KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Chiến lược sản phẩm luôn được xem là điều cốt lõi cho sự tồn tại của các
doanh nghiệp. Nhất là trong xu thế kinh tế thị trường thì đây càng là yếu tố tạo nên
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Hiện nay, thị trường đồ uống Việt Nam được
đánh giá là một thị trường tiềm năng với tốc độ tăng trưởng ngày một cao đã thu hút
được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một trong số đó, thì thị trường bia được
xem là thị trường có tốc độ phát triển cao nhất. Các hãng bia lớn trong nước như
Sabeco đã đạt mốc sản xuất 1,3 tỷ lít, giữ thị phần lớn nhất thị trường bia Việt Nam
và nằm trong top 3 các nhà sản xuất bia hàng đầu Đông Nam Á, Habeco đạt tốc độ
tăng trưởng 18%, tổng sản lượng tiêu thụ đạt hơn 600 triệu lít, doanh thu tiêu thụ
sản phẩm chính tăng hơn 30%... Tuy nhiên, thế đứng của các hãng bia nội đang bị
đe dọa khi chịu áp lực cạnh tranh của các hãng bia nổi tiếng nước ngoài. Tình thế
này bắt buộc các hãng bia nội phải tăng tốc củng cố và mở rộng thị phần. Tuy tổng
công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn Sabeco đang có thị phần lớn
nhất trong thị trường bia Việt Nam nhưng trước tình hình cạnh tranh gay gắt thì
công ty cần có những chiến lược sản phẩm mới. Việc tung ra sản phẩm bia chai 333
– Premium vào năm 2010 là một chiến lược sản phẩm mới nhằm củng cố và giữ
vững thị phần của Sabeco trong phân khúc bia phổ thông – phân khúc chiếm
khoảng 60% trong thị trường bia. Đây là thế mạnh của Sabeco.
Chiến lược sản phẩm bia 333 – Premium được công ty định vị là sản phẩm
bia phổ thông với giá thấp và được phân phối trong hệ thống phân phối rộng khắp
cả nước đã sẵn có của tổng công ty. Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc triển
khai sản phẩm mới của công ty. Hơn nữa, trước sự thành công của sản phẩm bia lon
333 mà được cả thế giới công nhận thì việc Sabeco tung ra sản phẩm bia chai 333
premium với kiểu chai thon nhưng mạnh mẽ, vừa tay; kết hợp vơi thiết kế nhãn pha
trộn giữa màu trắng sang trọng, lịch lãm với ánh bạc mạnh mẽ đầy nam tính kết hợp
các điểm nhấn tinh tế giữa các màu vàng, đỏ truyền thống của người Á Đông đã họp
mặt bạn bè, trong các cuộc họp với đối tác kinh doanh củangười uống bia, hay đơn
giản là người bạn thân thiết thổi một luồng gió mới vào thế giới bia, làm đa dạng hệ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ ngày xưa, sản phẩm luôn là cốt lõi trong các chiến lược kinh doanh. Phát
hiện ra nhu cầu của thị trường và tìm ra sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu thị trường
là tiền đề của kinh doanh thành công. Tuy nhiên, trong thị trường hiện đại với sự
cạnh tranh đầy gay gắt thì xu hướng tiêu dùng, nhu cầu xã hội luôn thay đổi, phát
triển không ngừng. Chính vì thế, để đáp ứng được nhu cầu thị trường, các doanh
nghiệp phải luôn điều chỉnh, cải tiến và phát triển sản phẩm. Trong từng giai đoạn
phát triển, doanh nghiệp cần tìm ra được một hay một vài sản phẩm chủ lực của
mình, từ đó tạo được ưu thế vượt trội, duy trì được lợi thế cạnh tranh cho chính
doanh nghiệp của mình.
Tại Việt Nam, việc cạnh tranh không ngừng giữa các đối thủ trong và ngoài
nước là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng phát triển
và cải tiến sản phẩm. Đặc biệt, trong thị trường bia đang phát triển như hiện nay ở
Việt Nam càng thu hút nhiều đối thủ cạnh tranh mà đặc biệt là các tập đoàn, doanh
nghiệp lớn ở nước ngoài tham gia vào thị trường, khiến các doanh nghiệp trong
nước đang gặp rất nhiều khó khăn. Và một vấn đề được đặt ra cho các doanh nghiệp
là nhanh chóng hoạch định ra một chiến lược sản phẩm đúng đắn nhằm củng cố và
mở rộng thị phần. Năm 2013, Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát
Sài Gòn Sabeco đã đạt được mốc sản xuất 1,3 tỷ lít, giữ thị phần lớn nhất trong thị
trường bia Việt Nam nhưng cũng chính vào lúc này thị trường diễn ra sự cạnh tranh
gay gắt với khoảng hơn 30 thương hiệu bia quốc tế, nhất là sự xuất hiện rầm rộ của
bia Sapporo đến từ Nhật Bản và âm thầm mở rộng thị phần của Carlsberg tại thị
trường Việt Nam trong mấy năm gần đây. Thêm vào đó là sự tham gia vào thị
trường của tập đoàn sản xuất bia lớn nhất thế giới Anheuser – Busch Inbev (AB
inbev) vào cuối năm 2014 thúc đẩy Sabeco đưa ra các chiến lược sản phẩm nhằm
tạo sự khác biệt và ưu thế cạnh tranh trên thị trường để giữ vững được thị phần của
VI. KẾT CẤU
Kết cấu nội dung của bài khóa luận tốt nghiệp gồm 5 chương
Chương I: Mở đầu
Chương II: Cơ sở lí luận về chiến lược sản phẩm
Chương III: Phân tích, đánh giá chiến lược sản phẩm bia của tổng công ty cổ phần
Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn Sabeco
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện chiến lược sản phẩm của công ty
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
I. KHÁI NIỆM SẢN PHẨM VÀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
1. Sản phẩm
1.1. Khái niệm
Sản phẩm là những hàng hóa, dịch vụ với những thuộc tính nhất định, với
những ứng dụng cụ thể nhằm thoãn mãn những nhu cầu đòi hỏi của khách hàng.
Sản phẩm có giá trị sử dụng và giá trị. Nó có thể hữu hình hoặc vô hình.
1.2. Các cấp độ của sản phẩm
Sự tín
nhiệm
Hình 1. Ba mức độ của sản phẩm
Phần cốt lõi của sản phẩm
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 6
Dịc
h vụ
sau
khi
bán
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Phần cốt lõi sản phẩm chính là những lợi ích cơ bản mà khách hàng tìm kiếm
ở mỗi sản phẩm. Ở cấp độ này thì nhà marketing cần phải trả lời được những câu
hỏi: “Người mua thực sự đang mua cái gì?”. Nhà marketing cần xác định được lợi
ích mà khách hàng cần tìm kiếm ở mỗi sản phẩm vì mỗi nhóm khách hàng khác
nhau sẽ có những nhu cầu khác nhau gắn với những lợi ích khác nhau, đó chính là
cơ sở cho việc ra quyết định liên quan tới sản phẩm. Ví dụ: khách hàng mua xe là vì
nhu cầu đi lại, nhà thì phải đáp ứng được nhu cầu ở,…
Phần cốt lõi nằm ở tâm sản phẩm
Phần cụ thể của sản phẩm
Doanh nghiệp sau khi nghiên cứu nhu cầu và những lợi ích mà khách hàng
muốn có sẽ đưa những yếu tố này vào những sản phẩm cụ thể. Đây chính là những
xác định rõ sản phẩm của mình thuộc nào. Có các cách phân loại như sau:
Phân loại theo thời gian sử dụng sản phẩm
- Sản phẩm tiêu dùng dài hạn; ví dụ như xe, nhà tủ lạnh…
- Sản phẩm tiêu dùng ngắn hạn: sản phẩm sử dụng trong thời gian ngắn, tần suất
mua sắm trong một khoảng thời gian nhất định tương đối cao như nước ngọt, xà
phòng, tập vở…
Phân loại theo thói quen mua hàng
- Sản phẩm tiêu dùng thông thường: là những sản phẩm tiêu dùng được sử dụng
thường xuyên và thường mua theo thói quen thì người tiêu dùng biết nhiều về sản
phẩm ví dụ như thực phẩm chế biến, đồ nhựa gia dụng, xà phòng…
- Sản phẩm mua tùy hứng
- Sản phẩm mua theo thời vụ: ví dụ như áo mưa, bánh trung thu…
- Sản phẩm mua có lựa chọn: thường là những sản phẩm cao cấp và có thời gian sử
dụng dài như ô tô, tivi,…
- Sản phẩm mua theo nhu cầu đặc biệt: là những sản phẩm mang tính độc đáo, riêng
biệt hoặc những sản phẩm đặc hiệu mà người mua sẵn sàng bỏ công sức và tiền để
lùng mua.
- Sản phẩm mua theo nhu cầu thụ động: là sản phẩm mà người mua không biết hoặc
biết nhưng không nghĩ đến việc mua sắm.
Phân loại theo tính chất tồn tại của sản phẩm
- Sản phẩm hữu hình: những sản phẩm mà khách hàng có thể tiếp cận được và đánh
giá trực tiếp được trước khi sử dụng chúng.
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 8
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Sản phẩm vô hình (sản phẩm dịch vụ): Khách hàng không thể kiểm tra sản phẩm
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Thực hiện tốt chiến lược sản phẩm thì các chiến lược định giá, phân phối và chiêu
thị mới triển khai và phối hợp một cách hiệu quả.
- Triển khai chiến lược sản phẩm là một trong những yếu tố giúp doanh nghiệp thực
hiện tốt các mục tiêu marketing được đặt ra trong từng thời kỳ.
II. NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
1. Kích thước tập hợp sản phẩm (product mix)
1.1. Khái niệm
Kích thước của tập hợp sản phẩm là số loại sản phẩm cùng với số lượng
chủng loại và mẫu mã sản phẩm
1.2. Các số đo của tập hợp sản phẩm
Kích thước của tập hợp sản phẩm gồm các số đo:
- Chiều rộng của tập hợp sản phẩm: số loại sản phẩm mà doanh nghiệp dự định
cung ứng cho thị trường. Đó được xem là danh mục sản phẩm kinh doanh, thể hiện
mức độ đa dạng hóa sản phẩm của doanh nghiệp.
- Chiều dài của tập hợp sản phẩm: số lượng chủng loại sản phẩm quyết định chiều
dài của tập hợp sản phẩm, doanh nghiệp thường gọi là dòng sản phẩm.
- Chiều sâu của tập hợp sản phẩm: mẫu mã sản phẩm gắn với từng chủng loại sản
phẩm.
2. Nhãn hiệu sản phẩm
2.1. Khái niệm và các thành phần cơ bản của nhãn hiệu sản phẩm
Nhãn hiệu sản phẩm là tên gọi, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc tổng
hợp những yếu tố trên nhằm xác nhận sản phẩm hay dịch vụ của một doanh nghiệp
và phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Nhãn hiệu sản phẩm gồm những
thành phần cơ bản sau;
- Tên gọi nhãn hiệu: phần đọc được của một nhãn hiệu ví dụ bột giặt Viso, giày dép
Biti’s,…
khác, tuy nhiên không phải tất cả họ đều nhận thức được tầm quan trọng của việc
bảo vệ nhãn hiệu. Theo pháp luật về Nhãn hiệu, việc đăng ký mang lại cho công ty
của bạn độc quyền ngăn chặn người khác đưa ra thị trường các sản phẩm trùng hoặc
tương tự mang nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn.
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nếu không đăng ký, việc đầu tư của doanh nghiệp cho việc tiếp thị một sản
phẩm trở lên vô ích bởi vì công ty đối thủ có thể sử dụng nhãn hiệu giống hoặc
tương tự gây nhầm lẫn cho các sản phẩm trùng hoặc tương tự với sản phẩm của
mình. Nếu một đối thủ cạnh tranh sử dụng một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự ,
người tiêu dùng có thể mắc lừa khi mua sản phẩm của đối thủ mà nghĩ rằng đó là
sản phẩm của đối thủ mà không nghĩ rằng đó là sản phẩm của công ty bạn. Điều
này không chỉ làm giảm lợi nhuận của công ty mà còn làm phương hại đến danh
tiếng và hình ảnh của công ty bạn, đặc biệt nếu sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
chất lượng thấp.
Bởi giá trị nhãn hiệu và tầm quan trọng của một nhãn hiệu có thể quyết định
sự thành công của một sản phẩm trên thị trường, điều quan trọng là phải đảm bảo
rằng nhãn hiệu đó được đăng ký tại các thị trường liên quan.
2.3. Các quyết định liên quan tới nhãn hiệu
2.3.1. Quyết định về cách đặt tên nhãn
- Đặt tên theo từng sản phẩm riêng biệt: các sản phẩm sản xuất ra đều được đặt dưới
những tên gọi khác nhau.
- Đặt một tên cho tất cả sản phẩm
- Đặt tên sản phẩm theo từng nhóm hàng
- Kết hợp tên doanh nghiệp và tên nhãn hiệu
3. Quyết định liên quan đến đặc tính sản phẩm
3.1. Quyết định liên quan đến chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu và đặc trưng của sản phẩm,
thể hiện sự thỏa mãn nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công
dụng của sản phẩm.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn kinh doanh sản phẩm ở những cấp chất lượng
thấp, trung bình, chất lượng cao và chất lượng tuyệt hảo. Mức chất lượng mà doanh
nghiệp lựa chọn để sản xuất sản phẩm phụ thuộc vào mục tiêu và định hướng chiến
lược sản phẩm của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp thường hướng đến các cấp chất lượng sản phẩm khác nhau
để thỏa mãn nhu cầu cho những nhóm khách hàng khác nhau. Và doanh nghiệp sẽ
thực hiện quản lý chất lượng rất chặt chẽ.
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 13
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
3.2. Đặc tính sản phẩm
Những đặc điểm thể hiện chức năng sản phẩm và tạo sự khác biệt khi sử
dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường nghiên cứu thị trường,
hành vi khách hàng để đưa vào sản phẩm những đặc tính mới.
3.3. Thiết kế sản phẩm
Thiết kế sản phẩm phải đảm bảo tính chất, kiểu dáng, công dụng và độ tin
cậy của sản phẩm. Một sản phẩm có thiết kế tốt không chỉ thể hiện ở hình thức của
nó mà còn giúp người mua cảm thấy an toàn, sử dụng dễ dàng, thuận tiện, hưởng
được những dịch vụ tốt, doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong quá trình sản xuất,
kinh doanh sản phẩm.
4. Thiết kế bao bì
- Tư vấn tiêu dùng
- Sử dụng thử sản phẩm
6. Chiến lược phát triển sản phẩm mới
Hình thành và lựa chọn ý tưởng
Soạn thảo và thẩm định dự án
Triển khai sản xuất, tung sản
phẩm ra thị trường
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
Thử nghiệm sản phẩm
TRANG 15
Xây dựng chiến lược marketing
cho sản phẩm
Thiết kế kỹ thuật, hoàn thiện sản
phẩm
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hình 2. Quá trình phát triển sản phẩm
Giai đoạn hình thành và lựa chọn ý tưởng sản phẩm
Các doanh nghiệp tìm kiếm ý tưởng sản phẩm qua các nguồn như sau:
- Khách hàng: ý tưởng có thể xuất phát từ việc quan sát, lắng nghe khách hàng làm
các chỉ tiêu kỹ thuật)
-Kiểu dáng, màu sắc, đặc tính mỹ thuật của sản phẩm
-Thiết kế bao bì sản phẩm
-Thiết kế các yếu tố phi vật chất của sản phẩm (tên sản phẩm, biểu tượng…)
Giai đoạn thử nghiệm
Doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm trên thị trường qua đó để đánh giá lại
mức độ hoàn chỉnh của sản phẩm, khả năng sản phẩm phù hợp với thị trường, đánh
giá phản ứng của thị trường về sản phẩm, thử nghiệm các chương trình marketing
gắn với sản phẩm như giá, phân phối và chiêu thị.
Triển khai sản xuất và tung sản phẩm mới ra thị trường
Từ những thử nghiệm trên, doanh nghiệp sẽ xác định nên sản xuất và tung ra
thị trường hay không. Nếu quyết định sản xuất được chấp nhận, doanh nghiệp sẽ
triển khai phương án sản xuất, xây dựng chương trình marketing giới thiệu sản
phẩm mới. Lúc này cần xác định các vấn đề sau:
- Thời điểm tung ra sản phẩm mới ra thị trường
- Địa điểm giới thiệu sản phẩm
- Thị trường mục tiêu của sản phẩm
- Chiến lược marketing giới thiệu sản phẩm mới.
7. Chiến lược chu kỳ sống của sản phẩm và phối thức marketing cho từng giai
đoạn của chu kỳ sống sản phẩm
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 17
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hình 3. Chu kỳ sống của sản phẩm
7.1. Giai đoạn giới thiệu
tàng chưa có khả năng xảy ra.
- Chiến lược thâm nhập nhanh là chiến lược tung sản phẩm mới ra thị trường với
mức chiêu thị cao và mức giá ban đầu thấp, với hy vọng đạt được tốc độ thâm nhập
nhanh và thị phần lớn nhất. Chiến lược này chỉ phù hợp khi thị trường lớn và chưa
biết đến sản phẩm; hầu hết mọi người mua đều nhạy cảm đối với giá cả; thị trường
tiềm ẩn khả năng cạnh tranh gay gắt; doanh nghiệp có thể đạt được hiệu quả kinh tế
theo quy mô và tích lũy được kinh nghiệm sản xuất.
- Chiến lược thâm nhập chậm là chiến lược tung sản phẩm mới ra thị trường với
mức giá ban đầu thấp và cường độ chiêu thị thấp. Giá thấp sẽ khuyến khích khách
hàng nhanh chóng chấp nhận sản phẩm, chi phí chiêu thị thấp nhằm đạt mức lãi
ròng cao. Chiến lược này thích hợp với thị trường có nhu cầu co dãn mạnh theo giá,
nhưng ít co dãn theo các yếu tố chiêu thị; thị trường có quy mô lớn,đã biết rõ sản
phẩm; và có sự cạnh tranh tiềm tàng.
7.2. Giai đoạn tăng trưởng
Nếu một sản phẩm mới đáp ứng được sự mong đợi của thị trường, doanh số
sẽ bắt đầu tăng lên nhanh chóng. Những người hưởng ứng sớm nhất sẽ tiếp tục mua
thêm, các khách hàng khác sẽ bắt đầu mua theo, nhất là khi họ nghe được những lời
khen ngợi sản phẩm đó. Những đối thủ cạnh tranh mới sẽ thâm nhập vào thị trường
để tìm kiếm cơ hội sản xuất và thu lợi nhuận cao. Họ sẽ giới thiệu những sản phẩm
có bổ sung thêm những đặc tính mới, xây dựng thêm nhiều điểm bán hàng, và điều
này sẽ làm cho thị trường được mở rộng. Số người cạnh tranh tăng cũng làm tăng số
đầu mối bán lẻ và sản lượng của doanh nghiệp cũng phải tăng vọt theo để mong
cung cấp đủ hàng.
Lợi nhuận tăng suốt trong giai đoạn phát triển, khi mà chi phí quảng cáo
được tính trên khối lượng lớn, chi phí sản xuất tính trên mỗi đơn vị cũng giảm nhờ
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 19
thêm công dụng, sự đa dạng, mức độ an toàn hoặc sự thuận tiện của sản phẩm.
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 20
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chiến lược này có khả năng tạo nên hình ảnh và tinh thần đổi mới doanh nghiệp và
tranh thủ được sự trung thành của một số phân đoạn thị trường coi trọng các đặc
tính đó. Tuy nhiên, chiến lược này có đặc điểm là dễ bị đối thủ cạnh tranh bắt
chước.
- Chiến lược cải tiến kiểu dáng nhằm tăng tính hấp dẫn về thẩm mỹ của sản phẩm.
Việc định kỳ tung ra thị trường những sản phẩm có kiểu dáng mới được xem là
cạnh tranh về hình thức sản phẩm. Thực chất của việc cải tiến kiểu dáng là tạo ra
điểm độc đáo về hình thức, cấu trúc và màu sắc bao bì để khách hàng dễ nhận biết
nhằm thu hút thêm khách hàng mới đồng thời vẫn tranh thủ được những khách hàng
cũ trung thành với nhãn hiệu sản phẩm.
Trong phối thức marketing – mix
- Giá cả: Doanh nghiệp cần cân nhắc những khả năng giảm giá bán để thu hút khách
hàng mới và các khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Đưa ra các quyết định liên quan
đến giảm giá chính thức, hay giảm giá thông qua các quy định giá đặc biệt, chiết
khấu theo khối lượng, định giá bao gồm cước phí vận chuyển. Hay khả năng tăng
giá nhưng khẳng định chất lượng tăng lên.
- Phân phối: Doanh nghiệp cần tranh thủ được sự hỗ trợ sản phẩm và khả năng
trưng bày nhiều hơn ở các trung gian bán lẻ, hay có thể hướng sang các kênh phân
phối lớn nếu kênh phân phối đó đang phát triển
- Chiêu thị: Doanh nghiệp cần xem xét những cơ hội quảng cáo hiệu quả hơn, phân
tích khả năng thay đổi nội dung và hình thức thông điệp quảng cáo, cách thức và
phương tiện truyền đạt, tần suất, thời điểm quảng cáo cũng như các quyết định áp
GÒN SABECO
I. GIỚI THIỆU VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BIA RƯỢU - NƯỚC GIẢI
KHÁT SÀI GÒN SABECO
1.Lịch sử hình thành và phát triển
Lịch sử của Sabeco gắn liền với quá trình phát triển mạnh mẽ và bền vững
của thương hiệu bia Sài Gòn, thương hiệu dẫn đầu Việt Nam.
Lịch sử hình thành và phát triển của tổng công ty cổ phần bia - rượu - nước
giải khát Sài Gòn Sabeco được chia thành 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1977 – 1988
01/06/1977, Công ty Rượu Bia Miền Nam chính thức tiếp nhận và quản lý Nhà
máy Bia Chợ Lớn từ hãng BGI và hình thành nên Nhà máy Bia Sài Gòn.
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 22
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1981 Xí nghiệp Liên hiệp Rượu Bia Nước giải khát II được chuyển đổi từ Công ty
Rượu Bia Miền Nam.
1988 Nhà máy Bia Sài Gòn trở thành đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc Xí
nghiệp Liên hiệp Rượu Bia Nước giải khát II.
Giai đoạn 1988 – 1993
1989 – 1993 Hệ thống tiêu thụ với 20 chi nhánh trên cả nước
1993 Nhà máy Bia Sài Gòn phát triển thành Công ty Bia Sài Gòn với các thành
viên mới:
- Nhà máy nước đá Sài Gòn
- Nhà máy Cơ khí Rượu Bia
- Nhà máy Nước khoáng ĐaKai
- Công ty Liên doanh Carnaud Metalbox Sài Gòn sản xuất lon
- Công ty Thương mại Dịch vụ Bia - Rượu – Nước Giải Khát Sài Gòn
2004 Thành lập Tổng công ty Bia - Rượu – Nước Giải Khát Sài Gòn SABECO
chyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con theo quyết
định số 37/2004/QĐ-BCN của Bộ Trưởng Bộ Công nghiệp.
2006 Hoàn chỉnh hệ thống phân phối trên toàn quốc với 8 Công ty CPTM
SABECO khu vực.
2007 Tổng công ty Bia - Rượu - Nước Giải Khát Sài Gòn SABECO liên tục phát
triển lớn mạnh với chủ đạo là sản xuất, kinh doanh các sản phẩm Bia Sài Gòn và
đầu tư mới trên nhiều lĩnh vực, sản phẩm khác.
Hiện nay Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước Giải Khát Sài Gòn SABECO với tổng
cộng 28 thành viên có:
- Trụ sở chính: 187 Nguyễn Chí Thanh, Phường 12, Quận 5, thành phố Hồ Chí
Minh.
- Văn phòng giao dịch: số 6 Hai Bà Trưng, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố
Hồ Chí Minh.
- Điện thoại: (84-8) 829 4081 – 829 4083
- Fax: (84-8) 829 6856
SVTT: CÔNG THỊ MỘNG HIỀN
TRANG 24
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
- Vốn điều lệ: 6.412.8111.860.000 đồng.
2. Lĩnh vực kinh doanh
- Sản xuất, mua bán các loại bia, rượu, nước giải khát, cồn, bao bì, nút khoén, nước
khoáng.
- Mua bán vật tư, nghiên cứu (đào tạo nghề), thiết kế, chế tạo, lắp đặt thiết bị và
công trình chuyên ngành bia - rượu – nước giải khát.
- Kinh doanh khách sạn, du lịch, kho bãi, văn phòng, trung tâm thương mại, môi