Phát triển sinh kế bền vững của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh) tt - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀ

PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NÔNG HỘ
BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN NHÀ BÈ,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 9310301

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2019


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI V

IỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thanh Sang

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:


2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Tập trung tìm hiểu thực trạng và mức độ ảnh hưởng của việc thu hồi
đất đến sinh kế của những nông hộ bị mất đất sản xuất dưới tác động của
quá trình đô thị hóa tại huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai
đoạn từ năm 2004 - 2014. Đề xuất một số ý kiến mang tính gợi mở về mặt
chính sách nhằm phát triển sinh kế bền vững cho những hộ nông dân bị
ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất trên địa bàn huyện Nhà Bè và phạm vi cả
nước nói chung.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Phân tích thực trạng sinh kế của người nông dân; (2) Tìm hiểu yếu
tố ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế của hộ nông dân sau khi bị thu hồi
đất; (3) Tìm hiểu các chính sách của Nhà nước cùng với sự hỗ trợ xã hội
1


đối với việc cải thiện sinh kế của những nông hộ bị thu hồi đất; (4) Đề xuất
giải pháp về mặt chính sách hướng đến phát triển sinh kế bền vững cho
mỗi cá nhân và hộ gia đình sau khi bị mất đất sản xuất.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển sinh kế bền vững của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình
đô thị hóa tại huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Là những nông hộ bị ảnh hưởng của việc thu hồi đất tại huyện Nhà Bè
từ năm 2004 đến năm 2014 (chỉ chọn những hộ là người địa phương và có
đất sản xuất bị thu hồi tại địa bàn nghiên cứu).
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại huyện Nhà Bè. Về mặt thời gian, tập
trung vào giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu

địa bàn huyện Nhà Bè từ năm 2004 đến năm 2014.
Bước 2: Gửi địa phương để xác định lại những hộ hiện còn sinh sống
trên địa bàn huyện. Kết quả thu thập ở bước 2 đã xác định được 733 hộ có
đất bị thu hồi và hiện còn sinh sống trên địa bàn huyện.
Bước 3: Trên cơ sở danh sách 733 hộ đã được xác định, tiến hành sắp
xếp và đánh số thứ tự alphabet theo tên chủ hộ và theo từng xã, thị trấn
trong huyện để tạo thành khung lấy mẫu (sampling frame).
Bước 4: Dựa trên khung lấy mẫu trên, 400 hộ gia đình (cỡ mẫu nghiên
cứu dự kiến), chiếm 54,6% tổng số hộ bị thu hồi đất trong giai đoạn 20042014 hiện còn cư trú tại huyện Nhà Bè nên có tính đại diện cao cho toàn
bộ đối tượng khảo sát. Qui trình chọn mẫu với khoảng cách chọn mẫu
(bước nhảy) theo công thức sau:
k=N/n
Trong đó:
+ N là tổng thể khảo sát (733 hộ gia đình)
+ n là cỡ mẫu khảo sát (400 hộ gia đình)
+ k là khoảng cách chọn mẫu (bước nhảy)
với k = 733/400 = 1,83
Trên thực tế không thể tính bước nhảy k=1,83 mà phải làm tròn k=2,
nên với bước nhảy này chỉ có thể chọn được 366 hộ (733/2=366,5) trong
số 400 hộ cần khảo sát. Để tổng số mẫu khảo sát gồm 400 hộ, chúng tôi
điều chỉnh bước nhảy trên thực tế theo cách: cứ 6 hộ được chọn theo bước
nhảy k=2, chúng tôi bắt đầu chọn hộ tiếp theo cho chu kỳ 6 hộ kế tiếp
nhằm bù đắp cho bước nhảy thực tế lớn hơn bước nhảy tính toán (23


1,83=0,17). Cụ thể, chọn hộ số 1 trong khung chọn mẫu làm đơn vị mẫu
đầu tiên thì danh sách hộ được chọn sẽ là: 1, 3, 5, 7, 9, 11, 12, 14, 16, 18,
20, 22, 23,…., 400. Về cơ bản, phương thức chọn mẫu này cho phép các
hộ trong mẫu khảo sát có tính đại diện cao nhất đối với tổng số hộ nông
dân bị mất đất ở huyện Nhà Bè trong giai đoạn 2004-2014 hiện vẫn còn cư

Vấn đề
nghiên
cứu

Biến
số
phụ
thuộc

Đo lường biến số

Cấp độ
phân tích

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất,
Vốn
nước,… mà người dân có được hay tiếp
Hộ gia
tự
cận được nhằm phục vụ cho mục tiêu hoạt
đình
nhiên
động sinh kế.
Vốn Nguồn tiền đền bù, hỗ trợ, nguồn đầu tư,
Cá nhân và
tài nguồn thu nhập từ sinh kế của cá nhân và
hộ gia đình
Sinh kế chính hộ
bền vững
Cấp độ cộng đồng: điện, đường giao

kế tới quá trình phát triển sinh kế bền vững của nông hộ, đặc biệt là đối với
5


những hộ có nguồn lực hạn chế. Các phân tích này được kết hợp chặt chẽ
với những kết quả thu được từ các phân tích định tính để phối kiểm và bổ
sung lẫn nhau.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án:
Thứ nhất, luận án kiểm chứng các khái niệm và một số lý thuyết xã hội
học
Thứ hai, thông qua phân tích để tạo cơ sở khoa học cho việc khuyến
nghị các giải pháp dưới góc nhìn xã hội học.
Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng như tài
liệu tham khảo, thông qua đó phần nào có thể mở rộng cho các nghiên cứu
tiếp theo trong tương lai.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu của luận án sẽ làm sáng tỏ việc vận dụng những kiến thức
liên ngành trong nghiên cứu, đặc biệt với cách tiếp cận dựa trên các lý
thuyết khung sinh kế bền vững, lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết hành
động xã hội và lý thuyết xung đột xã hội trong đề tài, cùng với những bằng
chứng thực nghiệm có được sẽ giúp làm rõ hơn sự tác động và mức độ ảnh
hưởng đối với sinh kế của người nông dân bị thu hồi đất do quá trình đô
thị hóa mang lại.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu của luận án sẽ góp phần cung cấp thêm bằng chứng thực
nghiệm về sự tác động cũng như mức độ ảnh hưởng của quá trình đô thị
hóa đối với sự thay đổi các hoạt động sinh kế của nông hộ bị thu hồi đất.
7. Kết cấu luận án:
Chương 1: Tổng quan một số quan điểm và công trình nghiên cứu liên

các học giả trong và ngoài nước quan tâm và ứng dụng rộng rãi trong các
nghiên cứu của mình và ngày càng được coi trọng, bởi lẽ nó được xem như
là một công cụ để nâng cao sự hiểu biết về tính bền vững của sinh kế, là
khuôn khổ để phân tích các mối quan hệ giữa yếu tố ảnh hưởng đến sinh
kế con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau. Luận án sẽ sử
dụng khung phân tích này nhưng có điều chỉnh cho phù hợp để vận dụng
trong nghiên cứu của đề tài.
1.2.2. Nghiên cứu về phương thức chuyển đổi sinh kế của người
nông dân trong bối cảnh CNH - ĐTH
Nhìn chung, các nghiên cứu về phương thức chuyển đổi sinh kế của
người nông dân trong bối cảnh CNH – ĐTH cho thấy, mỗi công trình
nghiên cứu đều có một hướng tiếp cận riêng và những kết quả nghiên cứu
7


trên đã tập hợp lại tạo thành một bức tranh đa dạng, phong phú về sinh kế
của người nông dân trong quá trình phát triển, có ý nghĩa gợi mở nhiều
vấn đề, cung cấp nhiều thông tin có giá trị và là cơ sở giúp luận án tìm
hiểu xem chiến lược sinh kế của nông hộ bị thu hồi đất như thế nào để đảm
bảo phát triển sinh kế bền vững.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Có thể nói, các quan điểm cũng như các kết quả nghiên cứu về sinh kế
trên là tài liệu vô cùng quý giá và bổ ích giúp cho tác giả có cái nhìn tổng
quan trên các khía cạnh nghiên cứu về sinh kế của người nông dân bị thu
hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Từ đó, tác giả vận
dụng vào nghiên cứu của mình dưới góc nhìn xã hội học và kỳ vọng sẽ góp
phần bổ sung một số phát hiện mới dựa trên bằng chứng, làm cơ sở vững
chắc cho các đề xuất chính sách hỗ trợ sinh kế của những nông hộ bị thu
hồi đất.


“Đô thị hóa” được nhìn nhận ở các gốc độ tiếp cận khác nhau. Bên
cạnh, cũng xuất hiện nhiều quan điểm lý thuyết được xây dựng nhằm phân
tích, lý giải cho quá trình đô thị hóa. Chẳng hạn như:
● Lý thuyết hiện đại hóa
● Lý thuyết đô thị hóa mức
● Lý thuyết thiên vị đô thị
9


Các quan điểm và lý thuyết trên giúp cho tác giả có cái nhìn bao quát
hơn về tính chất của quá trình đô thị hóa.
2.1.5. Nông dân, nông hộ bị thu hồi đất
2.2. Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
2.2.1. Lý thuyết sinh kế bền vững
Trong luận án, tiếp cận lý thuyết sinh kế bền vững được vận dụng để
phân tích, đánh giá các tiềm năng của nông hộ như năng lực, trình độ
chuyên môn của lao động, mạng lưới xã hội, khả năng tiếp cận các nguồn
lực vật chất, con người, tự nhiên, tài chính và nguồn lực xã hội cần thiết
cho phát triển sinh kế của nông hộ sau khi bị mất đất sản xuất và buộc phải
thích ứng với điều kiện sống mới. Cách tiếp cận này cũng giúp định hướng
mục tiêu phân tích đối với các chính sách được ban hành và áp dụng trên
thực tế như chính sách đền bù, đào tạo nghề, tín dụng, tạo việc làm,… trên
cơ sở gắn với sinh kế bền vững. Qua đó có thể đề xuất các giải pháp cơ
chế, chính sách khả thi nhằm tạo sinh kế cho nông hộbị thu hồi đất phát
triển theo hướng bền vững cùng với quá trình phát triển đô thị.
2.2.2. Lý thuyết mạng lưới xã hội:
Vận dụng lý thuyết mạng lưới xã hội trong đề tài luận án giúp tìm hiểu
rõ thành phần và kiểu các quan hệ xã hội mà các cá nhân, hộ gia đình có
được bởi sự liên kết xã hội của họ với những quan hệ gia đình, họ hàng,
những người quen thân của gia đình, láng giềng, hay việc tham gia vào các

quy định của Luật Đất đai năm 2003 và sau đó được bổ sung những quy
định mới về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai 2013 và các
văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật đất đai hiện hành.
2.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.4.1. Câu hỏi nghiên cứu
(1)Việc thu hồi đất để phục vụ cho quá trình đô thị hóa tại địa bàn
nghiên cứu đã có những ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sinh kế của
người nông dân bị thu hồi đất?; (2) Thực trạng sinh kế của người nông dân
trước và sau khi bị thu hồi đất như thế nào? Yếu tố nào hạn chế chiến lược
phát triển sinh kế với những thay đổi về sinh kế hiện tại?; (3) Vai trò của
chính quyền và các tổ chức đoàn thể - chính trị xã hội của địa phương như
thế nào trong việc hỗ trợ người nông dân bị thu hồi đất để duy trì, ổn định
sinh kế?; (4) Các chính sách hỗ trợ/can thiệp của Nhà nước có những yếu
tố phù hợp hoặc bất cập gì cần phải điều chỉnh để đảm bảo sinh kế bền
vững cho người nông dân bị thu hồi đất?
2.4.2. Giả thuyết nghiên cứu
(1) Việc thu hồi đất nông nghiệp với quy mô lớn đã làm ảnh hưởng
mạnh mẽ đến sinh kế của những nông hộ bị thu hồi đất; (2) Phần lớn nông
11


dân bị thu hồi đất hạn chế về trình độ, chuyên môn và khả năng thích ứng
của họ với điều kiện mới là không cao, tiềm ẩn rủi ro, thiếu ổn định; (3)
Chính quyền và các tổ chức đoàn thể của địa phương chưa thể hiện hết vai
trò trong việc hỗ trợ chuyển đổi sinh kế của người nông dân bị thu hồi đất;
(4) Chính sách về đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông nghiệp
bị thu hồi đất còn hạn chế, không khả thi để đảm bảo sinh kế bền vững
trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tại địa phương.
2.5. Khung phân tích


3.2. Bối cảnh sinh kế của người nông dân tại huyện Nhà Bè trong
quá trình đô thị hóa
3.2.1. Đất sản xuất nông nghiệp của người nông dân bị thu hẹp dần
Theo số liệu thống kê vào những năm 2004 tổng diện tích đất nông
nghiệp của toàn huyện chiếm khoảng 6.081ha, nhưng 10 năm sau đó (năm
2014) đã giảm đi rất lớn và chỉ còn khoảng 4.700 ha. Điều này cho thấy,
chính quyền địa phương đã thu hồi một khối lượng diện tích đất đai đáng
kể làm mặt bằng cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ, đô thị,…mà chủ
yếu là đất sản xuất nông nghiệp, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt
động sinh kế của 2.448 nông hộ có đất bị thu hồi.
Đối với riêng 400 hộ trong mẫu khảo sát cũng cho thấy, những hộ có
đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi chiếm một tỷ lệ khá cao với 70,6%
(trong đó có 62,5% hộ trồng lúa, 4,8% hộ trồng hoa màu và 3,3% hộ có đất
mặt nước). Mặt khác, cũng có không ít số hộ có đất thổ cư hay đất vườn,
gò bị thu hồi nhưng với một tỷ lệ ít hơn, lần lượt 35,8% và 7,3% số hộ
13


tương ứng. Càng lên các nhóm có diện tích thu hồi cao hơn thì tỷ lệ hộ gia
đình có đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi chiếm tỷ lệ nhiều hơn.
Trong các loại đất bị thu hồi thì đất sản xuất nông nghiệp vẫn là loại đất
bị thu hồi nhiều hơn ở các nhóm có diện tích thu hồi cao hơn.
Nhiều nông hộ trong mẫu khảo sát bị mất đi hay còn lại rất ít đất canh
tác, dẫn đến không ít lao động rơi vào cảnh mất việc làm. Kết quả khảo
sát, sau khi bị thu hồi đất có đến 156 nông hộ có từ 1 đến 3 lao động bị mất
việc làm chiếm tỷ lệ 39,1%. Điều đáng chú ý là ở những nhóm nông hộ có
diện tích thu hồi càng nhiều thì càng có nhiều lao động trong hộ gia đình
rơi vào cảnh mất việc làm.
3.2.2. Dư thừa lao động nông nghiệp
Có thể nói, quá trình phát triển CNH – ĐTH ở địa bàn nghiên cứu đã

trong lĩnh vực công nghiệp/xây dựng cơ bản chiếm 30,1% và dịch vụ
36,9%. Tỷ lệ làm việc trong các lĩnh vực thương mại và quản lý nhà nước
cũng có tăng nhưng không đáng kể, trong đó thương mại tăng từ 8,5% lên
14,8%, quản lý nhà nước từ 5,0% lên 10,4% tương ứng. Như vậy, gần như
phần lớn lao động trong hộ khảo đã chuyển sang làm việc trong lĩnh vực
công nghiệp/xây dựng cơ bản và dịch vụ là chủ yếu.
Tương tự là sự thay đổi đối với loại hình kinh tế và vị thế việc làm của
những thành viên trong hộ gia đình so với trước khi bị thu hồi đất. Hầu hết
trước khi thu hồi đất là tự làm/làm cho gia đình chiếm 63,7%, hiện nay chỉ
chiếm 37,1% và một bộ phận chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp
chiếm 29,1%, làm việc trong khu vực nhà nước 15,7% và làm mướn
12,7%.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thay đổi việc làm hiện nay so với trước
khi thu hồi đất. Một số thay đổi việc làm là hệ quả trực tiếp hoặc gián tiếp
của việc thu hồi đất, nhưng một số khác là hệ quả của quá trình chuyển đổi
các cấu trúc kinh tế - xã hội - dân số đã và đang diễn ra tại địa bàn nghiên
cứu. Có đến 44,2% số người từ 15 tuổi trở lên trả lời lý do thay đổi việc
làm là không còn đất nông nghiệp do bị quy hoạch. Thêm vào đó, có
11,3% số người từ 15 tuổi trở lên phải chuyển nghề vì thiếu hoặc không
còn đất sản xuất không phải do qui hoạch mà do những yếu tố khác như
sang nhượng lại, chia cho con cái, xây cất nhà cửa hoặc cho các mục đích
phi nông nghiệp khác. Chỉ hai yếu tố liên quan trực tiếp đến đất đai nêu
trên đã chiếm hơn một nửa trong tổng số người trả lời về các lý do chuyển
đổi nghề nghiệp hiện nay so với trước khi bị thu hồi đất. Hơn nữa, trong
bối cảnh chuyển đổi mục đích sử dụng đất diễn ra phổ biến, sản xuất nông
nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn làm giảm đáng kể hoặc thậm chí mất toàn
bộ thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và do vậy gián tiếp đẩy lao động nông
15



nhóm hộ có diện tích thu hồi cao hơn, lần lượt 36,6%, 39,8%, 41,4%.
Nhóm hộ có diện tích thu hồi nhiều nhất không có nguồn thu từ nuôi trồng
thuỷ sản vì bị hạn chế nguồn lực đất đai và họ nhận được nhiều sự hỗ trợ
16


hơn từ sự giúp đỡ của bạn bè/người thân và từ trợ cấp của Nhà nước/đoàn
thể.
Từ những phân tích trên cho thấy, phần lớn số hộ có mức thu nhập hiện
tại không thay đổi so với trước khi thu hồi đất, chiếm tỷ lệ 39,8%. Bên
cạnh một tỷ lệ gần như tương đương số hộ có mức thu nhập vẫn như cũ là
một tỷ lệ 38,3% số hộ có mức thu nhập giảm hơn so với trước khi thu hồi
đất. Trong khi đó, chỉ có 22,1% số hộ có mức thu nhập tăng lên, nhưng
trong đó tỷ lệ thu nhập tăng hơn nhiều rất ít chỉ có 3,8% số hộ, phần lớn là
tăng lên chút ít với 18,3% số hộ. Cho thấy rằng chiến lược sinh kế của hộ
gia đình nông dân là không hiệu quả sau khi bị thu hồi đất.
3.3. Đánh giá một số yếu tố chính sách của Nhà nước đối với sinh
kế của người nông dân bị thu hồi đất ở huyện Nhà Bè
3.3.1. Tình hình thực thi chính sách pháp luật về đất đai và các văn
bản pháp luật có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người
bị thu hồi đất
Theo các báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè về giải quyết
khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo liên quan đến thu hồi đất đai của công dân
trên địa bàn huyện Nhà Bè diễn biến khá phức tạp, tính chất ngày càng gay
gắt, kéo dài, tập trung vào các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
đối với các hộ dân có đất bị thu hồi, bởi những quy định hiện nay cũng còn
nhiều bất cập. Nếu như khắc phục được những tồn tại đó thì sẽ đảm bảo
giữ được sự ổn định an ninh trật tự của địa phương. Mặt khác, đảm bảo
được quyền lợi chính đáng cho người nông dân có đất bị thu hồi sẽ tạo
điều kiện cho họ ổn định trong cuộc sống.

18


Chương 4
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
SINH KẾ CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.1. Một số yếu tố về nguồn lực sinh kế của nông hộ bị ảnh hưởng
bởi quá trình thu hồi đất tại huyện Nhà Bè
4.1.1. Một số yếu tố về nguồn vốn tự nhiên
Một diện tích khá lớn các loại đất sản xuất nông nghiệp của các nông
hộ đã được chuyển đổi thành đất phi nông nghiệp và sau khi thu hồi đất
bình quân diện tích của các loại đất sản xuất nông nghiệp ở mỗi nhóm
nông hộ còn lại rất ít và chỉ với 626m2 đất trồng lúa, 710m2 đất trồng hoa
màu, 709m2 đất mặt nước, tương ứng một cách rõ nét với thu nhập từ hoạt
động nông nghiệp thường thấp và bấp bênh hơn so với thu nhập từ các
hoạt động khác ngoài nông nghiệp. Mặc dù vậy, các khoản thu nhập từ các
hoạt động phi nông nghiệp cũng không có sự quá chênh lệch giữa các
nhóm nông hộ có diện tích bị thu hồi nhiều hay ít.
4.1.2. Một số yếu tố về nguồn vốn tài chính
Ngoài các nguồn thu nhập từ hoạt động sinh kế của nông hộ, thì khoản
tiền đền bù cho diện tích đất bị thu hồi được xem là nguồn tài chính khá
lớn có thể giúp cho hộ nông dân có nhiều cơ hội trong quá trình chuyển
đổi sinh kế. Phổ biến nhất là từ 1,2 tỷ đồng đến 1,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau
khi nhận tiền đền bù họ lại sử dụng vào các mục đích khác nhau, hầu như
không mang lại lợi ích kinh tế cho hộ gia đình. Mặt khác, khoản chi hợp lý
nhất cho đầu tư học tập để tạo cơ sở sau này con cái họ có nghề nghiệp ổn
định, cuộc sống sẽ tốt hơn, nhưng cũng ít được các nông hộ quan tâm.
4.1.3. Một số yếu tố về nguồn vốn vật chất
Nguồn vốn vật chất trên góc độ cộng đồng trong những năm gần đây đã

dường như còn xa lạ đối với số đông người nông dân, sự chậm chạp, lề mề
trong công việc vốn đã ăn sâu vào trong bản thân của họ, vì thế họ khó
thích nghi với những công việc ở lĩnh vực công nghiệp. Cùng với đó, nhận
thức cũng còn thụ động, chưa cố gắng vượt qua khó khăn mà chỉ trông chờ
vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước, vào tiền đền bù, không chủ động
trang bị cho mình một công việc với nhiều cơ hội việc làm mở ra ở địa
phương.
4.1.5. Một số yếu tố về nguồn vốn xã hội
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc tham gia vào các tổ chức chính
trị - xã hội sẽ là cơ hội tạo nên mối quan hệ rộng, tiếp cận những kiến thức
mới, sự hiểu biết, các nguồn vốn hỗ trợ,…được mở ra, tuy nhiên rất ít hộ
20


gia đình trong mẫu khảo sát tận dụng được cơ hội này. Chính vì thế, mà họ
ít có cơ hội nhận được sự giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của các tổ chức
này, có chăng cũng chỉ một vài hộ nhận được sự trợ giúp từ các tổ chức
đoàn thể, chính quyền địa phương với 2,3% và 9,0% số hộ tương ứng.
Phần lớn hộ gia đình không nhận được sự giúp đỡ nào chiếm một tỷ lệ rất
lớn với 86,3% số hộ. Tuy vậy, một số ít hộ cũng có nhận được sự giúp đỡ
từ cộng đồng nơi cư trú hay từ các tổ chức tôn giáo, nhưng tỷ lệ không
đáng kể. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ bạn bè, lối xóm, họ hàng, người
thân,…cũng khá ít.
4.2. Đánh giá mô hình sinh kế của nông hộ sau khi bị thu hồi đất
4.2.1. Mô hình sinh kế dựa vào nông nghiệp
Mô hình sinh kế hiện nay dựa vào nông nghiệp của người nông dân là
chưa thật sự an toàn, bởi lẽ tình trạng đất đai còn lại manh mún, nhỏ lẻ,
phân tán khó có thể ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, chăn
nuôi và do không chủ động được với các tình huống dịch bệnh, ô nhiễm
môi trường xảy ra là những nguyên nhân dẫn đến nguồn thu từ hoạt động

hạn chế này cho nên sinh kế hiện nay của hộ gia đình nông dân luôn tiềm
ẩn rủi ro và thiếu tính bền vững. Về những mô hình sinh kế, một số hộ
chọn mô hình sinh kế dựa vào nông nghiệp trên phần đất còn lại của mình,
nhưng hiệu quả không cao. Một số hộ khác, tranh thủ nguồn lực tài chính
mà họ có được đầu tư vào các mô hình buôn bán, kinh doanh, cho thuê nhà
trọ và đã đem lại hiệu quả tích cực trong cuộc sống của gia đình. Tuy vậy,
không hẳn tất cả hộ nông dân bị thu hồi đất đều có khả năng để thực hiện
mô hình sinh kế này, bởi nguồn lực tài chính có được ở nhiều hộ gia đình
đã chuyển thành nguồn vốn vật chất không giúp ích gì trong việc cải thiện
sinh kế. Về kết quả sinh kế, mặc dù hiện nay trên địa bàn nghiên cứu nhiều
công ty, xí nghiệp phát triển mạnh mẽ, là cơ hội tạo ra việc làm cho người
dân nói chung và lao động bị thu hồi đất nói riêng, nhưng phần lớn lao
động bị thu hồi đất lại thiếu việc làm bởi các yêu cầu đòi hỏi khắc khe
trong khâu tuyển dụng và họ luôn là đối tượng không đáp ứng được trước
những yêu cầu đó. Vì thế, mặc dù nhiều cơ hội việc làm được mở ra nhưng
người nông dân bị thu hồi đất luôn đứng ngoài những cơ hội đó, tất yếu
thu nhập hộ gia đình cũng luôn trong tình trạng bấp bênh và không cải
thiện gì so với trước khi bị thu hồi đất.

22


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết quả của luận án về cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu và nhiệm vụ
nghiên cứu đã đề ra ban đầu. Tuy nhiên, luận án cũng còn có một số hạn
chế nhất định như mẫu nghiên cứu chỉ trong phạm vi trường hợp của một
huyện cho nên kết quả nghiên cứu không khả năng suy rộng cho tổng thể,
chưa chú ý phân tích về giới để tìm hiểu năng lực thích ứng giữa nam và
nữ ai sẽ bất lợi hoặc có cơ hội hơn trong chiến lược sinh kế, từ đó làm cơ
sở đề xuất chính sách phù hợp trong chiến lược phát triển sinh kế bền vững


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status