MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chương 1: TỔNG QUAN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ........................................................................ 11
1.1. Những quan điểm về phát triển nông thôn và sinh kế người nông dân ... 11
1.2. Những chủ đề nghiên cứu về sinh kế ....................................................... 19
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................. 28
2.1. Các khái niệm được sử dụng trong luận án.............................................. 28
2.2. Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu ............................................. 35
2.3. Khái quát chung về chính sách quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất và việc thực hiện trên địa
bàn huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ................................................. 44
2.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.......................................... 53
Chương 3: THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN NHÀ BÈ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ...................................... 56
3.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu .............................................................. 56
3.2. Bối cảnh sinh kế của người nông dân tại huyện Nhà Bè trong quá trình đô
thị hóa ............................................................................................................. 57
3.3. Đánh giá một số yếu tố chính sách của Nhà nước đối với sinh kế của
người nông dân bị thu hồi đất ở huyện Nhà Bè .............................................. 70
Chương 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
SINH KẾ CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ................................................ 81
4.1. Một số yếu tố về nguồn lực sinh kế của nông hộ bị ảnh hưởng bởi quá
trình thu hồi đất tại huyện Nhà Bè .................................................................. 81
4.2. Đánh giá mô hình sinh kế của nông hộ sau khi bị thu hồi đất ............... 112
4.3. Kết quả sinh kế của nông hộ sau khi bị thu hồi đất ............................... 117
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ..................................................................... 122
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ................................... 128
Bảng 4.8: Ma trận dịch chuyển nghề nghiệp trước khi thu hồi đất và
hiện nay của những người từ 15 tuổi trở lên ................................................... 97
Bảng 4.9: Tình trạng việc làm hiện nay của các thành viên hộ gia đình
từ 15 tuổi trở lên chia theo nhóm tuổi ............................................................. 99
Bảng 4.10: Cơ cấu việc làm hiện nay của những người tại thời điểm
trước khi thu hồi đất là nông dân chia theo nhóm tuổi. ................................ 101
Bảng 4.11: Tình trạng việc làm hiện nay của các thành viên hộ gia đình
chia theo nhóm trình độ học vấn. .................................................................. 103
Bảng 4.12: Cơ cấu việc làm hiện nay của những người tại thời điểm
trước khi thu hồi đất là nông dân chia theo trình độ học vấn. ...................... 104
Bảng 4.13: Chuyên môn tay nghề chính đã/đang được đào tạo của
những người từ 15 tuổi trở lên ...................................................................... 105
Bảng 4.14: Tỷ lệ vay mượn của hộ gia đình trong 12 tháng qua chia
theo 3 nhóm có diện tích thu hồi khác nhau (%) .......................................... 110
Bảng 4.15: Trung bình các khoản tiền vay mượn của hộ gia đình trong
12 tháng qua chia theo 3 nhóm có diện tích thu hồi đất khác nhau (triệu
đồng/hộ) ........................................................................................................ 111
Bảng 4.16: Thu nhập bình quân nhân khẩu chia theo 3 nhóm hộ gia
đình có diện tích thu hồi đất khác nhau (đồng/người/tháng) ........................ 119
DANH MỤC BIỂU
Biểu 4.1: Diện tích trung bình các loại đất còn lại chia theo 3 nhóm hộ
gia đình có diện tích thu hồi đất khác nhau (m2) ............................................ 82
Biểu 4.2: Tỷ lệ các hộ gia đình có người là thành viên của các tổ chức
....................................................................................................................... 109
Biểu 4.3: Những sự giúp đỡ đối với hộ gia đình từ khi bị thu hồi đất đến
nay ................................................................................................................. 109
Quản lý NN
Quản lý Nhà nước
BHYT
Bảo hiểm y tế
CN-TTC
Công nhân – Thợ thủ công
LĐ giản đơn
Lao động giản đơn
HS/SV
Học sinh/sinh viên
THPT
Trung học phổ thông
SX,KD
Sản xuất, kinh doanh
Phi NN
1
liên kết với nhau thành các khu đô thị sầm uất. Chỉ trong vòng 10 năm, từ
2004 đến 2014, trên địa bàn huyện đã có hơn 814 ha đất được thu hồi, trong
đó nhiều nhất vẫn là đất nông nghiệp với 787 ha, làm mất việc làm truyền
thống của 2.448 hộ nông dân có đất bị thu hồi [4, tr. 8]. Một câu hỏi đặt ra là
lao động nông dân bị thu hồi đất sẽ làm gì để duy trì, ổn định sinh kế và vai
trò của chính quyền địa phương như thế nào trong việc hỗ trợ chuyển đổi sinh
kế khi mà người nông dân không còn hay còn lại ít đất canh tác. Đây chính là
vấn đề mà tác giả quyết định chọn làm đề tài nghiên cứu trong luận án Tiến sĩ
của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu thực trạng và mức độ ảnh hưởng
của việc thu hồi đất đến sinh kế của những nông hộ bị mất đất sản xuất dưới
tác động của quá trình ĐTH tại huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh trong giai
đoạn 2004-2014. Từ các kết quả nghiên cứu này, đề tài đề xuất một số ý kiến
mang tính gợi mở về mặt chính sách nhằm phát triển sinh kế bền vững cho
những hộ nông dân bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ thực hiện các
nhiệm vụ sau:
- Phân tích thực trạng sinh kế của người nông dân tại huyện Nhà Bè
trong quá trình ĐTH;
- Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế của hộ nông dân
sau khi bị thu hồi đất tại địa bàn nghiên cứu;
- Tìm hiểu các chính sách của Nhà nước cùng với sự hỗ trợ xã hội đối
với việc cải thiện sinh kế của những nông hộ bị thu hồi đất;
kiện, khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai tại địa bàn nghiên cứu,... nhằm
3
xây dựng một bức tranh tổng quát về bối cảnh nghiên cứu, các cách tiếp cận
nghiên cứu, các luận điểm, luận cứ, các kết quả phân tích thực nghiệm, các
khác biệt và tranh luận đối với các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
của đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là nghiên cứu định
lượng bằng bảng hỏi, liên quan đến: các khía cạnh và mức độ ảnh hưởng của
quá trình ĐTH đến điều kiện sống, sinh kế của người nông dân; các nguồn lực
cá nhân, cộng đồng, sự trợ giúp của chính quyền và khả năng thích ứng cũng
như các chiến lược sinh kế của nông hộ; các cơ chế, chính sách của Nhà nước
đối với nông hộ bị thu hồi đất; các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng
đến sinh kế của người nông dân.
4.3. Phương pháp nghiên cứu định tính
Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến
hành các cuộc phỏng vấn sâu đối với những người nông dân bị thu hồi đất có
các hoạt động sinh kế khác nhau và các điều kiện kinh tế khác nhau; phỏng
vấn chiến lược đối với các cán bộ địa phương và các tổ chức chính trị xã hội
liên quan. Nghiên cứu định tính giúp hiểu sâu hơn các bối cảnh chuyển đổi,
các chính sách phát triển và chính sách xã hội được áp dụng cụ thể, các vấn
đề nằm bên dưới và các mối quan hệ phức tạp hơn những tương quan được
lượng hóa.
4.4. Chọn mẫu và qui mô mẫu
4.4.1. Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
(systematic sampling method) theo quy trình như sau:
chọn hộ số 1 trong khung chọn mẫu làm đơn vị mẫu đầu tiên thì danh sách hộ
được chọn sẽ là: 1, 3, 5, 7, 9, 11, 12, 14, 16, 18, 20, 22, 23,…., 400. Về cơ
bản, phương thức chọn mẫu này cho phép các hộ trong mẫu khảo sát có tính
5
đại diện cao nhất đối với tổng số hộ nông dân bị mất đất ở huyện Nhà Bè
trong giai đoạn 2004-2014 hiện vẫn còn cư trú tại huyện.
Đổi mẫu: Nguyên tắc chung trong trường hợp sau 3 lần không tiếp
cận được hộ được chọn thì thay thế bằng hộ kế tiếp liền kề (trước hoặc sau)
trong danh sách khung lấy mẫu.
Kết quả có 5 trường hợp đổi mẫu (1,25%) với lý do đi vắng dài ngày
không tiếp cận được. Tỷ lệ đổi mẫu thấp là một trong những yếu tố đảm bảo
độ tin cậy của thông tin thu thập được.
Xác định người đại diện cho hộ gia đình để trả lời: Đối tượng ưu
tiên thứ nhất là chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ. Trong trường hợp đối tượng ưu
tiên thứ nhất không tham gia trả lời được (quá lớn tuổi, không đủ năng lực,
không gặp được) thì người thay thế phải là người trên 18 tuổi, có quan hệ mật
thiết với chủ hộ và hiểu biết các vấn đề chung của hộ. Trong trường hợp
không tiếp cận được với người đủ điều kiện trả lời thì đổi mẫu.
Qui mô và cơ cấu mẫu phỏng vấn định tính bao gồm: phỏng vấn sâu
1/10 số hộ được phỏng vấn định lượng (40 hộ nông dân) và phỏng vấn chiến
lược đối với 18 cán bộ lãnh đạo tại 6 xã của huyện (mỗi xã phỏng vấn 1 lãnh
đạo Hội Nông dân, 1 lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) và 1 cán bộ chuyên
trách Lao động Thương binh Xã hội của xã). Bên cạnh đó, tiến hành 03 thảo
luận nhóm ở 02 xã và 01 thị trấn gồm các cán bộ xã/thị trấn, ấp/khu phố, các
hộ gia đình nông dân bị thu hồi đất.
4.4.2. Đo lường biến số
Trong nghiên cứu này, sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất và các
Hộ gia
nhiên
được nhằm phục vụ cho mục tiêu hoạt động
đình
sinh kế.
Sinh kế
Vốn tài
Nguồn tiền đền bù, hỗ trợ, nguồn đầu tư,
chính
nguồn thu nhập từ sinh kế của cá nhân và hộ
bền vững
Cá nhân
và hộ
gia đình
Cấp độ cộng đồng: điện, đường giao thông, y
của các
nông hộ
gia đình
4.4.3. Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích chủ yếu trong nghiên cứu này là phân loại,
thiết lập các bảng chéo về mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ
thuộc. Sinh kế của các nông hộ sẽ được phân tích và so sánh giữa trước khi
thu hồi đất và hiện nay dựa trên 5 nguồn vốn sinh kế, để thấy được sự thay
7
đổi tương ứng với quá trình ĐTH trên địa bàn cũng như những thuận lợi, khó
khăn trong quá trình phát triển sinh kế bền vững của nông hộ trong mối quan
hệ với các tác tố bên ngoài theo khung sinh kế bền vững. Bên cạnh đó, việc
phân chia và so sánh giữa các nhóm hộ có diện tích thu hồi đất khác nhau sẽ
giúp tìm hiểu sâu hơn về tác động của các nguồn lực sinh kế tới quá trình phát
triển sinh kế bền vững của nông hộ, đặc biệt là đối với những hộ có nguồn lực
hạn chế. Các phân tích này được kết hợp chặt chẽ với những kết quả thu được
từ các phân tích định tính để phối kiểm và bổ sung lẫn nhau.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, thông qua phân tích thực nghiệm, luận án kiểm chứng một
số lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu về sinh kế của người nông dân bị thu
hồi đất trước những tác động của quá trình ĐTH tại một địa phương cụ thể.
Thứ hai, kết quả nghiên cứu tạo cơ sở khoa học cho việc khuyến nghị
các giải pháp dưới góc nhìn xã hội học để các nhà quản lý, các nhà hoạch
định chính sách có thêm luận cứ, luận chứng khi đưa ra các chính sách khả thi
đối với phát triển sinh kế bền vững cho nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình
ĐTH, nhất là tại một đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh.
Thứ ba, luận án có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho các
nhà nghiên cứu, qua đó phần nào có thể mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo
Chương 1: Tổng quan một số quan điểm và công trình nghiên cứu
liên quan đến đề tài. Chương này tập trung trình bày tổng quan hai nhóm vấn
đề liên quan đến đề tài nghiên cứu là: Những quan điểm về phát triển nông
thôn và sinh kế người nông dân, và những chủ đề nghiên cứu về sinh kế.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương này trình
bày các vấn đề quan trọng về mặt phương pháp luận như: thao tác các khái
niệm được sử dụng trong nghiên cứu; các tiếp cận lý thuyết áp dụng trong đề
tài; tổng quan các chính sách quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi
9
thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất; câu hỏi nghiên cứu, giả
thuyết nghiên cứu và khung phân tích đề tài của luận án.
Chương 3: Thực trạng sinh kế của người nông dân tại huyện Nhà Bè
trong quá trình ĐTH. Chương này trước tiên khái quát tình hình KT-XH ở địa
bàn nghiên cứu, tiếp theo tập trung phân tích bối cảnh sinh kế của người nông
dân tại huyện Nhà Bè trong quá trình ĐTH và cuối cùng đánh giá một số yếu
tố chính sách của Nhà nước đối với sinh kế của người nông dân bị thu hồi đất
ở huyện Nhà Bè
Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển sinh kế
của hộ nông dân có đất bị thu hồi trên địa bàn huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí
Minh. Chương này tập trung phân tích một số yếu tố về nguồn lực sinh kế của
nông hộ bị ảnh hưởng bởi quá trình thu hồi đất tại huyện Nhà Bè; đánh giá
mô hình sinh kế và kết quả sinh kế của nông hộ sau khi bị thu hồi đất.
10
Chương 1
khu vực nông thôn, sự suy giảm của lao động thặng dư dẫn đến thương mại
hóa nông nghiệp và theo ông quá trình đó sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển. Bởi vì, trong khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn, đất đai ít, lao
động lại nhiều nên lao động dôi dư và số lao động dôi dư này có năng suất
giới hạn bằng không, nghĩa là không có thu nhập. Như vậy, việc chuyển giao
lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp sẽ có tác dụng
vừa chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp và chỉ để lại số lượng
vừa đủ để tạo ra sản lượng cố định, từ đó sẽ tạo được việc làm cho số lao
động dôi dư trong khu vực nông nghiệp. Mặt khác, sự chuyển lao động từ khu
vực nông nghiệp sang sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, nâng
cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế [41, tr: 304].
Lập luận trên cho thấy, trường phái lý thuyết phát triển này không ý
thức được vai trò của khu vực nông thôn trong quá trình phát triển. Việc ưu
tiên cho công nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cao hơn đã dẫn
tới sự di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, và như vậy khu vực nông thôn lại là
nơi sản xuất lương thực cho cư dân nông thôn, cư dân đô thị và cung cấp lao
động cho ngành công nghiệp. Bản chất của trường phái lý thuyết này không
thừa nhận vai trò đổi mới của khu vực nông thôn và không xem xét đến khả
năng thay đổi trong trình tự phát triển. Trên thực tế, không có việc gì được coi
là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển. Khu vực nông thôn có thể đóng vai
trò đổi mới ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào.
Khác với Authur Lewis, nhà kinh tế học người Nhật Bản Harry
Toshima đưa ra trường phái lý thuyết tăng trưởng kinh tế ở Châu Á gió mùa.
Theo ông, mô hình kinh tế nhị nguyên của Authur Lewis không phù hợp với
các nước Châu Á bởi lẽ nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong
đỉnh cao thời vụ và chỉ thừa lao động trong lúc nhàn rỗi. Vì vậy, ông cho rằng
lao động trong nông nghiệp cần phải giữ lại và chỉ tạo ra thêm nhiều việc làm
12
13
các nguồn lực của địa phương vào quá trình phát triển. Trong đó, lập luận của
G.Rains cho rằng, phát triển kinh tế nông thôn trong nước có ảnh hưởng lớn
đến CNH hơn là thị trường xuất khẩu. Các nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất tới
chuyển dịch cơ cấu kinh tế là thay đổi kỹ thuật, thay đổi nhu cầu trong nước
và khu vực phi nông nghiệp nhỏ ở nông thôn. Nhân tố kỹ thuật đã nâng cao
sức mua của khu vực nông thôn, các xí nghiệp tư nhân vừa và nhỏ thúc đẩy sự
phát triển thị trường cùng với sự tăng trưởng của nông nghiệp đi đôi với việc
tăng số lượng việc làm ở khu vực này [71, tr. 39-40].
Quan điểm của học giả LaKshmanan (1982) cũng cho rằng, phát triển
nông thôn phải là quá trình cải thiện mức sống của đa số người nghèo ở nông
thôn và phải làm cho họ có khả năng tự phát triển và cần có một khuôn khổ
chính sách phù hợp ở các cấp độ quốc gia và vùng để huy động, phân bổ các
nguồn lực như nhân lực, vật lực và tài lực cho quá trình phát triển [144].
Với lập luận như vậy, có thể hiểu rằng về phương thức thực hiện tiến
trình phát triển nông thôn phải lấy cộng đồng dân cư nông thôn làm trung tâm
trong tiến trình phát triển cùng với việc phát huy tối đa vai trò chủ đạo của
Nhà nước trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển nông thôn có nền
tảng kinh tế vững chắc.
Một điều thực sự thiếu sót nếu muốn phát triển nông thôn đạt kết quả
mà không bảo đảm cho sự phát triển nông nghiệp bền vững. Đây là vấn đề đặt
ra được các quốc gia quan tâm, bởi lẽ nông nghiệp bền vững sẽ là một yếu tố
tạo nên nền kinh tế phát triển bền vững. Vào những thập niên cuối thế kỷ 20,
những vấn đề được đặt ra chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp với
mục đích bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn
những nhu cầu của con người ngày càng tăng mà không hủy diệt đất đai,
không làm ô nhiễm môi trường.
Theo quan điểm của học giả Carswell (2007), đa dạng sinh kế nông
thôn là một tiến trình mà nông hộ xây dựng cho mình một chiến lược đa dạng
các hoạt động sinh kế và năng lực hỗ trợ của xã hội để duy trì hay cải thiện
15
cuộc sống của họ [121]. Đồng quan điểm đó, học giả Ellis (2000) cũng cho
rằng, đa dạng các hoạt động nông thôn để nâng cao thu nhập được coi là một
trong các chiến lược sinh kế nhằm giảm rủi ro do các hiểm họa của tự nhiên
gây ra hay từ sự biến động KT-XH tạo nên [131]. Theo đó, trong chính sách
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn thì vai trò của việc phát triển kinh tế phi
nông nghiệp ở nông thôn được đặc biệt chú trọng. Học giả Adams (2002) lập
luận rằng, việc tập trung các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn là cách
tốt nhất để nâng cao thu nhập cho người nghèo. Những hoạt động này không
chỉ tạo ra nguồn thu nhập quan trọng nhất cho mọi tầng lớp ở nông thôn mà
còn là một nhân tố thu hẹp sự bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn và thành
thị [113].
Các học giả Ashley và Maxwell (2001) cũng nhận định rằng, tập
trung phát triển và tăng trưởng khu vực nông thôn sẽ góp phần thực hiện tốt
mục tiêu xóa đói giảm nghèo không chỉ riêng cho khu vực nông thôn mà còn
cho cả khu vực thành thị, trong khi tăng trưởng ở khu vực thành thị không đủ
đảm bảo cho xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn. Do vậy, việc thúc đẩy
tăng trưởng cho ngành nông nghiệp là một bài toán vô cùng quan trọng trong
hoạch định chính sách phát triển kinh tế [116].
Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm của các học giả về phát triển
nông thôn là sự phát triển tổng hợp liên ngành KT-XH trong một nước hoặc
một vùng lãnh thổ, không chỉ đơn thuần là phát triển về mặt kinh tế mà còn
phát triển cả về mặt xã hội của nông thôn.
1.1.2. Quan điểm ở Việt Nam
phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, HĐH nông
nghiệp là then chốt. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. [64, tr. 2].
Thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng, Chính phủ đã kịp thời
ban hành Nghị quyết 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 về Chương
17
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn; xây dựng các chương trình, mục tiêu quốc gia đến năm 2020 về xây
dựng nông thôn mới; xây dựng các đề án chuyên ngành và nhóm dự án luật và
các chính sách như sửa đổi Luật Đất đai, sửa đổi Luật Ngân sách; rà soát các
quy định về đầu tư để khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; xây
dựng chính sách thu hút cán bộ, thanh niên, trí thức về nông thôn [65].
Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó
khăn và hạn chế nhất định. Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ
tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt
nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công
nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là
sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng
thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy
mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức
tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản
xuất hàng hoá. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu
hạ tầng KT-XH còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích
ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần
của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào
làm cho lao động nông thôn, đặc biệt là nông dân bị thu hồi đất, có vai trò hết
sức quan trọng trong tiến trình phát triển KT-XH của đất nước.
1.2. Những chủ đề nghiên cứu về sinh kế
1.2.1. Phương pháp nghiên cứu tiếp cận khung sinh kế bền vững (DFID)
Cho đến nay, cách tiếp cận phương pháp khung sinh kế bền vững của
DFID được các học giả trong và ngoài nước quan tâm và ứng dụng rộng rãi
trong các nghiên cứu của mình và ngày càng được coi trọng, bởi lẽ nó được
19
xem như là một công cụ để nâng cao sự hiểu biết về tính bền vững của sinh
kế, là khuôn khổ để phân tích các mối quan hệ giữa yếu tố ảnh hưởng đến
sinh kế con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau [125]. Trong
nghiên cứu của mình Kollmair và cộng sự mô tả khung sinh kế bền vững bao
gồm các yếu tố như: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính,
vốn xã hội và đây là những loại vốn để tạo nên tài sản sinh kế và nó cũng là
yếu tố giúp hiện thực hóa sinh kế bền vững. Mặt khác, nhiều yếu tố như: tính
dễ bị tổn thương, những cú sốc mà cá nhân hoặc gia đình gặp phải hay sự thay
đổi mùa vụ và môi trường tạo dựng sinh kế như luật pháp, chính sách, bối
cảnh văn hóa cũng được bàn đến. Ngoài ra, ông cho rằng khung sinh kế bền
vững khá linh hoạt và có thể áp dụng cho các địa phương khác nhau trong
việc hoạch định chính sách hỗ trợ người nghèo [143]. Tương tự, Krantz cho
rằng tiếp cận sinh kế bền vững không chỉ tập trung vào khía cạnh nhất định
của nguồn vốn mà còn đề cập đến tính dễ bị tổn thương và sự thiếu liên kết
chặt chẽ mạng lưới xã hội của người nghèo khi nghiên cứu chiến lược giảm
nghèo bền vững. Nếu như các yếu tố này được quan tâm thì khả năng sinh kế
của người nghèo được tăng cường. Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc rất nhiều vào
khả năng tận dụng những nguồn lực và cơ hội của người nghèo như thế nào?
Vì thế họ cần được tham gia vào các chương trình, chính sách hay các dự án