ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------
DƯƠNG VIẾT PHAN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ BỘT CỎ STYLO CIAT
184 KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
CỦA GÀ THỊT (RI X LƯƠNG PHƯỢNG) NUÔI TRONG
ĐIỀU KIỆN BÁN CHĂN THẢ TẠI NA RÌ - BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN – 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------
DƯƠNG VIẾT PHAN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ BỘT CỎ STYLO CIAT
184 KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
CỦA GÀ THỊT (RI X LƯƠNG PHƯỢNG) NUÔI TRONG
ĐIỀU KIỆN BÁN CHĂN THẢ TẠI NA RÌ - BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
Mã số: 60 62 01 05
viên, an ủi của vợ và gia đình cùng các bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ cùng tôi trong
thời gian hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm
luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2013
Tác giả
Dương Viết Phan
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..................................................................................................... i
LỜI CÁM ƠN ......................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................... vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ ......................................................... viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Đặt vấn đề........................................................................................................ 1
2. Mục tiêu đề tài ................................................................................................. 1
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .......................................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học .......................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn........................................................................................2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài.............................................................................. 3
1.1.1. Một số đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo ..............................................3
1.1.1.1. Nguồn gốc ........................................................................................3
1.1.1.2. Đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo...................................................3
trưởng gà thịt ............................................................................................... 31
2.2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi........................................................................ 33
2.3. Phương pháp xử lý số liệu............................................................................36
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN............................................................37
3.1. Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo khác nhau trong khẩu phần ăn có
cân đối năng lượng và protein đến tốc độ sinh trưởng gà thịt ..............................37
3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi ................... 37
3.1.2. Khả năng sinh trưởng của đàn gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi.......... 39
3.1.2.1. Sinh trưởng tích luỹ của đàn gà thí nghiệm A.................................. 39
3.1.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm ................................... 41
3.1.2.3. Sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm.................................... 42
3.1.3. Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm A ............. 44
3.1.4. Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME), protein thô (CP) cho 1 kg tăng khối
lượng của gà thí nghiệm A .............................................................................. 46
3.1.5. Chỉ số sản xuất PI (Performance Index) của đàn gà thí nghiệm A.......... 49
3.1.6. Năng suất thịt của đàn gà thí nghiệm A ................................................. 50
v
3.1.7. Sơ bộ hạch toán kinh tế đàn gà thí nghiệm A......................................... 52
3.2. Ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo khác nhau trong khẩu phần ăn
không cân đối năng lượng và protein đến tốc độ sinh trưởng gà thịt (Thí
nghiệm B) ...........................................................................................................53
3.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm B............................................... 53
3.2.2. Khả năng sinh trưởng của đàn gà thí nghiệm B qua các tuần tuổi .......... 54
3.2.2.1. Sinh trưởng tích luỹ của đàn gà thí nghiệm B.................................. 54
3.2.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm B................................ 56
3.2.2.3. Sinh trưởng tương đối của đàn gà thí nghiệm B .............................. 57
3.2.3. Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm B ............. 59
CF
:
Xơ thô
CP
:
Protein thô
Cs
:
Cộng sự
ĐC
:
Đối chứng
EE
:
Lipid thô
ME
:
Năng lượng trao đổi
PI
:
Chỉ số sản xuất
TĂ
:
Thức ăn
TCVN :
Tiêu chuẩn Việt Nam
TLCĐ
:
Tỷ lệ cơ đùi
TLCN
Thí nghiệm 1
TN 2
:
Thí nghiệm 2
VCK
:
Vật chất khô
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm A .......................................................................29
Bảng 2.2. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm A ............30
Bảng 2.3. Khẩu phần ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm A ................30
Bảng 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm B........................................................................31
Bảng 2.5. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm B.............32
Bảng 2.6. Khẩu phần ăn và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm B ................32
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi (%) ....................37
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm A qua các tuần tuổi (g)...............39
Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà thí nghiệm A (g/con/ngày) ..................41
Bảng 3.4. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm A (%)......................................42
Bảng 3.5. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của đàn gà thí nghiệm A (kg) .........45
Bảng 3.6. Tiêu tốn Protein thô/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm A (gam) .......47
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định rằng, bột lá thực vật
không chỉ có tác dụng nâng cao khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật
nuôi, mà còn góp phần hạ giá thành sản phẩm. Ở nhiều nước trên thế giới việc sản
xuất bột lá thực vật đã trở thành một ngành công nghiệp chế biến bột lá thực vật
như: Liên Xô (cũ), Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc…. Qua nhiều nghiên cứu ở trên
thế giới và trong nước, nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng khi cho vật nuôi ăn bột
lá thực vật không chỉ làm cho khả năng sinh trưởng và sản xuất của vật nuôi cao
hơn, mà còn làm cho mức độ an toàn thực phẩm cao hơn so với sử dụng các chế
phẩm để tạo màu khác. Mặc dù quan trọng như vậy, nhưng đến nay, các nghiên cứu
tìm ra các loại cây thức ăn có tiềm năng để sản xuất bột lá, bột cỏ cho chăn nuôi
chưa nhiều.
Stylo là cây họ đậu, là loại cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, ít sâu
bệnh, có khả năng thích ứng rộng, chịu được khô hạn và ngập úng tạm thời, thích
hợp với đất nghèo dinh dưỡng và chua, dễ nhân giống. Cỏ được sử dụng làm nguồn
thức ăn cho gia súc chất lượng cao do giàu protein (16-21%). Ngoài ra, nó còn được
trồng xen với cây ăn quả, chè, cà phê để cải tạo đất, che phủ đất và chống xói mòn.
Đối với trâu bò, lợn thì người ta đã chế biến thành bột và sử dụng nó cho những đối
tượng này. Tuy nhiên, số liệu về việc nghiên cứu sản xuất và bổ sung bột cỏ Stylo
cho vật nuôi hiện nay còn rất ít, và đặc biệt cho gia cầm nuôi trong điều kiện nông
hộ. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của các tỷ lệ
bột cỏ Stylo CIAT 184 khác nhau đến năng suất và chất lượng của gà thịt (Ri x
Lương Phượng) nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì - Bắc Kạn”.
2. Mục tiêu đề tài
- Xác định được ảnh hưởng của các tỷ lệ bột cỏ Stylo CIAT 184 đến năng
suất và chất lượng gà thịt nuôi trong điều kiện bán chăn thả tại Na Rì.
- Xác định được tỷ lệ bổ sung bột cỏ Stylo thích hợp vào khẩu phần ăn của
gà thịt.
nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công Gô, Nam Trung Quốc. Ở
Việt Nam, cây cỏ Stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia.
Các giống Stylo đang gieo trồng: Stylosanthes guianensis (common Stylo):
cây lâu năm Stylosanthes hamata (Caribbcan Stylo): cây hàng năm Stylosanthes
scabra (Shrubby Stylo): cây lâu năm Stylosanthes humilis (Townsville Stylo): cây
hàng năm
1.1.1.2. Đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo
Stylo là cỏ lâu năm, có loại hàng năm, thân thô, đứng hoặc bò, cao tới 1m, ở
khí hậu ẩm có thể tới 1,5m. Có khả năng ra rễ ở thân, khi già thường chuyển màu
xanh sẫm hoặc tím. Bộ rễ ăn sâu dưới đất đến 70 cm. Rễ phát triển cả chiều sâu lẫn
chiều rộng nên có khả năng chịu hạn, chịu úng ngập, chống xói mòn rất tốt. Lá chẻ
ba, dài hẹp và nhọn, đầu tày; có lông, có nhiều hoặc ít lông mềm. Lá dài 2 - 3cm
rộng 5 - 10mm, tỷ lệ lá/thân = 5/7. Loài nhập nội không có vòi cuốn. Những chồi
thẳng có đốt ngắn, lá nhiều hơn cành ngang, hoa hình bông cuốn không sát nhau,
thường có 70 - 1200 chùm, trên mỗi chùm có 5 - 9 hoa. Qủa đậu không có cuống,
gồm 7 - 8 hạt có vỏ cứng, màu xám đen, trọng lượng 1000 hạt khoảng 5 - 6 gam.
Cây non mới mọc từ hạt phát triển chậm, dễ rụng lá và bị sâu hại trong 3 - 4 tháng
đầu sau khi gieo. Nếu gieo vào cuối mùa khô thì sau khi gieo cây non phát triển
nhanh, 5 - 6 tháng cây cao 1m hoặc hơn.
4
Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới. Là cây có khả
năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, yêu cầu lượng mưa từ 1500 - 2500mm.
Cỏ có thể sống được ở những vùng có lượng mưa trung bình khoảng 890 mm. Tuy
nhiên, với lượng mưa 650mm cây vẫn có thể sống được nhưng sinh trưởng rất kém.
Độ ẩm không khí thích hợp là 70 - 80%. Cỏ Stylo cũng có thể chịu được ngập tạm
thời, ở những nơi quá ẩm năng suất cỏ cũng bị giảm. Cỏ Stylo phát triển tốt khi
nhiệt độ không khí trong khoảng 20 - 350C. Nhiệt độ thích hợp cho cỏ Stylo sinh
chè đại, rau cỏ…Thức ăn gia cầm, ngoài lượng ngô vàng có sẵn trong công thức,
thường cần có thêm nguồn cung cấp sắc tố để làm mượt lông, vàng da, lòng đỏ
trứng theo thị hiếu người tiêu dùng. Tại các nước ôn đới sử dụng nguồn bột cỏ chế
biến từ cỏ alfalfa (Medicago sativa) và một số cây họ đậu khác. Alfalfa là loại cỏ họ
đậu (Leguminosacea), có hàm lượng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg
bột cỏ, hàm lượng protein thô 17% hoặc 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi
khoáng, vitamin. Ở các nước nhiệt đới, bột cỏ thường được chế biến từ các nguồn lá
xanh khác như bột lá bình linh (Leucaena leucocephala), cỏ Stylo (Stylosanthes
gracilis).
Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa,
tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo.
Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% Protein trong
vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột đường, còn nhiều
vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm.
Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm lượng
chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo 5,5%, xơ thô
21%.
Lá Keo giậu: Cây Keo dậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại đất
khác nhau. Lượng Protein thô trong lá Keo dậu khá cao 270 - 280g/kg chất khô, tỷ
lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá Keo dậu có thể dùng làm thức ăn bổ sung
protein, vitamin cho gia súc và gia cầm [42].
Cây so đũa: Là loại cây họ đậu, trồng ở nhiều nơi, hạt và lá so đũa có tỷ lệ
protein cao và nhiều vitamin.
Cây lá mắm: Cây mắm mọc ở vùng nước mặn, nước lợ ven biển, nhất là ở
các tỉnh Nam Trung bộ và miền Nam.
6
Cây cỏ VA06: VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo,
7
lợn và gia cầm rất tốt, nhất là để nuôi súc vật non, vì trong bột cỏ khô có nhiều chất
đạm, nhiều sắc tố, tiền vitamin A, vitamin D2 và Canxi. Bột thân lá đậu, lạc, điền
thanh, Keo dậu, bèo hoa dâu,... là những loại tốt, vì có chứa nhiều đạm nên khi hỗn
hợp các loại thức ăn tinh khác để nuôi lợn, thì giảm được thức ăn tinh.
Thức ăn gia cầm, ngoài lượng bắp vàng có sẵn trong công thức, thường cần
có thêm nguồn cung sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu
dùng. Các loại bột lá, bột cỏ thường được dùng trong thức ăn gà với mức 3 - 4% để
vừa cung cấp caroten, vừa cung cấp sắc tố để da, mỏ và lòng đỏ trứng có màu vàng
đẹp mắt.
Bột thực vật có giá trị rất tốt đối với vật nuôi, nó có giá trị dinh dưỡng cao
không những chứa tỷ lệ protein cao (đặc biệt là cây họ đậu), mà còn chứa nhiều
Vitamin nhóm B, vitamin E và tiền vitamin D, A (carotenoic). Phối hợp khẩu phần
ăn của vật nuôi với bột lá, bột cỏ làm tăng chất lượng sản phẩm, tăng tính chất
thịt, sữa, trứng…làm tăng màu sắc của sản phẩm (Ash A.J và Chen Chin Peng,
2000) [53].
Thực tế cho thấy: gà ăn bèo hoa dâu tăng tỷ lệ đẻ, ấp nở, giảm chi phí thức
ăn, màu lòng đỏ trứng đậm hơn so với thí nghiệm đối chứng. Thường bổ sung 5%
vào khẩu phần thức ăn hỗn hợp hàng ngày.
Với hàm lượng B - caroten cao, nên cỏ Alfalfa chỉ cần tham gia từ 10 - 20%
trong khẩu phần thức ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ, trứng có lòng đỏ to, màu
lòng đỏ đậm, tỷ lệ nở con cao hơn hẳn. Nhờ các chất Ancaloid - Enzim dồi dào
trong cỏ Alfalfa, nên bò sữa được ăn loại cỏ này sẽ tiết lượng sữa nhiều và chất
lượng sữa tốt hơn. Người ta dùng nó làm thức ăn cao cấp dành cho các vật nuôi
quan trọng như: bò đực sản xuất tinh, bò sữa, gia cầm bố mẹ, gà con, chim
cảnh...Do những tác dụng lớn lao đó các chuyên gia chăn nuôi trên thế giới đã suy
tôn cỏ Alfalfa là "nữ hoàng" trong thức ăn chăn nuôi (D’Mello J.P.F., Acamovic T
và Walker A.G, 1987)[56].
Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002)[39], cho biết rằng: Sử dụng bột cỏ
tăng khả năng sinh trưởng, tăng năng suất mà đặc biệt là tăng chất lượng thịt, độ
cảm quan đới với thịt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Sử dụng bột lá Keo giậu nuôi gà con, ở tỷ lệ 4% trong khẩu phần, Keo giậu
đã có tác dụng tốt tới sinh trưởng của gà. Dương Thanh Liêm và Bộ môn Thức ăn
9
và dinh dưỡng Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm
nuôi gà Broiler với các khẩu phần chứa tỷ lệ bột lá Keo giậu khác nhau. kết quả cho
thấy, khẩu phần chứa 4% bột lá Keo giậu có tác dụng tốt tới sinh trưởng và hiệu
suất sử dụng thức ăn của gà. Khi tỷ lệ bột lá Keo giậu nâng lên tới mức 6% khẩu
phần, tăng khối lượng của gà bắt đầu có xu hướng giảm. Ở tỷ lệ 10% bột lá Keo
giậu trong khẩu phần, nuôi gà đến 9 tuần tuổi bắt đầu có hiện tượng rụng lông và
sưng tuyến giáp trạng, nhưng nếu thêm 0,5 ppm muối KI hay casein vào khẩu phần
ăn, sẽ hạn chế hiện tượng rụng lông và sưng tuyến giáp của gà, do hạn chế độc tính
của mimosine có trong Keo giậu.
D'Mello và Cs (1987)[63] đã nhận thấy, bột lá Keo giậu đã có tác dụng cải
thiện màu sắc thân thịt của gà và sử dụng 5% bột lá Keo giậu thay thế một phần
khẩu phần ăn cơ sở đã không gây ra ảnh hưởng xấu nào về sinh trưởng của gà.
Theo Từ Quang Hiển và Cs (2008) nghiên cứu sử dụng bột lá Keo giậu để
nuôi gà broiler dòng HV35 cho biết: sử dụng bột lá Keo giậu thay thế 3 - 5% khẩu
phần cơ sở tương ứng với 2 giai đoạn nuôi (0 - 28 và 29 - 56 ngày tuổi) đối với gà
broiler HV35 đã có tác dụng cải thiện sinh trưởng của gà thêm 8,72%, giảm tiêu
tốn thức ăn cho sinh trưởng là 5,86%) và giảm chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng
đến 7,10%.
Thí nghiệm nghiên cứu sử dụng bột lá Keo giậu ở các tỷ lệ khác nhau trong
khẩu phần ăn của gà broiler dòng Ross 208, cho thấy, tiêu thụ thức ăn của gà có xu
hướng giảm liên tục với sự tăng lên của bột lá Keo giậu trong khẩu phần. Khi bột lá
Keo giậu trong khẩu phần tăng từ 0 - 12%, tiêu thụ thức ăn của gà đã giảm từ 4010
chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết, bệnh tật cao, nuôi con khéo, thịt có
hương vị thơm ngon, nhất là gà mái tơ.
Do các ưu và nhược điểm ở trên, gà Ri thích hợp với chế độ dưới chăn thả,
hoặc bán chăn thả. Trong tương lai, khi mà ngành gia cầm nuôi các giống cao sản
phát triển, thì gà Ri có thể sẽ được coi như là một đặc sản.
* Gà Lương Phượng
Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (1999) [14] cho biết gà Hoa Lương Phượng
hay Lương Phượng hoa, thường được gọi tắt là gà Lương Phượng do xuất xứ từ
vùng ven sông Lương Phượng. Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà
thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục
năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài.
11
Gà Lương Phượng đã được giám định kỹ thuật của Uỷ ban khoa học Thành phố
Nam Ninh. Gà Lương Phượng có dáng bề ngoài gần giống với gà Ri của Việt Nam
lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa. Sở dĩ gọi là Lương Phượng
hoa vì trong đàn gà có rất nhiều màu lông khác nhau như một vườn hoa. Mào, yếm
mào, mặt và tích tai màu đỏ. Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi
vươn cong chân cao vừa phải. Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp. Da gà
Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon. Tỷ lệ nuôi sống gà thương phẩm
xuất chuồng đều đạt 95% trở lên. Gà trống ở độ tuổi trưởng thành có khối lượng cơ
thể 2700g, gà mái đạt khối lượng 2100g lúc vào đẻ. Gà bắt đầu đẻ vào 24 tuần tuổi,
sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1
ngày tuổi. Gà thịt nuôi đến 70 ngày tuổi đạt 1500g - 1600g. Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2,
6 kg thức ăn/kg tăng trọng. Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu
đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi
nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả ở
vườn, ngoài đồng, trên đồi.
dinh dưỡng để cấu tạo mỡ.
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều
nhất: 42 - 45% khối lượng cơ thể. Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng
cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm). Giai đoạn 70 ngày tuổi
khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g, (Ngô Giản
Luyện, 1994)[27].
Sự sinh trưởng của sinh vật được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến
lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (giai
đoạn trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (giai đoạn ngoài cơ thể mẹ). Đối với
gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành. Như vậy, cơ sở chủ yếu của
sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát
triển là chính. Theo Phùng Đức Tiến (1996), trong quá trình sinh trưởng thì trước
hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống.
Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục vì hai quá
trình này diễn ra trên cùng một cơ thể vật nuôi: Phát dục là quá trình thay đổi về
chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các chất, chức năng của các bộ phận của cơ
thể, phát dục của cơ thể con vật bắt nguồn từ khi trứng thụ tinh và trải qua nhiều
13
giai đoạn phức tạp mới đến trưởng thành.
Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là
g/con hoặc kg/con. Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau
người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng.
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, thức ăn và các điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng khác.
*. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như giống, giới tính,
đạt 1915,38g/con
Các nghiên cứu trên cho thấy, đặc tính di truyền của các dòng, các giống là
nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và cho thịt của gà. Từ
các kết quả nghiên cứu này giúp cho người chăn nuôi biết được giới hạn sinh
trưởng của từng dòng, giống khác nhau để mà áp dụng vào thâm canh hợp lý có
hiệu quả cao.
- Ảnh hưởng của tính biệt đến khối lượng cơ thể và khối lượng cơ thể
Tính biệt có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể.
Theo tài liệu của Champer J.R (1990) [66], có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của gà. Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng
đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh
hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ. Godfrey E.F và Joap R.G (1952)[69] và một
số tác giả khác cho rằng các tính trạng số lượng này được quy định bởi 15 cặp gen,
trong đó có ít nhất 1 gen về sinh trưởng liên kết với giới tính(nằm trên nhiễm sắc
thể X), vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong
cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%.
Trần Đình Miên, (1994)[30], cho biết gà lúc mới nở gà trống nặng hơn gà
mái 1%, tuổi càng tăng sai khác càng lớn, ở 8 tuần tuổi sự sai khác về khối lượng
giữa gà trống và gà mái là 27%. Theo North và Cs (1990)[48], lúc mới sinh gà trống
nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn: ở 2; 3 và 8 tuần tuổi sự
khác nhau tương ứng là 5%, 11% và 27%.
Tốc độ sinh trưởng còn phụ thuộc vào tốc độ mọc lông. Các kết quả nghiên
cứu xác định, trong cùng một giống, cùng tính biệt thì gà có tốc độ mọc lông nhanh
15
có tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Theo Kushener (1974)[21], cho rằng tốc
độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với tốc độ tăng trưởng. Thường gà lớn nhanh thì
mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn. Hayer và Cs (1970)[71] đã xác định