GIÁ TRỊ NỘI DUNG và NGHỆ THUẬT Tác phẩm Lều Chõng của Ngô Tất Tố - Pdf 35

GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ
THUẬT CỦA “LỀU CHÕNG” – NGÔ
TẤT TỐ
Giữa lúc thế giới nổi lên cuộc đại chiến lần thứ 2, thực dân Pháp dấy lên
phong trào phục cổ kêu gọi trở lại với nền văn hóa giáo dục cũ với
những giá trị tinh thần và tôn ti trật tự của giáo lí Khổng Mạnh, với
những hủ tục ở chốn hương thôn, với quan trường và đại gia đình phong
kiến lỗi thời, coi thời xưa là thời đại hoàng kim ca ngợi Nho giáo và đạo
đức phong kiến hòng ru ngủ dân ta quên đi nhiệm vụ trước mắt, cam
chịu ách nô lệ vĩnh viễn. Trước tình hình đó một số nhà văn đã rơi vào
khuynh hướng phục cổ này, người thì sáng tác người thì dịch thuật ấy
nấy đều thi vị hóa quá khứ đề cao đạo đức phong kiến. Giữa cái không
khí phục cổ thành kính trang nghiêm ấy “Lều chõng” ra đời như ném ra
một bức tranh màu xám với đường nét tối sầm
1.
a.

b.

TÓM TẮT TÁC PHẨM
Bối cảnh “Lều chõng” bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 12 đến năm
Kiến Phúc (1884).Thời gian đó xã hội phong kiến lâm vào khủng
hoảng, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra liên tiếp, thực dân
Pháp đe dọa nền độc lập nước nhà. Nhưng triều đình phong kiến vẫn
cổ hủ trong quy cách thi cử lạc hậu.Thí sinh muốn đỗ đạt thì phải dùi
mài kinh sử ở xứ Bắc mà Nam sử thì lại chỉ là thứ yếu. Họ chỉ cần
nhai lại các giáo lí và tuân thủ nguyên tắc “tôn Khổng, sùng Nho,
chuyên kinh, phục cổ”, những nguyên tắc giáo dục mà Khổng Tử đã
đề ra cho môn đệ của mình hai ngàn năm trước.
“Lều chõng” là cuốn tiểu thuyết phóng sự về giáo dục và khoa cử
thời phong kiến triều Nguyễn. Đào Vân Hạc – Nhân vật chính của

2.1. Tố cáo chế độ khoa cử thối nát, lạc hậu.
Bằng kinh nghiệm của cuộc đời mình NTT đã miêu tả một cách tỉ
mỉ việc giảng dạy, học tập và lối thi cử thời phong kiến với tất cả sự thối
nát của nó.
+ Giảng dạy: tác giả đã miêu tả rất cặn kẽ những thứ lớp của thời đại
phong kiến từ lớp sơ học đến lớp đại học, mỗi lớp sẽ phải dạy những gì
học những gì. Trong lúc vận mệnh đất nước đang nghiêng ngả mà Cụ
bảng Tiên Kiều thì vẫn say sưa giảng Kinh Dịch, Trung Dung, Tống Sử
mà đâu có ngờ rằng cái học kinh viện, giáo điều mà cụ truyền bá lại là
cái học đưa đến sự mất nước. Ngô Tất Tố đã nêu rõ công tội của chế độ
khoa cử phong kiến : “chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một
nước có văn hóa rồi lại chính nó lại đưa nước Việt Nam đến cõi diệt
vong”. “Những ông ngồi trong miếu đường làm rường cột cho nước


nhà, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong
hóa (ý chỉ nho sĩ PK) đều ở trong đám “lều chõng” mà ra. Vì nó nước
Việt Nam một thời kì rất dài đã hiện ra nhiều cảnh tượng kì quái, có thể
khiến người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp”.
+ Học tập: Thiếu niên lúc bấy giờ đã phải nhai đi nhai lại những câu
chữ hán rút ra từ thần thoại Trung Quốc:
Hỗn mang chi sơ
Vị phân thiên địa
Bàn Cổ chủ xuất
Thủy phân âm dương

Thiên tử trọng hiền hào
Văn chương giáo nhĩ tào
Khiến Vân Hạc không khỏi xót xa mà nghĩ thầm: “ Không hiểu vì sao
người ta lại cứ bắt tội trẻ con phải học những sách quái gở? Những đứa

tội.
Ngồi làm bài trong trường thi thì sinh không chỉ lo ngáy ngáy việc
pham húy mà còn phải chịu đựng trăm cực hình khác. Có năm mưa to
gió lớn nước ngập vào trường thi “ngồi trên chõng cũng không khác gì
ngồi dưới đáy ao, đít áo, đũng quần nước bùn thấm vào bê bết”. Mấy
trăm con người ai cũng như ai “mặt tái mét, môi thâm sì quần áo lấm bê


lấm bết như người đào dưới đất lên”. Vân Hạc ngồi ngẫm mấy vần phú
vừa rét run lẩy bẩy vừa nghĩ: “Thi với cử thế này nhục hơn con chó. Dù
có đỗ đến ông gì, cũng không bỏ công…”. Thêm vào đó là sự gian lận
trong khi thi, kẻ học dốt có thể thuê người làm gà cho mình, như Đức
Chinh một cậu ấm con quan lớn dốt đặc cán mai đã thuê Đốc Cung và
Vân Hạc làm gà nên cũng vào được Tam trường, thậm chí có thể giấu
những sách in bản nhỏ li ti để đem vào trường chép. Còn có cả sự đố kỵ
ở chốn quan trường và triều đình vì thế Vân hạc tuy có tài nhưng không
được lấy đỗ thủ khoa vì các ngài cho rằng anh còn ít tuổi sợ đỗ sớm sinh
ra kiêu ngạo nên lưu lại khoa sau mới cho đỗ.
Thấp thoáng sau mỗi hàng mỗi chữ là một nụ cười chế giễu có khi là
tiếng cười ra nước mắt. Khi viết “Lều chõng” NTT không chỉ có ý ghi
lại một thiên phóng sự về một chế độ giáo dục khoa cử mục nát dưới
triều Nguyễn bên cạnh đó nhà văn còn muốn miêu tả tấn bi – hài kịch
của lớp nho sĩ trong XHPK.
2.2. Miêu tả tấn bi – hài kịch của lớp nho sĩ trong XHPK
Dưới ngòi bút phê phán sắc sảo của NTT những quan nghè, quan
phủ đều mất hết vẻ uy nghiêm trang trọng. Trường thi được miêu tả như
sân khấu rạp tuồng, các quan giám khảo thì múa may giống hệt những
quan phường chèo: “sáu là cờ khâm sai, quan chánh chủ khảo bệ vệ đi
ra với bốn chiếc lọng xanh khúm núm theo sau”..”cái bối tử hình con
công, cái vành đai đột chỉ vàng, cái gấu áo thêu thủy ba, cái xiêm xanh

hàng tổng làm nhà” cho nên hầu hết các nho sĩ không phải vì dân vì
nước mà trước hết là để vinh thân phì gia. Chính cái lý tưởng cá nhân
ích kỷ đó đã làm cho họ trở nên nhỏ bé tầm thường ti tiện, đôi khi biến
họ thành một nhân vật hài kịch. Và cũng vì lẽ đó mà một người như Vân
Hạc vốn đã chán nản với thi cử mà vẫn cứ đeo đẳng để mong có 1 ngày
“võng anh đi trước võng nàng đi sau” và để “một người làm quan cả họ
được nhờ”. Bởi thế có những cụ già ngoài 80 râu tóc bạc phơ, trời rét
thấu xương vẫn cứ đi thi cho đến khi chết cứng trong lều. Chính đó là 1
trong những nguyên nhân làm cho chế độ PK triều Nguyễn ngày càng đi
vào con đường suy vong.
Bên cạnh tấn hài kịch “Lều chõng” còn vẽ lên một tấn bi kịch đau
xót thương tâm của lớp nhà nho trí thức dưới chế độ phong kiến. Một
ông cụ già khóc nức nở trong nhà Thập Đạo, vì đi thi đã 10 khoa, bán
hết nhà cửa ruộng vườn, bây giờ lại bị ngoại hàm. Một ông già khác, đã
6 khoa thi hương, râu tóc bạc phơ, ốm yếu không mang nổi lều chõng
vẫn cố lê cái thân tàn vào trường để rồi chết gục ở trong đó. Nhiều vị
anh hùng hỏng thi rồi uống rượu say rồi chửi đổng hoặc ném gạch đá
vào trường có người nôn thốc nôn thảo cả đường cái, có người lăn
xuống dọc đường thi nhau mà khóc mà gào. Thậm chí có anh hỏng kỳ đệ


tam vào hàng ghẹo gái bị xé tan cả khăn lượt, áo the, ông cử nhân thì đi
chiêm vợ người khác như một kẻ vô lại. Họ là những môn đệ của Khổng
Tử lúc bấy giờ quên hết cái gì gọi là lễ nghĩa, nho phong, sĩ khí. Đến cả
Vân Hạc, Đốc Cung phóng túng đến thế lúc nghe tin thi hỏng cũng
không khỏi nghẹn ngào, nức nở làm cho “quang cảnh tiệc rượu như
quang cảnh đám ma của kẻ bạo tử, toàn những người khóc người mếu”.
Ngòi bút NTT đã thẳng thắng lên án “nhiệm vụ của chế độ khoa cử” như
một cái máy mài dũa làm cho con người mất hết góc cạnh trở nên tròn
trĩnh và cuối cùng chỉ biết cuối đầu phục tòng, những con người được

và xã hội.
2.3. Những phong tục, tập quán sinh hoạt nơi làng xã
Tác phẩm “Lều chõng” ngoài những giá trị về mặt nội dung vừa nêu
trên còn cung cấp cho chúng ta một số tư liệu hữu ích về những phong
tục tập quán sinh hoạt nơi làng xã như:
+ Phong tục khoa cử: miêu tả lại một cách tỉ mỉ phong tục khoa cử của
chúng ta thời xưa từ cách thức tổ chức kỳ thi, cách ra bài, cách phát bài
thi, quyền hạn của ban giám khảo… đến những luật lệ khắt khe của khoa
cử trong ba kỳ thi: thi hương, thi hội, thi đình.
+ Tục ăn trầu VD: Trong lễ vinh quy rước ông nghè Long về làng,
phong tục ăn trầu được nhắc đến nhiều lần : “Xin mời bà con ăn trầu”
hay “Hai thúng cau khô để đó dần dần biến thành đống bã
trầu”...Miếng trầu còn được hiện hữu nhiều lần trong đám cưới của Đào
Vân Hạc: “Người ta cắt hai cô con gái bưng hai quả trầu ra tận ngã ba
đón họ nhà trai”
+ Hút thuốc lào: mỗi nhà đều có một bình điếu. Cụ Bảng Tiên Kiều, cụ
Nghè Hoàng, cụ Nghè Đặng đi đâu cũng không quên cái điếu, trong tác
phẩm ta thường gặp hình ảnh của một số văn sĩ đem ống điếu vào trường
để tỉnh táo làm văn...
+ “Nhà trò”, ở đó được xem đánh cờ, đánh tổ tôm, đánh kiệu…
+ Tục tổ chức tế tự tang ma, việc cưới xin, việc vui mừng, lễ rước quan.
GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
3.1.
Bố cục: phẩm có đôi chỗ hơi lỏng lẻo, như lúc cô Ngọc ưng thuận
lấy Vân Hạc không hề có một sự đấu tranh tư tưởng, và tương tự
Vân Hạc cũng ngỏ lời với cô mà không hề suy tính.
3.2.
Ngòi bút miêu tả tỉ mỉ, nghệ thuật phản ánh hiện thực tinh vi.
Chẳng hạn cảnh "lều chõng": "Đêm càng khuya học trò kéo đến
càng nhiều. Ai vào vi nào lật đật tìm đến cửa vi ấy….dưới bụng thì

VD: đoạn miêu tả kỳ thi đệ nhất của hai nhân vật Vân Hạc, Khắc
Mẫn: "Khoảng đầu canh ba, tiếng ồn ào bắt đầu nổi ở nẻo xa. Rồi
nó dần dần gần lại. Rồi nó dần dần rõ thêm. Rồi nó dần dần đưa
đến những đám đèn đuốc lập lòe như đám ma chơi (...) Sang đầu
canh tư, các cây đình liệu đều cháy hết già một nửa (...) Mặt trời
mọc. Các cây đình liệu cũng vừa cháy hết. Vũ trụ đã khôi phục
cảnh tượng xinh đẹp và mông mênh của ban ngày. Mấy nghìn học
trò của vi giáp đã được vào trường gần hết (...) Mặt trời lên khỏi
đầu bức phên nứa ở phía đông trường, chàng vừa viết xong hai
câu phá thừa bài Truyện (...) Gần trưa, chàng đã viết xong một bài
Luận ngữ, một bài kinh Thi và gần hết một bài kinh Dịch (...) Mặt
trời tà tà, Khắc Mẫn viết xong bài Mạnh Tử (...) Mặt trời lui
xuống đầu bức phên nứa phía tây. Khắc Mẫn mới giáp đến đoạn
trung cổ của bài kinh (...) Trời lại tối đen như mực mấy cây đình


liệu lại bị đốt cháy đùng đùng. Cảnh tượng đêm qua lại diễn lại
một lần nữa" (*Lưu ý: không đọc hết VD)  giúp cho người đọc
hình dung một cách dễ dàng, cụ thể diễn biến trong trường thi.
3.5.2.Ngôn ngữ trần thuật theo trình tự sự kiện:
"Cuộc hành lễ bắt đầu. Đấy mới là lễ bái vọng quan Chánh Chủ
khảo xúng xính vào trước. Qua năm lần hương bái, ngài đi lùi ra
phía bên hữu. Đến quan phó Chủ khảo. Cũng đủ hương bái năm
lần, rồi ngài cũng lui xuống và đứng sang phía bên tả. Rồi đến
các ông Ngự sử, Đề điệu, Phân khảo, Giám khảo, Phúc khảo, Sơ
khảo, ai lớn vào trước ai nhỏ vào sau, mỗi ông cũng phải hương
năm lần và bái năm lần.. Hết bộ quan trường, đến lượt quan Tổng
đốc sở tại và văn thân các tỉnh. Cũng như hai ông Chánh phó chủ
khảo, các ông sau này lễ xong cũng phải đứng ra hai bên. Ông
nào ông ấy hai tay chắp ngực, nét mặt nghiêm trang... Bấy giờ

xanh, đỏ, vàng, trắng và tím. Đứng đúng như năm cái chấm ở mặt "ngũ"
của con thò lò, năm ông vác cờ đều đi giầy Tàu, mặc áo nhiễu điều, đội
mũ đuôi én, và đều khuỳnh tròn hai tay để giữu lấy cây cán cờ cắm trên
chiếc cối gỗ treo ở trước bụng. Rồi đến ông cầm kiểnh đồng. Rồi đến
ông võng của bà Nghè”…”Cũng như võng của quan Nghè, võng của bà
Nghè cũng được hộ vệ bằng đôi lọng xanh, chỉ kém có cái chóp bạc. Rồi
đến võng của cố ông. Rồi đến võng của cố bà"  Tác giả đã vận dụng
nó để tả cảnh đám rước, một đám rước rất đông, cồng kềnh nghi lễ đang
di chuyển.
3.5.6.Sử dụng nhiều từ ngữ chuyên biệt của khoa cử, chủ yếu là từ
Hán Việt: "Mấy ông sơ khảo ấy mà bị phù xuất là tại phê văn không
đúng. Theo lệ, những ông quan trường chấm văn tuy vẫn được mỗi
người mỗi ý, nhưng các dấu phê phải na ná với nhau, không được chênh
nhau qúa xa. Thí dụ như ông Sơ khảo phê "liệt" rồi thì ông Phân khảo
phê "thứ" hoặc phê "bình" thì không sao, nếu ông Phân khảo phê
"ưu" ấy là những ông chấm trước đã phê "liệt" đều phải phù xuất. Hay
là các ông Sơ khảo phê "ưu" rồi, ông chủ khảo phê "bình" hoặc phê
"thứ" thì không việc gì, nếu ông chủ khảo phê "liệt" thì ông chấm trước
phê "ưu" cũng bị đuổi ra khỏi trường. Bởi vì "ưu" với "liệt" cách nhau
rất xa, khi nào cùng một quyển văn mà lại có thể người này phê "liệt"
người kia phê "ưu"? Mấy ông sơ khảo bị phù xuất trong khoa thầy tôi
đi chấm trường, nghe đâu chỉ vì mấy quyển vì các ngài phê "liệt", đến
ông Phân khảo lại phê "ưu",  sử dụng với mật độ dày đặc, cung cấp
cho người đọc một cách chính xác qui tắc chấm văn của triều đình
phong kiến.
3.5.7.Ngôn ngữ nghệ thuật mang đậm sắc thái ngôn ngữ nông thôn
Bắc bộ VN:


+ Vận dụng khéo léo phương ngữ Bắc Bộ: “"- Ừ,các con đã về đấy ư?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status