồ Chí Minh
96
trong khoảng 1990 - 2014...................................................
8
9
Bảng 3.3. Quy định về diễn tấu Đại nhạc và Nhã nhạc trong
phần chính lễ của lễ tế Giao dƣới triều Nguyễn......................
Bảng 3.4. So sánh số liệu phản ánh sự khác biệt về ngữ
điệu tiếng nói giữa ba địa phƣơng: Hà Nội - Sài Gòn - Huế
99
của văn hóa vùng - một lĩnh vực đã từng thu hút sự quan tâm của một số nhà
nghiên cứu.
Để thực hiện ý định nói trên, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu âm nhạc
trong lễ Trai đàn chẩn tế (TĐCT) ở Huế và TP. HCM vì mấy lý do sau:
Thứ nhất, trong hệ thống nghi lễ của Phật giáo Đại thừa, TĐCT là một
trong những nghi lễ có quy mô lớn nhất, đƣợc sử dụng phổ biến và có ảnh hƣởng
sâu rộng trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng ngƣời Việt trong cả
nƣớc.
Thứ nhì, so với âm nhạc trong các lễ khác của Phật giáo Đại thừa, âm
nhạc trong lễ TĐCT tập trung nhiều nhất các yếu tố của âm nhạc Phật giáo và
âm nhạc trong lễ TĐCT đƣợc xem là một hiện tƣợng âm nhạc tiêu biểu của lễ
nhạc Phật giáo (LNPG) Việt Nam nhƣ Hòa thƣợng (HT) Thích Trí Quang đã
2
từng nhắn nhủ: “Ai có chí nghiên cứu âm nhạc Phật giáo Đại Nam, hãy quan sát
Trai đàn chẩn tế” [138, tr. 68].
Thứ ba, Huế và TP. HCM là hai trung tâm văn hóa của miền Trung và
miền Nam, nơi tích tụ nhiều nhất các đặc điểm văn hóa ở mỗi vùng.
Vì vậy, “Âm nhạc trong lễ Trai đàn chẩn tế của người Việt - So sánh
trường hợp ở Huế và Thành phố Hồ Chí Minh” đƣợc chọn làm đề tài cho luận
án này.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm vào các mục đích sau:
- Nghiên cứu sâu về những biểu hiện cụ thể của sự tƣơng đồng, khác biệt
và đặc trƣng của LNPG ngƣời Việt ở Huế và TP. HCM thông qua hiện tƣợng
tiêu biểu của âm nhạc Phật giáo Việt Nam là âm nhạc trong lễ TĐCT của ngƣời
Việt ở hai trung tâm văn hóa của miền Trung và miền Nam.
tập trung nghiên cứu “phong cách truyền thống của ngƣời Việt ở TP. HCM”. Đây là
tên của một phong cách LNPG do một số vị sƣ ở TP. HCM vẫn thƣờng dùng để
phân biệt với các phong cách LNPG khác. Trong các phần tiếp theo của luận án,
chúng tôi cũng sẽ ghi phong cách này bằng chữ in nghiêng đặt trong ngoặt kép,
đồng thời khi đề cập tới LNPG hoặc âm nhạc trong lễ TĐCT của ngƣời Việt ở TP.
HCM cũng chính là đề cập tới LNPG theo phong cách này hoặc có nguồn gốc từ
phong cách này.
Trên cả hai địa bàn, chúng tôi khảo sát lễ TĐCT ở nhiều địa điểm khác nhau
(bao gồm cả chùa và tƣ gia) do những nhóm kinh sƣ1 và nghệ nhân khác nhau thực
hiện. Việc khảo sát nhiều địa điểm và nhiều nhóm khác nhau sẽ giúp cho tác giả
luận án có cái nhìn bao quát về thực tế diễn xƣớng âm nhạc trong lễ TĐCT và qua
đó thu thập thông tin đƣợc đa dạng, đầy đủ, chính xác hơn.
- Về mặt thời gian, chúng tôi dựa trên nguồn tƣ liệu điền dã thực địa thu
thập đƣợc (bao gồm tƣ liệu âm thanh, hình ảnh, tƣ liệu phỏng vấn sâu và tƣ liệu
1
Kinh sƣ là thuật ngữ trong giới Phật giáo ở Huế và TP. HCM dùng để chỉ các vị sƣ cùng tham gia trợ giúp
cho vị chủ sám (chủ lễ) trong thực hành lễ TĐCT nói riêng, các nghi lễ ứng phú của Phật giáo nói chung.
4
thành văn) từ thực tế diễn xƣớng âm nhạc trong lễ TĐCT của ngƣời Việt ở Huế
và TP. HCM từ thập niên 1990 đến năm 2014. Sở dĩ lựa chọn giai đoạn này, bởi
theo các nhà sƣ và nghệ nhân - những ngƣời đã hơn 50 năm tham gia thực hành
LNPG ở Huế và TP. HCM thì đây là giai đoạn mà lễ TĐCT của ngƣời Việt ở hai
địa phƣơng phát triển mạnh mẽ và phổ biến rộng rãi nhất.
Ngoài ra, những tƣ liệu thành văn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới
những vùng đất đƣợc nghiên cứu cũng nhƣ lễ TĐCT ở những nơi đó kể từ khi
Huế thuộc vùng đất châu Ô, châu Lý của Chămpa chính thức đƣợc sáp nhập vào
nhạc trong lễ TĐCT của ngƣời Việt ở Huế và TP. HCM, đồng thời qua đó chỉ ra
sự phong phú, đa dạng trong âm nhạc Phật giáo ngƣời Việt ở Việt Nam.
- Làm rõ những đặc trƣng nổi bật của âm nhạc trong lễ TĐCT của ngƣời
Việt ở Huế và TP. HCM.
- Chỉ ra các yếu tố văn hóa tác động tới sự tƣơng đồng và khác biệt giữa
âm nhạc trong lễ TĐCT của ngƣời Việt ở hai địa phƣơng.
- Đóng góp thêm một số khía cạnh liên quan tới lý luận về văn hóa vùng
và bổ sung thêm dẫn liệu về sự phong phú, đa dạng bản sắc văn hóa vùng và
những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các vùng văn hóa thông qua một hiện
tƣợng văn hóa cụ thể là âm nhạc trong lễ TĐCT ở Huế và TP. HCM.
- Đóng góp thêm những dẫn liệu cho lý luận về mối quan hệ tƣơng tác
giữa các dòng văn hóa cung đình, dân gian và Phật giáo mà biểu hiện không chỉ
trong lĩnh vực âm nhạc mà cả trong những lĩnh vực khác của văn hóa.
5.2. Về mặt thực tiễn
- Đem tới cho ngƣời đọc hiểu biết sâu hơn về một hiện tƣợng văn hóa âm
nhạc còn ít đƣợc biết tới.
- Đóng góp cho ngành âm nhạc học, văn hóa học và tôn giáo học những tƣ
liệu và những kết quả nghiên cứu mới về âm nhạc trong lễ TĐCT của ngƣời Việt
ở hai địa phƣơng.
- Luận án sẽ góp thêm nguồn tƣ liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy về tôn giáo học, văn hóa học và âm nhạc học.
6
6. Bố cục luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung luận án đƣợc chia thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về các khía cạnh liên quan đến đối tƣợng nghiên
cứu của luận án
1.1.1. Tổng quan về lễ Trai đàn chẩn tế
1.1.1.1. Tên gọi
TĐCT là tên gọi của một trong những lễ cúng bố thí lớn nhất của Phật
giáo Đại thừa đƣợc dùng phổ biến trong đời sống tâm linh của ngƣời Việt ở Huế
và TP. HCM. Tùy theo mỗi vùng mà lễ này có tên gọi khác nhau. TĐCT (còn
gọi là chẩn tế cô hồn) là tên gọi phổ biến của các nhà sƣ và Phật tử từ Huế trở
8
vào Nam Bộ. Ở miền Bắc Việt Nam, lễ này thƣờng đƣợc gọi là Mông sơn thí
thực (蒙 山 施 食), có khi chỉ gọi tắt là đàn Mông sơn. Mục đích, ý nghĩa của lễ
này sẽ đƣợc đề cập ở tiểu mục 1.1.1.2. dƣới đây:
1.1.1.2. Mục đích, ý nghĩa
TĐCT (齋 壇 賑 濟) là cụm từ Hán - Việt có nghĩa nhƣ sau: “Trai” (齋)
có nghĩa là chay, thanh tịnh, và “đàn” (壇) có nghĩa là nơi tổ chức lễ. “Chẩn”
(賑) có nghĩa là phân phát, cứu giúp, và “tế” (濟) có nghĩa là cứu giúp, cứu tế.
Nhƣ vậy, nghĩa tổng quát của TĐCT là một đàn cúng chay để phân phát, cứu
giúp. Theo cách hiểu thông dụng của các nhà sƣ ở Huế và TP. HCM từ trƣớc đến
nay, TĐCT là một đàn cúng chay lớn để cung cấp thức ăn, nƣớc uống cho ngạ
quỷ và vạn loại cô hồn không nơi nƣơng tựa, không có ngƣời thờ tự, bao gồm cả
cô hồn trên cạn và dƣới nƣớc. Bên cạnh bố thí thức ăn, nƣớc uống, lễ này còn
hƣớng đến cầu nguyện cho ngạ quỷ, cô hồn đƣợc siêu thoát bằng cách vị chủ
sám sẽ thuyết giảng về căn nguyên tạo nên nỗi khổ mà ngạ quỷ, cô hồn đang
phải gánh chịu, từ đó hƣớng dẫn chúng cách tu hành để sớm đƣợc vãng sanh cực
lạc. Mặt khác, thông qua những nội dung nói về căn nguyên dẫn đến cảnh đói
khổ của ngạ quỷ để khuyên nhủ ngƣời sống cố gắng tu tập, tránh dữ làm lành để
tạo phƣớc đức cho bản thân, gia đình và dòng họ. Ý nghĩa nhân văn của lễ
TĐCT là khơi dậy lòng nhân ái và nhắc nhở con ngƣời phải luôn thƣơng yêu
nhau không chỉ đối với ngƣời thân trong gia đình, với mọi ngƣời xung quanh mà
trời, còn ông thì đƣợc tăng tuổi thọ”. Ngài A Nan đem việc này thƣa
với đức Phật và thỉnh cầu Ngài chỉ dạy. Đức Phật dạy: “Ông chớ nên
sợ hãi. Ta nhớ đến vô lƣợng kiếp quá khứ, từ thời còn làm Bà La
Môn, lãnh thọ từ Quán Thế Âm Đại Bồ Tát pháp Đà La Ni tên là
pháp Vô lượng oai đức Tự Tại Quang Minh Như Lai Đà La Ni. Ông
nếu khéo thọ trì Đà La Ni này bảy biến, có thể biến thức ăn thành các
loại cam lồ ẩm thực, cung cấp đầy đủ thức ăn thƣợng diệu cho hằng
hà sa số các loài ngạ quỷ, các loại quỷ thần, tất cả đƣợc no đủ… Ông
thọ trì pháp Đà La Ni này thì giúp ông tăng thêm phƣớc đức thọ
mạng, ngạ quỷ sanh lên cõi trời, sanh về Tịnh Độ, đƣợc thân trời
ngƣời, lại có thể khiến ngƣời thí chủ chuyển đƣợc các tai nạn mà tăng
thêm tuổi thọ, đƣợc thêm phƣớc lợi chứng quả Bồ Đề3.
3
Tóm lƣợc từ tài liệu của Thích Nhật Thiện [171, tr. 4 - 5]. Bản dịch sang tiếng Việt từ bản chữ Hán 瑜 伽
集 要 焰口施 食 起 教 阿 難 陀 緣 由 (Kinh Du già tập yếu Diệm Khẩu thí thực khởi giáo A Nan Đà duyên
do) [220].
10
Pháp Đà La Ni mà Phật truyền dạy cho ngài A Nan chính là chú Biến thực
chân ngôn (Thần chú biến hóa thức ăn) và Biến thủy chân ngôn (Thần chú biến
hóa nƣớc uống). Từ đó về sau, nhiều thế hệ đệ tử của Phật thọ trì pháp này nhƣ
một phƣơng pháp tu tập hằng ngày. Đây là pháp tu mật chú nên chỉ có các nhà sƣ
chuyên hành trì mới hiểu đƣợc ý nghĩa của nó.
Ở Việt Nam, không rõ lễ này đƣợc truyền vào từ khi nào nhƣng ngày nay
trong các ngôi chùa của Phật giáo Đại thừa ở Huế và TP. HCM các nhà sƣ vẫn
còn duy trì nghi thức tụng chú biến thực, biến thủy vào các thời công phu chiều.
Còn ở Trung Quốc, theo tác giả Phan Đình Đức:
thực thì gần gũi với Việt Nam. Qua những nguồn tƣ liệu nêu trên thì lễ này khác
xa với lễ bố thí cho ngạ quỷ ở Ấn Độ nhƣng lại có nhiều nét tƣơng đồng với lễ
TĐCT ở Việt Nam. Ngoài ra, cũng có những tƣ liệu cho thấy nghi thức của lễ
TĐCT ở Trung Quốc cũng truyền vào Việt Nam. Tất cả những điều trên cho thấy
đàn Mông sơn thí thực cũng nhƣ lễ TĐCT của ngƣời Việt ở Việt Nam có mối
quan hệ rất mật thiết và trực tiếp với lễ TĐCT ở Trung Quốc.
Căn cứ vào tên gọi và một số khía cạnh khác nhƣ pháp khí, tên thể hát
chính, tên các bài đƣợc sử dụng trong diễn trình cuộc lễ thì có thể thấy lễ TĐCT của
ngƣời Việt ở Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với lễ TĐCT ở Trung Quốc.
1.1.1.4. Quá trình xuất hiện, lan tỏa và phát triển
Theo dòng lịch sử, lễ TĐCT từ Ấn Độ truyền qua Trung Quốc rồi du nhập
vào Việt Nam. Tại Việt Nam, sự xuất hiện của ngƣời Việt ở mỗi vùng có khác
nhau nên sự hình thành và phát triển của lễ TĐCT của ngƣời Việt ở mỗi vùng
cũng khác nhau. Cụ thể nhƣ sau:
Ở khu vực miền Bắc, theo nhiều nguồn tƣ liệu, lễ TĐCT đã đƣợc phổ biến
ở Kinh thành Thăng Long từ thời nhà Trần. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có
tài liệu nào xác định rõ thời điểm lần đầu tiên lễ này đƣợc truyền vào Việt Nam.
Tƣ liệu sớm nhất có đề cập tới lễ TĐCT trên vùng đất Thăng Long là tác phẩm
Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn vào năm Hồng Đức thứ 10
(1479) dƣới đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497). Trong Đại Việt sử ký toàn thư
của Ngô Sĩ Liên có chép nhƣ sau: “Kỷ Hợi, năm thứ 7 (1299), vua Trần Anh Tôn
cho in các sách Phật giáo Pháp sự Đạo trường tân văn, Công văn cách thức ban
bố cho thiên hạ” [83, tr. 332].
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lang trong sách Việt Nam Phật giáo
sử luận: “Cuốn Phật giáo pháp sự đạo tràng công văn cách thức, một cuốn sách
nói về thể thức và các bài văn sớ, tấu, điệp, dùng trong các thời nghi lễ thọ giới,
chẩn tế, cầu an, cầu siêu, khánh thành,… Cuốn sách này nhắm đến việc thống
nhất các hình thức nghi lễ của Phật giáo đƣơng thời. Nó đƣợc chính quyền ấn
Vô Già (Du già)
ộ
TĐCT [31, tr. 45].
Thủy lục chư khoa là bộ sách nghi lễ Phật giáo Việt Nam bao gồm 6 tập. Trong đó, tập thứ 6 là khoa Mông
sơn thí thực. Từ trƣớc đến nay, các vị sƣ ở miền Bắc khi thực hành lễ cúng cô hồn đều sử dụng văn bản
Mông sơn thí thực trong bộ sách nghi lễ này.
7
13
Ở miền Trung - Huế, cùng với tiến trình lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt,
lễ TĐCT đã có mặt trên vùng đất này. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có tài liệu
nào cho biết chắc chắn thời điểm lễ TĐCT xuất hiện ở miền Trung - Huế. Trong
Luận văn Thạc sĩ Lễ cúng chẩn tế trong đời sống của Phật tử người Việt ở Nam
Bộ, tác giả Phan Đình Đức cho rằng: “Dựa vào biến cố lịch sử của năm Nhâm
Tuất (1682) và những ảnh hƣởng của Tổ sƣ Nguyên Thiều và thiền phái Lâm Tế
trên toàn xứ Đàng Trong có thể đoán định rằng thời gian du nhập của lễ cúng này
vào miền Trung có liên quan mật thiết đến hai nhà sƣ Minh Châu - Hƣơng Hải và
Nguyên Thiều - Siêu Bạch” [31, tr. 45].
Khác với ý kiến của tác giả Phan Đình Đức, dựa vào sự có mặt của ngƣời
Việt từ Đàng Ngoài vào lập nghiệp ở vùng đất Thuận Hóa, chúng tôi cho rằng
Phật giáo ngƣời Việt ở Huế đã sử dụng lễ TĐCT trƣớc khi hai vị sƣ Minh Châu Hƣơng Hải và Nguyên Thiều - Siêu Bạch8 ngƣời Quảng Đông, Trung Quốc đến
truyền đạo ở nơi đây. Bởi vì, từ năm 1306, châu Ô, châu Lý là đất của ngƣời
Chăm chính thức đƣợc sáp nhập vào vùng đất của Đại Việt, từ đó bao lớp cƣ dân
Việt từ Đàng Ngoài đã vào lập nghiệp ở nơi đây. Trong hành trang văn hóa của
mình, Phật giáo Việt vốn đã thấm sâu trong đời sống tinh thần cƣ dân Việt ở
Đàng Ngoài trƣớc đó cũng có mặt ở nơi đây. Nghiên cứu về Phật giáo trên đất
Thuận Hóa thời ấy, tác giả Hà Xuân Liêm cho biết: “Dòng Thiền Trúc Lâm Yên
chƣơng trình, thời gian, đối tƣợng tham gia hành lễ, cách thiết trí đàn tràng và cả
quy định về những lễ vật dâng cúng.
Nhƣ vậy, tính đến thời Gia Long (1802 - 1820), lễ TĐCT ở Huế đã trở
thành một nghi lễ hoàn chỉnh, quy mô và đã chính thức trở thành quốc lễ do triều
đình đứng ra tổ chức tại các ngôi quốc tự. Cũng nhƣ ở Thăng Long dƣới thời nhà
Trần, lễ TĐCT ở Huế thời các vua Nguyễn chỉ đƣợc nhắc đến nhƣ là một quốc lễ
do vua quan tổ chức ở các ngôi quốc tự chứ không có tƣ liệu nào đề cập đến lễ
TĐCT ở ngoài dân gian vào cùng thời điểm ấy. Những vấn đề cụ thể liên quan tới
lễ TĐCT ở Huế do Nhà nƣớc phong kiến tổ chức sẽ đƣợc làm rõ trong chƣơng 3.
Về văn bản chẩn tế (các nhà sƣ ở Huế và TP. HCM thƣờng gọi là khoa
nghi9), từ đời vua Gia Long (1802 - 1820) trở về trƣớc, không có tƣ liệu nào cho
biết ngƣời Huế thực hành lễ TĐCT dựa trên loại văn bản nào. Mãi đến năm 1821,
dƣới đời vua Minh Mạng, ở Huế mới xuất hiện văn bản Diệm Khẩu du già tập yếu
9
Khoa nghi là sách ghi chép về nội dung nghi lễ và hƣớng dẫn cách thức thực hành nghi lễ.
15
thí thực khoa nghi (焰 口 瑜 伽 集 要 施 食 科 儀) do HT. Tánh Tình, chùa Thiên
Hòa khắc bản và đƣợc lƣu truyền cho tới nay. Đến năm 1888, dƣới đời vua Đồng
Khánh, các công chúa và quan thần triều Nguyễn ở Huế cho khắc bản Chánh khắc
trung khoa du già tập yếu (正 刻 中 科 瑜 伽 集 要), sắc tứ Báo Quốc tự tàng bản.
Chúng tôi đối chiếu nội dung và quy trình thực hiện các bƣớc lễ trong bản khắc
này với bản Mông sơn thí thực của miền Bắc và bản Du già Diệm Khẩu thí thực
tập yếu của Trung Quốc thì giữa chúng có nhiều chi tiết khác biệt. (Xin xem bảng
đối chiếu trong PL7). Các vị sƣ cao niên ở Huế cho biết: “Xa xƣa nữa thì chúng
tôi không biết, nhƣng khoảng hơn một trăm năm trở lại đây thì ngƣời Huế không
còn sử dụng bản khắc năm 1821 mà chỉ sử dụng văn bản Chánh khắc trung khoa
Đình Đức, Trƣơng Ngọc Tƣờng và một số nghệ nhân từng đi cúng với các vị sƣ ở
nhiều nơi khác nhau trên địa bàn TP. HCM cũng nhƣ kết quả điền dã thực địa
thẩm tra của chúng tôi12, ngày nay, trong lễ TĐCT của ngƣời Việt ở TP. HCM,
dƣợc sử dụng nhiều nhất là bản Chánh khắc trung khoa du già tập yếu của Huế.
Do có sự cộng cƣ của nhiều thành phần tộc ngƣời và nhiều lớp ngƣời Việt từ
các vùng khác trong cả nƣớc đến sinh sống vào những thời điểm khác nhau nên
hiện nay trên địa bàn TP. HCM song song tồn tại nhiều phong cách lễ nhạc Phật
giáo thuộc các địa phƣơng khác nhau. Đó là: “phong cách truyền thống của người
Việt ở TP. HCM” ở chùa Linh Tiên (quận Thủ Đức), chùa Thiên Đức (quận 12),
chùa Giác Lâm (quận Tân Bình) và Giác Viên (quận 11), chùa Đại Hạnh (quận
3)…; phong cách LNPG miền Bắc ở chùa Vĩnh Nghiêm (quận 3) và chùa Trấn
Quốc (quận 10)…; phong cách LNPG Huế ở Học viện Vạn Hạnh (quận Phú
Nhuận) và chùa Già Lam (quận Gò Vấp)…; phong cách LNPG Bình Định ở chùa
Giác Uyển (quận Phú Nhuận)… Ngoài các phong cách thực hành LNPG của ngƣời
Việt, ở TP. HCM còn có phong cách LNPG của ngƣời Hoa ở quận 5 nhƣ Tịnh xá
Sƣ Trúc Hiên, chùa Vạn Phật… Hơn nữa, chính “phong cách LNPG truyền thống
của người Việt ở TP. HCM”, qua một quá trình phát triển lịch sử cũng có sự phân
nhánh thành những phái khác nhau theo xu hƣớng nhập thế và đổi mới. (Xin xem
tiểu mục 2.3.2.3.).
Trải qua một quá trình phát triển với những thăng trầm, theo các nhà sƣ,
từ năm 1990 - đặc biệt từ năm 2000 đến nay, lễ TĐCT của ngƣời Việt ở Huế và
TP. HCM phát triển mạnh mẽ hơn trƣớc. Lý giải cho sự phát triển mạnh mẽ của
12
Chúng tôi đã tham dự và quan sát các buổi thực hành lễ TĐCT của ngƣời Việt tại nhiều địa điểm khác
nhau và đã có cơ hội tiếp cận văn bản thực hành lễ TĐCT ở các chùa Viên Giác (quận Tân Bình), Từ Quang
(huyện Bình Chánh), Đại Hạnh (quận 3), Định Thành (quận 10), Thiên Đức (quận 12)…, những nơi này đều
sử dụng văn bản Chánh khắc trung khoa du già tập yếu, sắc tứ Báo Quốc tự tàng bản của Huế.
Phỏng vấn HT. Thích Thanh Liên, TT. Thích Giác Đạo tại Huế, ngày 2 và 9/3/2014 và TT. Thích Nhuận
An, Thích Phƣớc Cƣờng tại TP. HCM, ngày 19 và 20/9/2013.
18
Lễ thƣợng phan (hoặc thƣợng đại tràng phan, ở Nam Bộ gọi là lễ dƣơng
phan) là nghi thức treo ba lá phan cỡ lớn: phan màu vàng, phan màu xanh và
phan màu đỏ (dài khoảng 20 đến 30m, rộng khoảng 30cm). Lễ thƣợng phan có ý
nghĩa nhƣ một lời tuyên bố chính thức khai mạc đàn tràng.
Lễ nghinh phan sơn thủy là nghi thức mời các vong linh từ trên cạn, dƣới
nƣớc đã nhập vào phan vào trong đàn tràng để thính pháp, văn kinh.
Lễ thỉnh linh an vị là nghi thức mời các vong linh vào vị trí đƣợc thờ
trong đàn tràng.
Lễ khai kinh bạch Phật bao gồm hai phần: khai kinh là một nghi thức bắt
buộc trƣớc khi tụng các bộ kinh trong các đại lễ. Bạch Phật nhằm thƣa với chƣ
Phật, Bồ tát về thời gian, địa điểm, mục đích của lễ TĐCT và mong cầu chƣ Phật,
Bồ tát giáng lâm hộ trì cho đàn tràng đƣợc thập phần viên mãn.
Lễ thỉnh Tiêu Diện là nghi thức mời ngài Tiêu Diện về cai quản cô hồn
trong và ngoài đàn tràng trong suốt thời gian diễn ra lễ TĐCT. Tiêu Diện là hóa
thân của Bồ tát Quán Thế Âm, biểu tƣợng của thống lĩnh cô hồn.
Lễ tiến linh là nghi thức cúng cơm cho các vong linh đang an vị trong đàn
tràng vào các buổi chiều trong thời gian lễ TĐCT diễn ra.
Lễ tụng kinh nhằm mục đích cầu nguyện và tăng phần định tâm, phƣớc
đức cho con cháu trong gia đình tổ chức lễ. Trong thời gian diễn ra lễ TĐCT, các
sƣ và Phật tử thƣờng tụng các bộ kinh Thủy sám, Địa Tạng. Đây là hai bộ kinh
đƣợc tụng phổ biến nhất trong lễ TĐCT. Ngoài ra, tùy vào từng gia chủ và thời
điểm tổ chức lễ mà các kinh khác nhƣ kinh Báo ân, A Di Đà… cũng đƣợc tụng
trong lễ này.
Lễ cúng ngọ là nghi thức cúng Phật vào các buổi trƣa (khoảng 11 - 12
Trên thực tế, ngoài các lễ nằm trong cấu trúc và quy trình lễ TĐCT đã đề
cập ở trên, tùy vào hoàn cảnh của từng gia chủ mà các vị sƣ có thể thêm vào một
số lễ khác nhƣ: đề vị, giải oan bạt độ, bạt độ trầm thủy, khai xá hạc, thuyết linh,
phát tấu, trai tăng… Về vấn đề này, TT. Thích Nhuận An cho biết: “Tùy theo
mỗi nơi, tùy theo hoàn cảnh và tùy theo thời gian tổ chức lễ mà mình thiết kế
chƣơng trình cho nó phù hợp. Chẳng hạn, ngoài những lễ chính nhƣ hƣng tác,