Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn dưới tác động của thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa ở thành phố đồng hới tỉnh quảng bình - Pdf 39

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
CNH - HĐH và đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế
giới. Trong thời đại công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay, kinh tế tri thức đang
đi vào cuộc sống và toàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại được thì CNH HĐH là con đường giúp các nước chậm phát triển và đang phát triển rút ngắn

Ế

khoảng cách so với các nước đi trước.

U

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy

́H

CNH - HĐH và đô thị hóa là nhân tố quyết định thay đổi phương thức sản xuất,



chuyển từ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương
thức sản xuất mới hiện đại, do đó cũng làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Trong nền

H

kinh tế hiện đại, CNH - HĐH và đô thị hóa có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo

IN

thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.

hoạch sử dụng đất toàn thành phố từ năm 2006 - 2010 và định hướng quy hoạch sử
dụng đất giai đoạn 2010 - 2020 thì sẽ có sự biến động lớn về diện tích đất các loại

1


theo xu hướng đất nông nghiệp ngày càng giảm dần. Việc thu hồi đất trên địa bàn
thành phố, hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phục vụ phát triển kinh tế xã
hội là đúng, đáp ứng yêu cầu phát triển hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, vấn đề trên
đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm và đời sống của một bộ phận nông dân,
những người bị mất đất trong quá trình đô thị hóa của thành phố.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã chọn đề tài: “Việc làm và thu nhập của
lao động nông thôn dưới tác động của thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa ở
thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình” làm luận văn thạc sỹ của mình.

U

Ế

2. Mục tiêu nghiên cứu

́H

+ Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của lao động
nông thôn bị thu hồi đất cho quá trình đô thị hóa. Đề xuất các giải pháp tạo việc



làm, tăng thu nhập cho các nông hộ sau khi thu hồi đất ở thành phố Đồng Hới.
+ Mục tiêu cụ thể:

Sự thay đổi việc làm và thu nhập của các lao động nông nghiệp bị thu hồi đất
trên địa bàn thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình.
Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi thành phố Đồng Hới.
+ Về thời gian:
- Nguồn số liệu sơ cấp: Số liệu điều tra người lao động bị thu hồi đất
trên địa bàn thành phố Đồng Hới năm 2010 - 2011.
- Nguồn số liệu thứ cấp: Đánh giá về thực trạng việc làm và thu nhập
của các hộ nông dân sau khi thu hồi đất trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009.

2


4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp điều tra chọn mẫu
- Số liệu sơ cấp: Để phù hợp với điều kiện, đặc điểm nghiên cứu trên địa bàn
thành phố Đồng Hới, tôi tiến hành chọn 5 xã phường điều tra: Xã Bảo Ninh,
phường Đồng Sơn, Đồng Phú, Phú Hải, Đức Ninh Đông. Tổ chức phân tổ điều tra
và sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có phân loại. Cơ cấu mẫu điều tra
được phân thành 3 nhóm theo diện tích đất bị thu hồi: Nhóm I: thu hồi

Phân tổ các mẫu điều tra theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn… nhằm hệ
thống hoá các số liệu điều tra và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và

Đ
A

thu nhập của lao động sau thu hồi đất.
4.3. Phương pháp thống kê, phân tích kinh tế
Thống kê các số liệu cần thu thập, xây dựng hệ thống bảng biểu đánh giá

tác động việc thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm và thu nhập của lao động
nông thôn.
4.4. Phương pháp duy vật biện chứng
Đánh giá thực trạng thu hồi đất trong mối quan hệ tác động qua lại giữa việc
làm và thu nhập của lao động bị thu hồi đất và quá trình đô thị hóa của thành phố
Đồng Hới.

3


5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các nội dung của luận văn thông qua ba
chương như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc thu hồi đất, việc làm và thu nhập.
Chương 2: Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nông thôn bị thu
hồi đất trên địa bàn thành phố Đồng Hới.
Chương 3: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp nhằm hạn chế tác

Ế

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT, VIỆC LÀM VÀ
THU NHẬP

1.1 Khái quát chung về lao động, việc làm và thu nhập của người lao động
1.1.1. Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua các công cụ lao

U

Ế

động tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng thành của cải vật chất

́H

cần thiết cho nhu cầu của mình và xã hội.

Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất,



là quá trình con người sử dụng sức lao động hay năng lực lao động bao gồm toàn bộ
thể lực và trí lực của mình để phát động và đưa vào các tư liệu hoạt động lao động

H

tạo ra sản phẩm. Do vậy, trong quá trình lao động, sức lao động là yếu tố tích cực và

IN


trạng khác.

5


1.1.2. Quan niệm về việc làm
Tùy theo tình trạng việc làm mà dân số hoạt động kinh tế được chia làm hai
loại: người có việc làm và người thất nghiệp.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ITO), người có việc làm là
người đang làm việc trong các lĩnh vực ngành nghề, các dạng hoạt động có ích
không bị pháp luật nghiêm cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình
đồng thời góp một phần cho xã hội.

Ế

Một định nghĩa khác cụ thể hơn thì người có việc làm là những người thuộc

U

nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra người đó:

́H

- Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền công
hoặc hiện vật.



- Đang làm công việc không được hưởng tiền lương hay lợi nhuận trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình.

cầu làm thêm( trừ những người có thời gian làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm
thêm mà không tìm được việc).
Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động
nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.
Hay thất nghiệp là một tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động
muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành.

6


1.1.3. Khái niệm về thu nhập
Về bản chất, theo nghĩa rộng thu nhập gồm hai bộ phận hợp thành: thù lao cần
thiết (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương…) và
phần có được từ thặng dư sản xuất (hoặc lợi nhuận). Tuy nhiên, ở phạm trù khác
nhau (toàn bộ nền kinh tế, ngành kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân)
biểu hiện của thu nhập có những đặc thù riêng biệt. Sau đây là một số khái niệm về
thu nhập của lao động:

Ế

- Theo từ điển kinh tế thị trường thì “ thu nhập cá nhân là tổng số thu nhập đạt

U

được từ các nguồn thu khác nhau của cá nhân trong thời gian nhất định, thu nhập cá

́H

nhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ thu nhập quốc doanh”.


phát triển các hình thức và điều kiện sống theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ
sở vật chất, kỹ thuật và tăng quy mô dân số ở các đô thị. Đó là quá trình tập trung,

Đ
A

tăng cường, phân hóa các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỷ lệ dân số thành thị
trong các vùng, các quốc gia cũng như trên thế giới. Đồng thời đô thị hóa cũng là
quá trình phát triển của các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị
trong dân cư”.
Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tiến trình phát triển xã hội đã có
sự thay đổi cơ bản là:1) phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn; 2)
làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp. Cùng với quá trình
công nghiệp hóa, đô thị hóa được coi như một khía cạnh quan trọng trong sự vận
động đi lên của xã hội. Đô thị hóa có hai hình thức biểu hiện chủ yếu:

7


- Một là; đô thị hóa theo chiều rộng: trong đó quá trình đô thị hóa diễn ra tại
các đô thị trước đây không phải là đô thị. Đó cũng chính là quá trình mở rộng quy
mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu đô thị mới, các quận,
phường mới. Đô thị hóa theo chiều rộng là hình thức phổ biến hiện nay ở các nước
đang phát triển trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa.
- Hai là; đô thị hóa theo chiều sâu: đó là quá trình hiện đại hóa nâng cao trình
độ của các đô thị hiện có. Đô thị hóa theo chiều sâu là quá trình thường xuyên và là

Ế

yêu cầu tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển. Quá trình đó đòi hỏi các nhà

O

̣C

điểm chủ yếu sau đây:

̣I H

- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các đô thị
lớn: sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong những đô thị lớn

Đ
A

là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiện của tính chuyên
môn hóa cao trong sản xuất, kinh doanh.
- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùng

ngoại ô: sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng là tất yếu khách quan nhằm đáp
ứng các nhu cầu của sản xuất, đời sống ngày càng tăng nhanh của chính vùng đó là
hạt nhân lan tỏa sang các vùng khác. Đó cũng là biểu hiện của tính tập trung hóa
trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, quy mô sản xuất và hoạt động
thương mại - dịch vụ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và quy mô
dân số của vùng để đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Đồng thời các trung tâm này

8


còn là điểm nối, sự chuyển tiếp giữa các đô thị lớn làm cho tính hiệu quả của hệ
thống đô thị được nâng cao. Trong quá trình đô thị hóa, các trung tâm này sẽ trở


khác đến ở, làm cơ sở sản xuất kinh doanh. Hình thức phát triển theo chiều sâu cũng

K

dẫn đến tình trạng thay đổi mục đích sử dụng đất. Trong quá trình đô thị hóa, nhà
nước chủ động chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển

O

̣C

kinh tế - xã hội.

̣I H

- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế: trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu ngành kế trong
đô thị, trong vùng và cả nền kinh tế đều thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng trong

Đ
A

khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực CN - DV. Khi đô thị mở rộng ra vùng
ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu dân cư đô thị thì
các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tăng khu vực thương mại, dịch vụ.
- Thay đổi hình thái kiến trúc: hình thái kiến trúc đô thị được biểu hiện tập
trung ở các kiểu nhà ở. Kiểu nhà ở phản ánh trình độ văn hóa, mức sống, đặc điểm
xã hội ở mỗi thời kỳ.
- Hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng: quá trình đô thị hóa là quá trình


H

sử dụng.Trong quá trình đó, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi đất để xây dựng các khu

IN

công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng

K

phục vụ lợi ích quốc gia. Đô thị hóa là xu thế đã, đang và diễn ra ở các vùng trên
khắp cả nước. Đây là một hướng đi nhằm góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước,

O

̣C

giúp nước ta thoát khỏi nghèo và lạc hậu. Lẽ dĩ nhiên quá trình đô thị hóa tất yếu

̣I H

dẫn đến sự phân bố lại các nguồn lực trong đó có nguồn lực về đất đai. Một bộ phận
đất đai, trước hết là đất nông nghiệp được chuyển sang phục vụ cho việc xây dựng

Đ
A

các khu công nghiệp, khu chế xuất mở rộng các khu đô thị cũ và xây dựng các khu
đô thị mới. Xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục

kiện thu hút đầu tư, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhập tương



đối khá, giúp họ từng bước cải thiện không còn manh mún, nhỏ lẻ.
Tóm lại, nếu CNH - HĐH và đô thị hóa là tất yếu khách quan đối với nước ta

H

thì việc thu hồi đất phục vụ CNH - HĐH và đô thị hóa là vấn đề có ý nghĩa quan

IN

trọng. Vì thế, muốn quá trình CNH - HĐH và đô thị hóa diễn ra thuận lợi và hiệu

K

quả cần có những biện pháp thu hồi đất đúng đắn đặc biệt là khi thu hồi đất sản xuất
nông nghiệp.

O

̣C

1.2.4. Những tác động của quá trình đô thị hóa đối với nông thôn

̣I H

Đô thị hóa là hệ quả tất yếu của nền kinh tế phát triển theo hướng CNH HĐH ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Nó đã trở thành xu thế chung của quá



trong mấy thập kỷ gần đây và đi kèm với quá trình đó là quá trình suy giảm đất

́H

nông nghiệp cùng sự gia tăng dân số đô thị và sự phát triển kinh tế của các ngành



phi nông nghiệp cộng với sự ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên bức xúc
hơn…Để giảm bớt áp lực dân số đô thị và ô nhiễm môi trường, các quốc gia đều

H

quy hoạch, mở rộng các thành phố. Tokyo đã mở rộng 7 tỉnh xung quanh như

IN

(Saitama, Kanarawa, Chima, Gumma, Tochigi, Ibaraki và Yamanashi), lập vành đai
xanh, hạn chế các phương tiện cá nhân đi lại để giảm bớt ô nhiễm; Trung Quốc

K

cũng đã quy hoạch vành đai xanh và mở rộng 12 thành phố về tinh cách đều xung

̣C

quanh Bắc Kinh 40km [40].

O


Ế

chóng từ đầu những 1990. Trong số các trung tâm đô thị, Hà Nội là thủ đô lâu đời

U

nhất ở Việt Nam. Vào thế kỷ 19, đây là một trung tâm hành chính, kinh tế với 36

́H

phố phường và mỗi phố phường được đặt tên gắn với hàng hóa trao đổi ở phố đó.
Đầu những năm 2000, Hà Nội có 4 quận và 5 huyện. Từ 8 - 2008, thủ đô Hà Nội



được mở rộng sang toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của Tỉnh Vĩnh Phúc và 4
xã của tỉnh Hòa Bình [6].

H

Giống như Trung Quốc, công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam trong hai

IN

mươi năm qua đã thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp. Tuy nhiên, cho đến

K

thời điểm này, Việt Nam chưa có những số liệu đầy đủ, hệ thống và chính xác về


2003 là 650 đô thị, trong đó có 5 đô thị loại I; 10 đô thị loại II; 13 đô thị loại III; 59
đô thị loại IV và 570 đô thị loại V. Theo phân cấp quản lý cả nước có 4 thành phố
trực thuộc trung ương, 83 thành phố thị xã thuộc tỉnh còn lại là các thị trấn. Dân số
đô thị tăng từ 12,87 triệu năm 1986 (chiếm 19,30% dân số cả nước) lên 13 triệu
năm 1990 (chiếm 20,75%) năm 2000 chiếm 25%, năm 2005 chiếm 25,3%. Tính đến
nay cả nước có trên 730 đô thị bao gồm hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh; 7 đô thị loại I là Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Vinh, Nha

Ế

Trang và Đà Lạt 13 đô thị loại II; 36 đô thị loại III; 40 đô thị loại IV và 635 đô thị

U

loại V, tỷ lệ dân số đô thị là 40% [10].

́H

Các khu công nghiệp phát triển mạnh, năm 1991 có một khu công nghiệp mới
nhưng đến năm 2003 cả nước đã thành lập thêm 82 khu công nghiệp tập trung, 22



đô thị mới và 18 khu kinh tế cửa khẩu. Cùng với sự gia tăng dân số, tăng trưởng
không gian đô thị hóa cũng đạt tỷ lệ đáng kể, đất đô thị tăng từ 0,2% tổng diện tích

H

đất tự nhiên của quốc gia (1999) lên 1% (2003). Chúng ta có thể thấy được qua

79,8

92,06

108,6

14,18

21,65

32

50,68

21,89

27,4

34,76

47,73

(triệu người)

Đ
A

Tỉ lệ dân số đô thị (%)

Nguồn: Theo dự báo của Liên Hợp Quốc

công nghiệp và trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, ở vùng nông thôn và



ngoại ô là xu hướng tất yếu của sự phát triển, là nhân tố mở đường thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển.

H

- Đối với các vùng đô thị hóa theo chiều sâu thì mật độ dân số có thể tiếp tục

IN

tăng cao, phương thức và các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, thực lực khoa

K

học kỹ thuật công nghệ ngày càng tăng, hiệu quả kinh tế xã hội cũng ngày càng cải
thiện và nâng cao.

O

̣C

- Đô thị sẽ là nơi cung cấp những cơ sở kỹ thuật để CNH – HĐH nông nghiệp

̣I H

nông thôn như: thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa… xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội từng bước hình thành nông thôn hiện đại.



Phát triển các ngành
SX đáp ứng nhu cầu
đầu vào của công
nghiệp

Tăng nguồn
thu cho ngân
sách

̣I H

O

̣C

K

Thu hút vốn đầu tư và sự
phân bổ của DN mới

IN

H

Nâng cao trình độ lao
động của CN

́H

trường được mở rộng cả về quy mô lẫn phạm vi ảnh hưởng. Các đô thị với thị
trường của nó sẽ gắn kết sự phát triển các xí nghiệp nhỏ trên địa bàn huyện, nhất là
các xí nghiệp chế biến các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống với dịch vụ
tổng hợp và thương mại. Qua đó, góp phần công nghiệp hóa nông thôn phát triển
kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa các ngành nghề và
sản phẩm, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân.
Vậy có thể xem đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò

Ế

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Sự phát triển đô thị kích thích

U

tăng trưởng và phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế,

́H

lan truyền tiến bộ công nghệ, văn hóa, xã hội. Sơ đồ 1.1 biểu thị rõ hơn vai trò và
tác động tích cực của quá trình đô thị hóa



1.2.4.2. Về tác động tiêu cực

Sự phát triển nhanh chóng của các đô thị là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng

H

đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến cân bằng sinh thái khi tài

- Sự gia tăng dòng dân cư từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực
đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội… gây khó
khăn trong công tác quản lý đô thị.

17


- Đối với nước ta, với 80% dân cư sống ở nông thôn và khoảng 60% lực lượng
lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp khi đô thị hóa diễn ra, đất đai bị thu
hồi thì bộ phận dân cư thiếu việc làm và khó khăn trong chuyển đổi việc làm sẽ tăng
lên nhanh chóng. Thậm chí có một bộ phận dân cư phải chuyển đổi chỗ ở do đất ở
bị thu hồi và cuộc sống của họ bị xáo trộn.
Như vậy, những tác động tiêu cực của đô thị hóa trong nông thôn chủ yếu
xuất phát từ việc thu hồi đất nông nghiệp. Do vậy, nhiệm vụ cấp bách là phải có quy

Ế

hoạch cụ thể, các công tác sau quy hoạch như bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải

U

quyết việc làm cho lao động nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do quá trình đô

́H

thị hóa gây ra.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động




Đ
A

Việc chuyển những người nông dân bị thu hồi đất sang làm công nghiệp và

dịch vụ dường như là một tất yếu của quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Song điều hết sức khó khăn là đa số những người nông dân bị thu hồi
đất là những người lao động giản đơn theo kiểu cha truyền, con nối, trình độ văn
hóa thấp lại không được đào tạo về nghề nghiệp, chuyên môn, vốn lại không
có…Do đó, họ rất khó kiếm được việc làm tốt.
+ Trình độ văn hoá - chuyên môn
Trong điều kiện sản xuất như hiện nay, trình độ văn hoá - chuyên môn có tác
động rất lớn đến khả năng tìm kiếm việc làm của người lao động

18


Ông Nguyễn Lương Trào, Thứ trưởng thường trực Bộ Lao động Thương binh
xã hội nêu, nguyên nhân phổ biến của người nông dân trong việc chuyển nghề và
tìm kiếm việc làm mới là do không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề, nhiều địa
bàn có tới hàng ngàn lao động mất việc làm nhưng chỉ có 10 – 20 người là đã qua
đào tạo nghề
Một nguyên nhân thường gặp ở các vùng chuyển đổi đất là nhận thức của
người lao động còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ Nhà nước, vào tiền đền bù mà chưa

Ế

tự mình tìm kiếm việc làm. Ông Trào còn cho biết, một nguyên nhân khác là việc tổ



nghiệm trong công việc nhưng họ lại khó có khả năng chuyển đổi ngành nghề và

̣I H

tìm kiếm việc làm hơn.

Thu hồi đất diễn ra, các lao động có đất bị thu hồi mất việc làm. Trong số

Đ
A

những người lao động bị mất việc này, nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là từ 35 tuổi
trở lên (chiếm khoảng 50%). Đây là số người lao động quá tuổi tuyển dụng, độ tuổi
khó thích nghi với môi trường lao động mới [2]
Tuy nhiên, theo bà Phan Lệ Xiêm, Phó ban Kinh tế (Hội Nông dân Việt
Nam), nhiều nông dân thiếu việc làm là do sự thất hứa của các chủ sử dụng lao
động trước và sau khi đầu tư tại địa phương, khiến tỷ lệ sử dụng lao động rất thấp.
+ Đối với các vấn đề về vốn
Vốn là một yếu tố quyết định đến quy mô cũng như khả năng sản xuất của hộ
gia đình. Đối với các hộ nông dân thì vốn đầu tư lại càng quan trọng vì người dân ít

19


có khả năng đi vay vốn ở nhiều nơi, đồng thời mức vay của người nông dân không
nhiều nên việc mở rộng quy mô là rất khó khăn.
Nguồn vốn của người nông dân có được là từ tiết kiệm chi tiêu, vay ngân hàng
và một phần nhận từ tiền đền bù đất thu hồi. Việc sử dụng vốn hợp lý và hiệu quả là
điều rất cần thiết đối với người lao động. Với các mục đích sử dụng vốn như đào tạo

K

cường tư vấn dịch vụ hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là đối tượng 15-30 tuổi, đồng
thời đào tạo tại chỗ chuyển đổi nghề đối với lao động trên 35 tuổi với những công

O

̣C

việc không đòi hỏi kỹ năng phức tạp. Giải pháp khác là đào tạo phương pháp quản lý

̣I H

tiếp cận thị trường cho đội ngũ kinh doanh vừa và nhỏ, tạo cơ hội mở rộng sản xuất,
thu hút thêm lao động [13].

Đ
A

Chính sách này sẽ góp phần cải thiện và nâng cao trình độ tay nghề cho các
lao động, giúp lao động có thể làm việc tại các lĩnh vực ngành nghề có trình độ
chuyên môn khác nhau. Nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh
nghiệp trên cơ sở biết được những thông tin và nhu cầu việc làm để tránh được số
lao động dư thừa tại các lĩnh vực không phát triển còn các lĩnh vực phát triển lại
thiếu lao động.
UBND xã, phường cũng cần chủ động liên kết với các trung tâm dạy nghề
nhằm tăng cường công tác tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghề nhất là đối với thanh
niên - lao động ở độ tuổi 15 đến 30 nhằm chuẩn bị cho họ các điều kiện về tay nghề

20

cho người dân có đất bị thu hồi, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu (ước tính tạo việc làm

IN

cho khoảng 55.000 người/năm). Trong hai năm 2006 và 2007, Chương trình mục

K

tiêu quốc gia về việc làm cũng đã dành 22 tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc
làm cho gần 10 nghìn lao động bị thu hồi đất. Bên cạnh đó, xuất khẩu lao động cũng

O

̣C

là một kênh quan trọng cho người dân có đất bị thu hồi [13].

̣I H

+ Chính sách thu hút vốn đầu tư
Các nhà đầu tư, các chủ dự án cần tạo điều kiện để người dân được góp vốn

Đ
A

vào các dự án bằng giá trị đất bị thu hồi. Chủ trương này đã được nêu ra từ Hội nghị
BCH trung ương lần thứ 5 khoá IX, phù hợp với Luật Đất đai hiện hành, nhưng đến
nay vẫn chưa được nhiều địa phương và các dự án thực hiện. Các hướng dẫn cụ thể
để thực hiện chủ trương này cần được triển khai để người dân có đất bị thu hồi có
điều kiện tiếp tục duy trì vị thế làm chủ đối với một tư liệu sản xuất mới là các dự


bị thu hồi đất chưa được đào tạo lại về trình độ chuyên môn. Do đó, không đáp ứng
được nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp.

H

Để giải quyết tốt công tác thu hút lao động vào làm việc trong các doanh

IN

nghiệp, nhà máy, điều quan trọng nhất là địa phương cần yêu cầu các doanh nghiệp,

K

nhà máy thu hút chính lao động trên địa bàn tỉnh, thành phố, ưu tiên số lao động ở
vùng có đất bị thu hồi. Thực tế, lực lượng lao động được thu hút vào các doanh

O

̣C

nghiệp, nhà máy còn rất ít do không đáp ứng được nhu cầu công việc của các doanh

̣I H

nghiệp. Đó là do phần nhiều lao động nông nghiệp sau khi bị thu hồi đất chưa được
đào tạo lại về trình độ chuyên môn .

Đ
A

́H

vùng, đồng thời có quy hoạch kế hoạch sử dụng đất một cách hợp lý, để trên cơ sở
đó địa phương chủ động đề ra các kế hoạch giải quyết việc làm đối với người lao



động trong vùng bị thu hồi đất.
1.4.1. Ở các nước trên thế giới

H

1.4. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động sau thu hồi đất

IN

+ Kinh nghiệm của Trung Quốc

K

- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút lao động. Các chính sách
khuyến khích phát triển các xí nghiệp địa phương đã làm cho công cuộc cải cách và

O

̣C

mở cửa của Trung Quốc diễn ra sâu rộng hơn. Các doanh nghiệp địa phương đóng

̣I H


+ Kinh nghiệm của Nhật Bản

U

Quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian tăng

́H

trưởng trong nông nghiệp. Nhật Bản luôn là nước bị giới hạn bởi tài nguyên đất đai
ít và dân số đông, diện tích canh tác bình quân của một hộ nông dân khoảng 0,8 ha.



Nhật Bản thực hiện chính sách đưa nông nghiệp về nông thôn. Chính điều này đã
làm cơ cấu nông thôn thay đổi, các ngành phi nông nghiệp đã đóng góp ngày càng

H

tăng vào thu nhập của người dân nông thôn (năm 1950 tỷ lệ này là 29% đã tăng lên

IN

85% năm 1990). Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút nhiều lao động trong

K

giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa đã cơ bản giải quyết được vấn đề việc

O

- Không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trên cơ sở
nhu cầu lao động của xã hội.
- Phát triển mạnh mẽ những ngành nghề ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học - kỹ
thuật và những ngành sử dụng nhiều lao động.
- Phát triển hệ thống dịch vụ việc làm và thông tin thị trường lao động.

Ế

- Thực hiện cải cách chế độ tiền lương, thu nhập của người lao động.

U

+ Kinh nghiệm của Đài Loan

́H

Quá trình công nghiệp hóa của Đài Loan khởi đầu từ khu vực nông thôn.



Chính quyền Đài Loan đã dành ưu tiên hàng đầu về vốn đầu tư, cơ chế, chính sách
cho nông nghiệp, nông thôn. Trong những năm 1950, 2/3 viện trợ từ Mỹ được dành

H

cho phát triển kết cấu hạ tầng và nông nghiệp, chỉ 1/5 cho công nghiệp. Khi nông

IN

nghiệp phát triển, lao động dư thừa trong khu vực nông thôn mới chuyển sang các


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status