Phát triển sinh kế bền vững của nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa (nghiên cứu trường hợp huyện nhà bè, thành phố hồ chí minh) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HÒA

PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NÔNG HỘ BỊ THU
HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HÒA

PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NÔNG HỘ BỊ THU
HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH)
Ngành: Xã hội học
Mã số: 9310301

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC


1.1. Những quan điểm về phát triển nông thôn và sinh kế người nông dân.. .11
1.2. Những chủ đề nghiên cứu về sinh kế.......................................................19
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.............................28
2.1. Các khái niệm được sử dụng trong luận án..............................................28
2.2. Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu............................................. 35
2.3. Khái quát chung về chính sách quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất và việc thực hiện trên địa
bàn huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh..................................................44
2.4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu..........................................53
Chương 3: THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN NHÀ BÈ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA...............................................56

3.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu..............................................................56
3.2. Bối cảnh sinh kế của người nông dân tại huyện Nhà Bè trong quá trình đô
thị hóa.................................................................................................................................................... 57
3.3. Đánh giá một số yếu tố chính sách của Nhà nước đối với sinh kế của
người nông dân bị thu hồi đất ở huyện Nhà Bè.............................................. 70
Chương 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
SINH KẾ CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH..........................................................81

4.1. Một số yếu tố về nguồn lực sinh kế của nông hộ bị ảnh hưởng bởi quá
trình thu hồi đất tại huyện Nhà Bè..................................................................81
4.2. Đánh giá mô hình sinh kế của nông hộ sau khi bị thu hồi đất...............112
4.3. Kết quả sinh kế của nông hộ sau khi bị thu hồi đất............................... 117
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ....................................................................................122
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ...........................................128
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................129



hiện nay của những người từ 15 tuổi trở lên..................................................................... 97


Bảng 4.9: Tình trạng việc làm hiện nay của các thành viên hộ gia đình
từ 15 tuổi trở lên chia theo nhóm tuổi.............................................................99
Bảng 4.10: Cơ cấu việc làm hiện nay của những người tại thời điểm
trước khi thu hồi đất là nông dân chia theo nhóm tuổi................................. 101
Bảng 4.11: Tình trạng việc làm hiện nay của các thành viên hộ gia đình
chia theo nhóm trình độ học vấn...................................................................103
Bảng 4.12: Cơ cấu việc làm hiện nay của những người tại thời điểm
trước khi thu hồi đất là nông dân chia theo trình độ học vấn........................104
Bảng 4.13: Chuyên môn tay nghề chính đã/đang được đào tạo của
những người từ 15 tuổi trở lên...................................................................... 105
Bảng 4.14: Tỷ lệ vay mượn của hộ gia đình trong 12 tháng qua chia
theo 3 nhóm có diện tích thu hồi khác nhau (%)......................................................... 110
Bảng 4.15: Trung bình các khoản tiền vay mượn của hộ gia đình trong
12 tháng qua chia theo 3 nhóm có diện tích thu hồi đất khác nhau (triệu
đồng/hộ)............................................................................................................................................ 111
Bảng 4.16: Thu nhập bình quân nhân khẩu chia theo 3 nhóm hộ gia
đình có diện tích thu hồi đất khác nhau (đồng/người/tháng)........................119


DANH MỤC BIỂU
Biểu 4.1: Diện tích trung bình các loại đất còn lại chia theo 3 nhóm hộ
gia đình có diện tích thu hồi đất khác nhau (m2)............................................ 82
Biểu 4.2: Tỷ lệ các hộ gia đình có người là thành viên của các tổ chức
109
Biểu 4.3: Những sự giúp đỡ đối với hộ gia đình từ khi bị thu hồi đất đến
nay.................................................................................................................109


Quản lý NN

Quản lý Nhà nước

BHYT

Bảo hiểm y tế

CN-TTC

Công nhân – Thợ thủ công

LĐ giản đơn

Lao động giản đơn

HS/SV

Học sinh/sinh viên

THPT

Trung học phổ thông

SX,KD

Sản xuất, kinh doanh

Phi NN


1


liên kết với nhau thành các khu đô thị sầm uất. Chỉ trong vòng 10 năm, từ
2004 đến 2014, trên địa bàn huyện đã có hơn 814 ha đất được thu hồi, trong
đó nhiều nhất vẫn là đất nông nghiệp với 787 ha, làm mất việc làm truyền
thống của 2.448 hộ nông dân có đất bị thu hồi [4, tr. 8]. Một câu hỏi đặt ra là
lao động nông dân bị thu hồi đất sẽ làm gì để duy trì, ổn định sinh kế và vai
trò của chính quyền địa phương như thế nào trong việc hỗ trợ chuyển đổi sinh
kế khi mà người nông dân không còn hay còn lại ít đất canh tác. Đây chính là
vấn đề mà tác giả quyết định chọn làm đề tài nghiên cứu trong luận án Tiến sĩ
của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu thực trạng và mức độ ảnh hưởng
của việc thu hồi đất đến sinh kế của những nông hộ bị mất đất sản xuất dưới
tác động của quá trình ĐTH tại huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh trong giai
đoạn 2004-2014. Từ các kết quả nghiên cứu này, đề tài đề xuất một số ý kiến
mang tính gợi mở về mặt chính sách nhằm phát triển sinh kế bền vững cho
những hộ nông dân bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Phân tích thực trạng sinh kế của người nông dân tại huyện Nhà Bè
trong quá trình ĐTH;
- Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược sinh kế của hộ nông dân
sau khi bị thu hồi đất tại địa bàn nghiên cứu;
- Tìm hiểu các chính sách của Nhà nước cùng với sự hỗ trợ xã hội đối
với việc cải thiện sinh kế của những nông hộ bị thu hồi đất;



3


xây dựng một bức tranh tổng quát về bối cảnh nghiên cứu, các cách tiếp cận
nghiên cứu, các luận điểm, luận cứ, các kết quả phân tích thực nghiệm, các
khác biệt và tranh luận đối với các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
của đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là nghiên cứu định
lượng bằng bảng hỏi, liên quan đến: các khía cạnh và mức độ ảnh hưởng của
quá trình ĐTH đến điều kiện sống, sinh kế của người nông dân; các nguồn lực
cá nhân, cộng đồng, sự trợ giúp của chính quyền và khả năng thích ứng cũng
như các chiến lược sinh kế của nông hộ; các cơ chế, chính sách của Nhà nước
đối với nông hộ bị thu hồi đất; các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng
đến sinh kế của người nông dân.
4.3. Phương pháp nghiên cứu định tính
Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến
hành các cuộc phỏng vấn sâu đối với những người nông dân bị thu hồi đất có
các hoạt động sinh kế khác nhau và các điều kiện kinh tế khác nhau; phỏng
vấn chiến lược đối với các cán bộ địa phương và các tổ chức chính trị xã hội
liên quan. Nghiên cứu định tính giúp hiểu sâu hơn các bối cảnh chuyển đổi,
các chính sách phát triển và chính sách xã hội được áp dụng cụ thể, các vấn đề
nằm bên dưới và các mối quan hệ phức tạp hơn những tương quan được lượng
hóa.
4.4. Chọn mẫu và qui mô mẫu
4.4.1. Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
(systematic sampling method) theo quy trình như sau:
Bước 1: Thu thập toàn bộ danh sách những nông hộ bị thu hồi đất

được chọn sẽ là: 1, 3, 5, 7, 9, 11, 12, 14, 16, 18, 20, 22, 23,…., 400. Về cơ
bản, phương thức chọn mẫu này cho phép các hộ trong mẫu khảo sát có tính

5


đại diện cao nhất đối với tổng số hộ nông dân bị mất đất ở huyện Nhà Bè
trong giai đoạn 2004-2014 hiện vẫn còn cư trú tại huyện.
Đổi mẫu: Nguyên tắc chung trong trường hợp sau 3 lần không tiếp
cận được hộ được chọn thì thay thế bằng hộ kế tiếp liền kề (trước hoặc sau)
trong danh sách khung lấy mẫu.
Kết quả có 5 trường hợp đổi mẫu (1,25%) với lý do đi vắng dài ngày
không tiếp cận được. Tỷ lệ đổi mẫu thấp là một trong những yếu tố đảm bảo
độ tin cậy của thông tin thu thập được.
Xác định người đại diện cho hộ gia đình để trả lời: Đối tượng ưu
tiên thứ nhất là chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ. Trong trường hợp đối tượng ưu
tiên thứ nhất không tham gia trả lời được (quá lớn tuổi, không đủ năng lực,
không gặp được) thì người thay thế phải là người trên 18 tuổi, có quan hệ mật
thiết với chủ hộ và hiểu biết các vấn đề chung của hộ. Trong trường hợp
không tiếp cận được với người đủ điều kiện trả lời thì đổi mẫu.
Qui mô và cơ cấu mẫu phỏng vấn định tính bao gồm: phỏng vấn sâu
1/10 số hộ được phỏng vấn định lượng (40 hộ nông dân) và phỏng vấn chiến
lược đối với 18 cán bộ lãnh đạo tại 6 xã của huyện (mỗi xã phỏng vấn 1 lãnh
đạo Hội Nông dân, 1 lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) và 1 cán bộ chuyên
trách Lao động Thương binh Xã hội của xã). Bên cạnh đó, tiến hành 03 thảo
luận nhóm ở 02 xã và 01 thị trấn gồm các cán bộ xã/thị trấn, ấp/khu phố, các
hộ gia đình nông dân bị thu hồi đất.
4.4.2. Đo lường biến số
Trong nghiên cứu này, sinh kế của các nông hộ bị thu hồi đất và các
vấn đề liên quan có thể được đo lường và phân tích ở cả góc độ cá nhân hoặc


được nhằm phục vụ cho mục tiêu hoạt động

đình

sinh kế.
Vốn tài
Sinh kế

chính

Nguồn tiền đền bù, hỗ trợ, nguồn đầu tư,
nguồn thu nhập từ sinh kế của cá nhân và hộ

bền vững
của các
nông hộ

Vốn vật

bị thu

chất

hồi đất

Cấp độ cộng đồng: điện, đường giao thông, y
tế, nước sinh hoạt, môi trường,…
Cấp độ gia đình: Điều kiện nhà ở, các tiện
nghi, trang thiết bị sinh hoạt, phương tiện

7


đổi tương ứng với quá trình ĐTH trên địa bàn cũng như những thuận lợi, khó
khăn trong quá trình phát triển sinh kế bền vững của nông hộ trong mối quan
hệ với các tác tố bên ngoài theo khung sinh kế bền vững. Bên cạnh đó, việc
phân chia và so sánh giữa các nhóm hộ có diện tích thu hồi đất khác nhau sẽ
giúp tìm hiểu sâu hơn về tác động của các nguồn lực sinh kế tới quá trình phát
triển sinh kế bền vững của nông hộ, đặc biệt là đối với những hộ có nguồn lực
hạn chế. Các phân tích này được kết hợp chặt chẽ với những kết quả thu được
từ các phân tích định tính để phối kiểm và bổ sung lẫn nhau.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, thông qua phân tích thực nghiệm, luận án kiểm chứng một
số lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu về sinh kế của người nông dân bị thu
hồi đất trước những tác động của quá trình ĐTH tại một địa phương cụ thể.
Thứ hai, kết quả nghiên cứu tạo cơ sở khoa học cho việc khuyến nghị
các giải pháp dưới góc nhìn xã hội học để các nhà quản lý, các nhà hoạch định
chính sách có thêm luận cứ, luận chứng khi đưa ra các chính sách khả thi đối
với phát triển sinh kế bền vững cho nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình
ĐTH, nhất là tại một đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh.
Thứ ba, luận án có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho các
nhà nghiên cứu, qua đó phần nào có thể mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo
trong tương lai.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu của luận án làm sáng tỏ việc vận dụng những kiến thức
liên ngành trong nghiên cứu về sinh kế bền vững, dựa trên các lý thuyết
khung sinh kế bền vững, lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết hành động xã
hội và lý thuyết xung đột xã hội. Cùng với đó, qui trình thiết kế và phân tích
dựa trên cơ sở khoa học và được thực hiện nghiêm cẩn, trung thực giúp tạo ra


9


thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất; câu hỏi nghiên cứu, giả
thuyết nghiên cứu và khung phân tích đề tài của luận án.
Chương 3: Thực trạng sinh kế của người nông dân tại huyện Nhà Bè
trong quá trình ĐTH. Chương này trước tiên khái quát tình hình KT-XH ở địa
bàn nghiên cứu, tiếp theo tập trung phân tích bối cảnh sinh kế của người nông
dân tại huyện Nhà Bè trong quá trình ĐTH và cuối cùng đánh giá một số yếu
tố chính sách của Nhà nước đối với sinh kế của người nông dân bị thu hồi đất
ở huyện Nhà Bè
Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược phát triển sinh kế
của hộ nông dân có đất bị thu hồi trên địa bàn huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí
Minh. Chương này tập trung phân tích một số yếu tố về nguồn lực sinh kế của
nông hộ bị ảnh hưởng bởi quá trình thu hồi đất tại huyện Nhà Bè; đánh giá mô
hình sinh kế và kết quả sinh kế của nông hộ sau khi bị thu hồi đất.

10


Chương 1
TỔNG QUAN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong phần tổng quan nghiên cứu của luận án, các tư liệu tham khảo
chính thuộc phạm vi chuyên ngành Xã hội học. Tuy nhiên, đối tượng nghiên
cứu của luận án hàm chứa tính liên ngành, nên tác giả cũng đã sử dụng các tài
liệu chuyên ngành Kinh tế học, Nhân học văn hóa, và Tâm lý học để kết nối,
bổ sung. Các quan điểm và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được
trình bày trong phần này tập trung vào hai nhóm vấn đề liên quan chính đến

vực nông nghiệp sang sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, nâng
cao sức tăng trưởng và phát triển kinh tế [41, tr: 304].
Lập luận trên cho thấy, trường phái lý thuyết phát triển này không ý
thức được vai trò của khu vực nông thôn trong quá trình phát triển. Việc ưu
tiên cho công nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cao hơn đã dẫn
tới sự di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, và như vậy khu vực nông thôn lại là
nơi sản xuất lương thực cho cư dân nông thôn, cư dân đô thị và cung cấp lao
động cho ngành công nghiệp. Bản chất của trường phái lý thuyết này không
thừa nhận vai trò đổi mới của khu vực nông thôn và không xem xét đến khả
năng thay đổi trong trình tự phát triển. Trên thực tế, không có việc gì được coi
là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển. Khu vực nông thôn có thể đóng vai
trò đổi mới ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào.
Khác với Authur Lewis, nhà kinh tế học người Nhật Bản Harry
Toshima đưa ra trường phái lý thuyết tăng trưởng kinh tế ở Châu Á gió mùa.
Theo ông, mô hình kinh tế nhị nguyên của Authur Lewis không phù hợp với
các nước Châu Á bởi lẽ nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong
đỉnh cao thời vụ và chỉ thừa lao động trong lúc nhàn rỗi. Vì vậy, ông cho rằng
lao động trong nông nghiệp cần phải giữ lại và chỉ tạo ra thêm nhiều việc làm

12


trong những tháng nhàn rỗi bằng cách tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi
thích hợp,… Bên cạnh đó, có thể mở ra nhiều ngành mới, sử dụng nhiều lao
động để tạo việc làm, tăng thu nhập. Phải thực hiện CNH nông nghiệp bằng
cách xây dựng kết cấu hạ tầng vật chất, hạ tầng xã hội cho nông thôn, phân
công và chuyên môn hóa lao động, từng bước chuyển giao lao động nông
nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ, chuyển lao lao động chân tay, cơ
bắp năng suất thấp sang lao động với máy móc năng suất cao. Có như vậy, thu
nhập và đời sống vật chất, tinh thần của nông dân ở nông thôn mới từng bước

sức mua của khu vực nông thôn, các xí nghiệp tư nhân vừa và nhỏ thúc đẩy sự
phát triển thị trường cùng với sự tăng trưởng của nông nghiệp đi đôi với việc
tăng số lượng việc làm ở khu vực này [71, tr. 39-40].
Quan điểm của học giả LaKshmanan (1982) cũng cho rằng, phát triển
nông thôn phải là quá trình cải thiện mức sống của đa số người nghèo ở nông
thôn và phải làm cho họ có khả năng tự phát triển và cần có một khuôn khổ
chính sách phù hợp ở các cấp độ quốc gia và vùng để huy động, phân bổ các
nguồn lực như nhân lực, vật lực và tài lực cho quá trình phát triển [144].
Với lập luận như vậy, có thể hiểu rằng về phương thức thực hiện tiến
trình phát triển nông thôn phải lấy cộng đồng dân cư nông thôn làm trung tâm
trong tiến trình phát triển cùng với việc phát huy tối đa vai trò chủ đạo của
Nhà nước trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển nông thôn có nền
tảng kinh tế vững chắc.
Một điều thực sự thiếu sót nếu muốn phát triển nông thôn đạt kết quả
mà không bảo đảm cho sự phát triển nông nghiệp bền vững. Đây là vấn đề đặt
ra được các quốc gia quan tâm, bởi lẽ nông nghiệp bền vững sẽ là một yếu tố
tạo nên nền kinh tế phát triển bền vững. Vào những thập niên cuối thế kỷ 20,
những vấn đề được đặt ra chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp với mục
đích bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn
những nhu cầu của con người ngày càng tăng mà không hủy diệt đất đai,
không làm ô nhiễm môi trường.
Sau khi tổng kết nhiều mô hình để phát triển nông thôn toàn diện hơn,
vào năm 1992, Tổ chức lương thực Liên hiệp quốc (FAO) đưa ra quan điểm

14


về phát triển nông thôn bền vững là sự quản lý và bảo tồn, sự thay đổi về tổ
chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu
ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ, vừa đáp ứng cả cho

trong các chiến lược sinh kế nhằm giảm rủi ro do các hiểm họa của tự nhiên
gây ra hay từ sự biến động KT-XH tạo nên [131]. Theo đó, trong chính sách
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn thì vai trò của việc phát triển kinh tế phi
nông nghiệp ở nông thôn được đặc biệt chú trọng. Học giả Adams (2002) lập
luận rằng, việc tập trung các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn là cách
tốt nhất để nâng cao thu nhập cho người nghèo. Những hoạt động này không
chỉ tạo ra nguồn thu nhập quan trọng nhất cho mọi tầng lớp ở nông thôn mà
còn là một nhân tố thu hẹp sự bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn và thành
thị [113].
Các học giả Ashley và Maxwell (2001) cũng nhận định rằng, tập trung
phát triển và tăng trưởng khu vực nông thôn sẽ góp phần thực hiện tốt mục
tiêu xóa đói giảm nghèo không chỉ riêng cho khu vực nông thôn mà còn cho
cả khu vực thành thị, trong khi tăng trưởng ở khu vực thành thị không đủ đảm
bảo cho xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn. Do vậy, việc thúc đẩy tăng
trưởng cho ngành nông nghiệp là một bài toán vô cùng quan trọng trong
hoạch định chính sách phát triển kinh tế [116].
Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm của các học giả về phát triển
nông thôn là sự phát triển tổng hợp liên ngành KT-XH trong một nước hoặc
một vùng lãnh thổ, không chỉ đơn thuần là phát triển về mặt kinh tế mà còn
phát triển cả về mặt xã hội của nông thôn.
1.1.2. Quan điểm ở Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định
tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xem đây là một vấn
đề chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mục tiêu mà Đảng
Cộng sản Việt Nam xác định trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông

16


thôn là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status