TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN VĂN ĐÀN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
DOANH NGHIỆP THỦY SẢN BẠC LIÊU
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 62 34 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LÊ THANH HÀ
TP HỒ CHÍ MINH, 2016
1
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP THỦY SẢN TỈNH BẠC LIÊU VÀ
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.1 Giới thiệu
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, doanh nghiệp đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Với quan
điểm phát triển doanh nghiệp là chiến lược lâu dài, nhất quán và xuyên suốt trong
Chương trình hành động của Chính phủ, chính sách phát triển doanh nghiệp được
coi là trọng tâm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng vai trò quan trọng tạo
việc làm, xóa đói giảm nghèo và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội. Tại các nước
tệ. Doanh nghiệp thuỷ sản không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp
thực phẩm cho người dân, mà còn là một ngành kinh tế giải quyết việc làm cho
nhiều lao động, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh đặc biệt ở những vùng nông
thôn và vùng ven biển. Doanh nghiệp thủy sản đã tham gia đóng góp nhiều vào các
chương trình xóa đói giảm nghèo, công tác an sinh xã hội tại địa phương và được
xem là trụ cột xã hội công bằng của đặc trưng phát triển bền vững. Tuy nhiên các
doanh nghiệp thủy sản đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh, đồng thời doanh nghiệp thủy sản của tỉnh Bạc Liêu là một trong
những tỉnh có thế mạnh về chế biến xuất khẩu thủy sản trong khu vực đồng bằng
sông Cửu Long và cả nước, từ đó doanh nghiệp thủy sản mang tính đặc thù hơn so
với các loại doanh nghiệp khác trong tỉnh. Nhưng doanh nghiệp thủy sản tỉnh Ba ̣c
Liêu hiện nay chưa hướng đến phát triển bền vững, như chưa giải quyết mối quan
hệ những tồn tại bên trong doanh nghiệp (lực lượng lao động chưa ổn định, áp lực
về quản lý, trách nhiệm sản phẩm, áp lực giải quyết về môi trường) và còn đối mặt
nhiều thách thức vào yếu tố bên ngoài (thiếu khách hàng, thị trường, thiếu nhu cầu
các bên liên quan trong hợp tác kinh doanh, chính sách hỗ trợ nhà nước và áp lực
vấn đề xã hội như tham gia công tác an sinh xã hội tại địa phương).
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển bền
vững và điển hình như nghiên cứu của Springett (2003a, 2005), Russell et al (2006)
và Byrch et al (2007) đều đưa ra báo cáo nhấn mạnh bởi kinh doanh trên các khía
cạnh kinh tế của phát triển bền vững doanh nghiệp. Đối với nghiên cứu khả năng
phát triển bền vững doanh nghiệp: Ứng dụng với lý thuyết hiệp lực cộng đồng (QU
3
Feng geng 2007) kết quả nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp cần chú
trọng đến mối quan hệ năng lực ngành công nghiệp, công nghệ, năng lực phát triển
thể chế và thị trường và sự tương tác của chúng để thực hiện phát triển bền vững
doanh nghiệp. Theo Kris Law (2010) lại đưa kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động
đến phát triển bền vững: Các công ty công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan cho thấy
khung lý thuyết của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi
Nayak (2013).
Từ lý luận khoa học cũng như tính thực tiễn và khoảng trống khung lý thuyết
các yếu tố tác động mạnh nhất đến khả năng phát triển bền vững doanh nghiệp là
liên tục, lâu dài, không gây ra những hậu quả tác hại khó khôi phục ở những lĩnh
vực của xã hội. Từ đó nghiên cứu sinh xác định được khoảng trống trong nghiên
cứu mô hình lý thuyết nghiên cứu của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and
Raveendranath Ravi Nayak (2013) và đưa ra định hướng nghiên cứu như: Các yếu
tố tác đông đến phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu; chủ yếu từ
các yếu tố bên trong doanh nghiệp (1. Lực lượng lao động, 2. Người quản lý/chủ sở
hữu, 3. Trách nhiệm sản phẩm, 4. Phòng chống ô nhiễm môi trường) và yếu tố bên
ngoài doanh nghiệp (1. Khách hàng, 2. Xu hướng thị trường, 3. Thiếu nhu cầu các
bên liên quan, 4. Chính sách hỗ trợ nhà nước và 5. An sinh xã hội).
1.3 Tổng quan về tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu
1.3.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản
Vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện có rất nhiều doanh nghiệp chuyên
ngành chế biến thủy sản xuất khẩu với tổng công suất khoảng 1 triệu tấn/năm, tập
trung ở Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ và An Giang. Trong quá trình hội
nhập, những doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu luôn dẫn đầu, đặc biệt có
nhiều doanh nghiệp đã sớm hội nhập với thế giới, nâng cao kim ngạch xuất khẩu
hàng năm và trở thành doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hàng đầu của nước ta. Theo
Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 2013 cả nước có 2.536 doanh nghiệp thủy
sản và doanh nghiệp thủy sản chiếm đến 45,2%. Đáng chú ý là vùng đồng bằng
sông Cửu Long số lượng doanh nghiệp thủy sản chiếm tỷ trọng rất lớn nhưng đang
có xu hướng giảm rõ rệt chỉ còn 37% trong năm 2013 so với con số 50% vào năm
2006. Về nguồn vốn, năm 2013 các doanh nghiệp này có tổng vốn tài sản trên
92.100 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần năm 2006 và nợ phải trả là 32.300 tỷ đồng,
chiếm 35% tổng nguồn vốn hiện có.
Trong lĩnh vực doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu là ngành nghề chủ
lực của tỉnh Bạc Liêu, số lượng doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực thủy sản chiếm
1.381
Doanh nghiệp thủy
sản
Số
Vốn
lượng
ĐKKD
DN
(tỷ)
154
195
Tỷ trọng
DN %
Vốn %
20,8%
14,1%
Cty TNHH 1 TV
252
1.972
132
42,2%
60,0%
1.318
10.776
457
4.145
34,7%
38,5%
Tổng cộng
Nguồn: Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư
1.3.2 Tình hình đóng góp của doanh nghiệp thủy sản vào phát triển kinh tế xã
hội tỉnh Bạc Liêu
1.3.2.1 Sản lượng xuất khẩu thủy sản của doanh nghiệp
Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2013 được đánh dấu là năm phục hồi đối với
nghề sản xuất tôm nước lợ, với các thắng lợi như được mùa, được giá và kiểm soát
tốt dịch bệnh, đặc biệt là đối với sản phẩm tôm thẻ chân trắng. Tính tính từ năm
2013, diện tích nuôi tôm của cả nước đạt 652.612 ha, bằng 99,2% cùng kỳ năm
2012; trong đó, diện tích nuôi tôm sú là 588.894 ha, tôm thẻ chân trắng 63.719 ha.
6
20.340
80.000
23.380
92.000
28.135
63.951
32.286
70.346
90.340
103.380
120.135
96.237
105.861
35.515
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu, 2013
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu thủy sản tỉnh Bạc Liêu tăng đều qua các
năm, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 192.500.000 USD. Trong đó, mặt hàng
thủy sản có giá trị xuất khẩu đạt 151.680.000 USD, giá trị xuất khẩu tăng đều đến
năm 2013 có tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên 409.164.000 USD. Trong đó, mặt
2013
40.820
46.439
61.429
27.210
32.652
- Hàng thuỷ sản
151.680
172.561
222.571
313.760
376.512
Tổng
192.500
219.000
8
phát triển bền vững; nhằm giảm rủi ro thông qua việc đa dạng hóa khách hàng. Đây
là một trong những áp lực làm hạn chế khả năng xuất khẩu thủy sản của doanh
nghiệp Việt Nam.
Xu hướng thị trường
Hiện nay, xu hướng xuất khẩu thủy sản Việt Nam hiện là thị trường EU và
thị trường rộng lớn, đầy tiềm năng đối với các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Đây cũng là thị trường chính của thuỷ sản Việt Nam hàng chục năm qua và có
nhiều triển vọng cho việc đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời
gian tới. Các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu cao của xu
hướng thị trường EU về vệ sinh an toàn thực phẩm đã giúp sản phẩm thuỷ sản Việt
Nam xuất khẩu sang EU không những ngày càng tăng mà còn có chỗ đứng vững
chắc ở các thị trường đòi hỏi khắt khe khác như Mỹ, Nhật Bản và Canada. Hiên
nay, Việt Nam là 1 trong 3 nước đứng đầu về số vụ bị từ chối nhập khẩu sản phẩm
thủy sản (theo số liệu tuyệt đối) tại 4 thị trường nhập khẩu lớn là EU, Mỹ, Nhật Bản
và Australia, đồng thời là quốc gia có số vụ từ chối cao nhất so với giá trị hàng xuất
khẩu thủy sản tại EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Tổng giá trị trung bình tổn thất hàng
năm do các vụ từ chối nhập hàng thủy sản của Việt Nam lên tới 14 triệu USD/năm
và nguyên nhân quan trọng dẫn đến các vụ từ chối này là do nhiễm khuẩn (nguồn
vasep.com.vn). Như vậy, xu hướng thị trường ngày càng khó tính hơn, từ đó doanh
nghiệp thủy sản cần quan tâm hơn: Duy trì thị trường truyền thống và phát triển các
thị trường mới thông qua các sáng kiến phát triển bền vững; Nâng cao sự hài lòng
của khách hàng hiện tại và lòng trung thành thông qua các sáng kiến phát triển bền
vững; Khuyến khích các nhà cung cấp sử dụng phương thức quản lý nhằm nâng cao
tính bền vững; Cung cấp sản phẩm, dịch vụ tốt trong nước và xuất khẩu.
Thiếu nhu cầu các bên liên quan
Bên cạnh, thuận lợi về thị trường xuất khẩu thủy sản truyền thống sang các
nước EU. Hiện nay các doanh nghiệp thủy sản đang mở rộng thị trường sang một số
nước Châu phi và đối với các nước Châu Á đầy tiềm năng. Tôm sú vẫn là mặt hàng
xuất khẩu ưu thế của Việt Nam so với các nhà cung cấp khác, bởi Việt Nam hiện là
nghiệp phải tiếp tục trải qua một năm đầy khó khăn. Lượng doanh nghiệp giải thể
ngày càng nhiều, trong khi số gia nhập thị trường tỏ ra thận trọng, vì không biết
ngày mai sẽ ra sao. Tuy nhiên, trong năm 2012 chính sách hỗ trợ nhà nước đối với
doanh nghiệp được quan tâm, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/ NQ-CP ngày
10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ
thị trường, trong đó trọng tâm là nhóm giải pháp tài chính, thời gian qua Bộ Tài
chính đã miễn, giảm, gia hạn hàng chục ngàn tỷ đồng tiền thuế, phí cho cộng đồng
doanh nghiệp. Bộ Tài chính đã thực hiện gia hạn khoảng 11.000 tỷ đồng tiền thuế
10
giá trị gia tăng cho 190.280 doanh nghiệp; gia hạn 2.868 tỷ đồng nợ thuế Thu nhập
doanh nghiệp cho 70.300 doanh nghiệp, giảm 50% tiền thuê đất năm 2012 cho trên
2.400 doanh nghiệp với số tiền giảm là 250 tỷ đồng. Trong năm 2012 việc kê khai
thuế Thu nhập doanh nghiệp thực hiện miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp sử
dụng nhiều lao động, Bộ Tài chính đã thực hiện miễn giảm hơn 3.600 tỷ đồng cho
các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nhận thấy những nguyên nhân khó khăn của doanh nghiệp phần lớn do yếu
tố khách quan, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách vĩ mô để hỗ trợ thị trường
thời gian qua, như tháo gỡ hàng tồn kho, miễn, giãn, giảm thuế cho doanh nghiệp,
cứu thị trường bất động sản, xử lý nợ xấu ngân hàng. Việc triển khai chính sách vẫn
còn chậm, chưa kịp thời, trong khi thị trường rất cần đến những chính sách tác động
để các doanh nghiệp hội sinh trở lại. Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục
phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản theo chiều sâu. Chuyển một phần diện tích nuôi
thủy sản quảng canh sang bán thâm canh, thâm canh quy mô công nghiệp ở những
nơi có điều kiện thuận lợi. Nhưng các chính sách của nhà nước chưa đến được với
doanh nghiệp thủy sản, chưa tạo đọng lực cho doanh nghiệp phát triển, như chưa tổ
chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến tiêu thụ ở
tất cả các lĩnh vực và đối tượng sản phẩm; trọng tâm là khai thác thủy sản biển, nuôi
tôm nước lợ, tạo sự gắn kết, chia sẻ lợi nhuận, rủi ro giữa người sản xuất nguyên
hội. Vì vậy, hiệu quả của chính sách an sinh xã hội đang trở thành một thước đo của
sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, nước ta cũng
đã hình thành hệ thống an sinh xã hội, bao gồm các chương trình mục tiêu (chương
trình việc làm, xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ các nơi đặc biệt khó khăn, phòng chống
tệ nạn xã hội, nước sạch nông thôn) và các quỹ (tình thương, việc làm, xoá đói giảm
nghèo,...). Đồng thời, thể chế hoá vấn đề an sinh xã hội như ra đời bộ Luật lao động,
Luật bảo hiểm xã hội, Luật giáo dục, Luật bình đẳng giới, Pháp lệnh về ưu đãi
người có công, về người cao tuổi, về người tàn tật. Hệ thống an sinh xã hội đã góp
phần quan trọng vào việc ổn định và phát triển đất nước. Tuy nhiên, doanh nghiệp
thủy sản tỉnh Bạc Liêu có vị trí đặc biệt quan trọng phát triển kinh tế - xã hội tại địa
phương, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm của tỉnh (GDP). Những năm gần
đây, hoạt động của doanh nghiệp thủy sản đã có bước phát triển đột biến, góp phần
giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển
kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim
ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề
xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo,... Ngoài hiệu quả kinh tế, các doanh
nghiệp còn có lợi từ việc tạo dựng hình ảnh với khách hàng, sự gắn bó và hài lòng
của người lao động, thu hút lao động có chuyên môn cao. Do đó, bản thân doanh
12
nghiệp cần coi việc thực hiện an sinh xã hội chính là đòn bẩy, động lực cho sự phát
triển của mình. Thực hiện đóng góp vào quỹ an sinh xã hội không chỉ là nghĩa vụ
mà còn là quyền lợi để đảm bảo cho chính doanh nghiệp phát triển, thực hiện an
sinh xã hội là cách thức hiện thực hoá định hướng phát triển kinh tế – xã hội của
tỉnh Bạc Liêu như tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội, đối với doanh
nghiệp thủy sản thực hiện an sinh xã hội là một cách thức để giữ vững vai trò chủ
đạo của mình đối với xuất khẩu của tỉnh. Tuy nhiên, thời gian qua tỉnh Bạc Liêu
thực hiện cơ bản thành công công tác an sinh xã hội thông qua nhiều nguồn vốn
đóng góp vào quỹ an sinh xã hội địa phương, trong đó nguồn ngân sách nhà nước
kế hoạch sản xuất, có rất nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản cần tuyển thêm lao
động, tuy nhiên do yêu cầu lao động có tay nghề, nên khó tuyển đồng loạt lao động.
Do đó, trong kế hoạch tuyển dụng doanh nghiệp phải phân kỳ cho từng tháng và kết
hợp với các trung tâm đào tạo nghề, giải quyết việc làm thì mới huy động được lực
lượng lao động cần thiết, đồng thời có những chính sách đặc biệt hơn đối với công
nhân có tay nghề thì mới giữ chân được người lao động lâu dài. Vấn đề khó nhất
hiện nay là chỗ ở cho công nhân, đa phần họ ở trọ bên ngoài. Để giữ chân người lao
động, ngoài thực hiện các chính sách mua bảo hiểm xã hội, y tế, doanh nghiệp chế
biến thủy sản còn có chế độ nhà ở, xe đưa rước công nhân trong vòng bán kính 50
km. Tuy nhiên, các doanh nghiệp hiện nay cần một lực lượng lao động rất nhiều,
trong khi đó lao động trong tỉnh chưa đáp ứng đủ, doanh nghiệp phải tuyển thêm ở
các tỉnh lân cận. Muốn có một lực lượng lao động ổn định gắn bó với doanh nghiệp
dài lâu, như các chính sách về tiền lương hợp lý, các chế độ khác đúng theo luật
định. Bên cạnh các chính sách mà doanh nghiệp đang áp dụng, nhưng vẫn còn một
số vấn đề hạn chế chưa được giải quyết như: Nâng cao tinh thần nhân viên, tham
gia và cam kết quy chế doanh nghiệp; Đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao
động; Việc tìm kiếm giải pháp cho một lực lượng lao động kế thừa; Thu hút và giữ
được đa dạng người tài.
Vấn đề người quản lý/Chủ sở hữu
Nhìn chung, năm 2013 là một năm thật sự khó khăn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, trong đó có doanh nghiệp thủy
sản tỉnh Bạc Liêu. Mặc dù doanh nghiệp thủy sản đã có những cố gắng tập trung
mọi nguồn lực để hoàn thành kế hoạch, nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thủy
sản, thực hiện không hoàn thành kế hoạch kinh doanh. Một số tồn tại của doanh
nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu; cụ thể tại một số địa phương đã xảy ra hiện tượng
tôm chết hàng loạt nên sản lượng thu hoạch giảm, ngoài sự cạnh tranh từ các nhà
14
Vần đề trách nhiệm sản phẩm
15
Nghĩa vụ của doanh nghiệp sản xuất, chế biến thủy sản nhằm phân phối và
tiêu thụ sản phẩm trên thị trường là phải cung cấp sản phẩm không có khuyết tật,
không gây nguy hiểm cho người sử dụng và phải chịu trách nhiệm đối với những
sản phẩm của mình sản xuất ra. Trong đó, sản phẩm có khuyết tật là nguyên nhân và
kết quả là thiệt hại xảy ra cho người sử dụng hoặc người có liên quan. Như vậy,
người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh sản phẩm có khuyết tật và khuyết tật đó dẫn
tới thiệt hại của mình. Tuy nhiên, khuyết tật có thể xuất hiện ở một trong quá trình
sản xuất, phân phối sản phẩm, người bị thiệt hại cần xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do khuyết tật đó thuộc về người sản xuất nào. Nhưng tính quan
trọng của trách nhiệm sản phẩm là rất cao trong khi các doanh nghiệp chế biến thủy
sản chưa thật sự quan tâm đếm trách nhiệm sản phẩm của mình sản xuất ra. Theo
phản ánh của các doanh nghiệp trên địa bàn 3 tỉnh: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,
thời gian gần đây, tình trạng tôm bơm chích tạp chất lại tiếp tục tái diễn, thậm chí
còn với mức độ nghiêm trọng và tinh vi hơn. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, hiện nay, ở một số địa phương hành vi bơm tạp chất vào tôm lại đang
bùng lên mạnh mẽ hơn với những hành vi được tiến hành công khai, nhất là khi các
nhà nhập khẩu tôm Trung Quốc liên tục cử người sang thu mua tôm nguyên liệu, kể
cả tôm có tạp chất với tỷ lệ tạp chất cực lớn. Nghiêm trọng hơn, một số doanh
nghiệp chế biến tôm (đặc biệt tại Cà Mau và ranh giới giữa hai tỉnh Bạc Liêu - Cà
Mau) đã bắt tay với thương lái Trung Quốc gia công tôm đông lạnh để vận chuyển
theo đường bộ đi thẳng sang Trung Quốc. Tình trạng này ảnh hưởng lớn đến uy tín,
chất lượng con tôm Việt Nam, gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi và các doanh
nghiệp chế biến tôm xuất khẩu làm ăn chân chính.
Nhìn chung, các mặt hàng thủy sản nhập khẩu làm thực phẩm sẽ không phải
chịu thuế tại Australia, nhưng các chi phí khác liên quan việc kiểm tra chất lượng
cũng không ít. Theo Cục kiểm dịch Australia (AQUIS), các doanh nghiệp có ý định
khẩu, các doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện nghiêm một số quy định của nhà nước
như: Sản phẩm và dịch vụ chưa được thể hiện đầy đủ nội dung ghi nhãn theo yêu
cầu pháp luật nhà nước; Tuân thủ các quy định nhà nước về hệ thống quản lý chất
lượng liên quan đến sản phẩm và dịch vụ theo từng loại sản phẩm; Sản phẩm, dịch
vụ đảm bảo vì sức khoẻ và sự an toàn của khách hàng.
Vấn đề phòng chống ô nhiễm môi trường
Việc bảo vệ môi trường, bảo vệ tái tạo và phát triển thủy sản là vấn đề rất
quan trọng, chính là chiến lược phát triển dài hạn của cả bản thân doanh nghiệp và
chính quyền địa phương. Thời gian qua doanh nghiệp đã đẩy mạnh áp dụng các
công nghệ mới, tiên tiến, thân thiện với môi trường để giảm thiểu và xử lý tình
trạng ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất của ngành thủy sản. Tuy nhiên,
17
nhiều năm qua được thanh tra, kiểm tra của cơ quan chính quyền tỉnh Bạc Liêu đã
phát hiện rất nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản chưa tuân thủ đúng quy định của
nhà nước về xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường đúng quy
định. Năm 2011 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh thành lập đoàn kiểm tra việc
chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước, thực hiện kiểm tra 17
doanh nghiệp thủy sản với kết quả kết luận: xây dựng hệ thống xử lý nước chưa
đúng theo đánh giá tác động môi trường; thực hiện giám sát môi trường về nước
thải, không khí chưa tốt; chưa tuân thủ đúng các quy định về pháp luật môi trường
và bị xử lý vi phạm hành chính năm 2009 là 16 doanh nghiệp thủy sản, trong đó, bị
xử lý vi phạm hành chính là 4 doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp thủy sản đến
năm 2013 tăng lên 67 doanh nghiệp, trong đó đáng chủ ý là có đến 22 doanh nghiệp
bị xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường. Riêng trong năm 2011, Tổng
Cục môi trường thành lập đoàn thanh tra 17 doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc
Liêu, với kết quả có đến 14/17 doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh
vực môi trường và có 17/17 doanh nghiệp phải yêu cầu về biện pháp khắc phục hậu
quả vi phạm môi trường, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ
2010
2011
2012
2013
Doanh nghiệp chưa tuân thủ đúng các
quy định về pháp luật môi trường.
Doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm
hành chính về lĩnh vực môi trường
12
17
20
22
45
4
6
14
17
còn phá vỡ hợp đồng không bán cho doanh nghiệp khi giá thị trường tăng cao, các
doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu phát triển trong thời gian qua chủ yếu chỉ
tập vào lợi nhuận là chính, chưa quan tâm nhiều đến vấn đề đổi mới công nghệ sản
xuất, chế biến hiện đại; vùng nguyên liệu thu mua chưa ổn định; thị trường tiêu thụ
sản phẩm chưa ổn định; doanh thu tăng trưởng chưa như mong muốn; nơi sản xuất,
kinh doanh chưa phù hợp với vùng nguyên liệu; mức độ chưa hài lòng với sự hỗ trợ
của chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp đang hoạt động. Đồng thời chưa tạo
sự chuyển biến về chuyển giao công nghệ trong bảo quản và giảm tổn thất sau thu
hoạch trong khai thác hải sản; tăng cường năng lực giám sát, thông tin thị trường và
19
các biện pháp hỗ trợ phòng tránh rủi ro của thị trường. Cụ thể các doanh nghiệp
thủy sản tỉnh Bạc Liêu chưa quan tâm đến mục tiêu phát triển bền vững như: Tăng
trưởng doanh thu theo mong muốn của doanh nghiệp; Lợi nhuận đạt được như ý
muốn của doanh nghiệp; Thị phần ổn đinh và được mở rộng theo mong muốn của
doanh nghiệp; Nơi sản xuất, kinh doanh phù hợp với vùng nguyên liệu của doanh
nghiệp; Sự hài lòng hỗ trợ từ chính quyền địa phương.
1.4 Vấn đề nghiên cứu của luận án
Phát triển bền vững là một khái niệm nền tảng trong nghiên cứu quản lý
doanh nghiệp thông qua liên kết của nó với lợi thế cạnh tranh. Tiến bộ đáng kể đã
được thực hiện ở lĩnh vực này trong những năm gần đây, bao gồm cả việc di chuyển
từ định nghĩa hẹp của tính bền vững, của lợi thế cạnh tranh dựa trên hiệu suất kinh
tế vượt trội so với một sự công nhận tầm quan trọng của thực hiện kết nối với các
tác động kinh tế, xã hội và môi trường của doanh nghiệp (Harrison, Bosse, &
Phillips, 2010). Điều này đã được tranh luận từ quan điểm lý thuyết phát triển bền
vững doanh nghiệp từ các bên liên quan, trong đó xác định lại mục đích chính và
mục tiêu của doanh nghiệp là một phần của một hệ thống các bên liên quan ảnh
hưởng bởi các thiết lập và các mục tiêu doanh nghiệp (Freeman, 1984).
Khu vực đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế trọng điểm của chế biến,
hội mà nơi doanh nghiệp đang hoạt động. Như vậy, phát triển bền vững doanh
nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu theo hướng giải quyết hài hòa mối quan hệ những tồn
tại bên trong doanh nghiệp như lực lượng lao động chưa ổn định, áp lực về quản lý,
trách nhiệm sản phẩm, áp lực giải quyết về môi trường và còn đối mặt nhiều thách
thức vào yếu tố bên ngoài như thiếu khách hàng, thị trường, thiếu nhu cầu các bên
liên quan trong hợp tác kinh doanh, chính sách hỗ trợ nhà nước và áp lực vấn đề xã
hội trong kinh doanh là vấn đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm để hướng phát
triển bền vững. Phát triển bền vững doanh nghiệp là một chủ đề trên diện rộng, nhất
là các doanh nghiệp có nhiều hình thức, không chỉ về quy mô, lĩnh vực và không
gian kích thước mà còn về cách thức một doanh nghiệp được quản lý và điều hành,
tư cách pháp nhân và mục tiêu hoạt động. Tất cả các doanh nghiệp là một phần của
xã hội, họ hình thành và định hình bởi các cộng đồng nơi họ hoạt động.
Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực
phát triển bền vững doanh nghiệp. Nhưng tác giả sẽ mở rộng hướng nghiên cứu mới
đó là “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển bền vững”. Do đó, phát triển
bền vững doanh nghiệp là một vấn đề mới ở Việt Nam và liên quan đến quy mô,
lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên rất rộng, cần có sự nghiên cứu
chuyên sâu hơn và thu hẹp ở từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nghiên cứu sinh
chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản
Bạc Liêu” làm luận án tiến sĩ của mình.
21
1.4.1 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Khi xác định được vấn đề nghiên cứu, phát triển bền vững doanh nghiệp sẽ
tác động từ yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Do đó để khám phá các
yếu tố thành phần bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có mối quan hệ đến phát
triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu, nghiên cứu tập trung vào
một số mục tiêu cụ thể sau:
- Phạm vi nghiên cứu của luận án được chọn là các doanh nghiệp thủy sản
đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
- Phạm vi không gian nghiên cứu là 227 doanh nghiệp thủy sản và mang tính
đại diện cho 457 doanh nghiệp thủy sản đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
- Phạm vi thời gian là quỹ thời gian hoàn tất công trình nghiên cứu của luận
án, tính từ giai đoạn bắt đầu nghiên cứu là năm 2011-2015.
- Đối tượng nghiên cứu của luận án chính là các yếu tố bên trong và bên ngoài
tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu.
- Đối tượng khảo sát những người quản lý các doanh nghiệp thủy sản đang
hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
Doanh nghiệp thủy sản là doanh nghiệp được thành lập theo ngành nghề mà
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh như: Tôm đông lạnh; Chế biến hàng thuỷ sản;
Sản xuất chế biến hàng hải sản; Chế biến và bảo quản các mặt hàng thủy sản; Chế
biến thủy sản xuất khẩu; Nuôi trồng thuỷ sản nội địa; Bán buôn thủy sản; Khai thác
thuỷ sản biển; Sản xuất giống thuỷ sản.
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu
1.4.4.1 Cơ sở thu thập dữ liệu
Luận án sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để phục vụ cho quá
trình nghiên cứu như sau.
Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ Phòng Đăng
ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thống kế tỉnh Bạc Liêu, trên các
địa chỉ internet,…nghiên cứu của các công trình liên quan đến lĩnh vực phát triển
bền vững. Các dữ liệu trên chỉ phục vụ cho việc thống kê, đánh giá và tìm hiểu một
số tiêu chí có liên quan đến phát triển bền vững doanh nghiệp.
Dữ liệu sơ cấp thông qua dàn bài thảo luận nhóm để thu thập được thông tin
trong quá trình thảo luận và sau đó thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp những
người quản lý doanh nghiệp thủy sản.
1.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngày nay, có nhiều loại nghiên cứu mà các nhà khoa học hay sử dụng trong
nghiên cứu của mình đó là nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng. Trong
bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện dựa trên kết quả nghiên cứu định tính
được xác định các yếu bên trong và yếu tố bên ngoài tác động đến phát triển bền
vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu, sử dụng phượng pháp định lượng nhằm
24
kiểm định lại kết quả nghiên cứu định tính, xem xét các thuộc tính yếu tố bên trong
và yếu tố bên ngoài nào còn tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy
sản tỉnh Bạc Liêu thì giữ lại và yếu tố nào không tác động đến phát triển bền vững
doanh nghiệp sẽ bị loại. Như vậy, phương pháp nghiên cứu định lượng thực hiện
thông qua các bước sau.
Bước 1: Xây dựng thang đo
Qui trình xây dựng thang đo trong luận án được dựa vào các bộ tiêu chí trên
và kết quả nghiên cứu định tính để điều chỉnh biến quan sát từ thang đo nguyên
thủy, và bổ sung mới thang đo an sinh xã hội. Trên cơ sở này một tập biến quan sát
được xây dựng để đo lường các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp thủy
sản tỉnh Bạc Liêu.
Bước 2: Nghiên cứu định lượng
Đối với nghiên cứu bằng nghiên cứu định lượng được phỏng vấn trực tiếp,
phỏng vấn bằng thư với bảng câu hỏi để nắm bắt thông tin, thu thập dữ liệu về tác
động của biến phụ thuộc và các biến độc lập. Trên cơ sở nghiên cứu nhằm kiểm
định lại độ tin cậy của thang đo các yếu tố tác động đến sự phát triển bền vững
doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu. Phương pháp đánh giá thang đo được sử dụng
công cụ hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha, ký hiệu là α), phân tích yếu tố khám phát
EFA và phân tích hồi quy bội để tìm những thuộc tính yếu tố bên trong và yếu tố
bên ngoài tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc
Liêu.
1.5 Kết quả thảo luận và đóng góp mới của luận án