SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THPT Nguyễn Trung Trực
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 20 tháng 04 năm 20016
BÁO CÁO
Giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu
khoa học sư phạm ứng dụng
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên:
Cao Thị Thu Hồng
Nam, nữ: Nữ
- Ngày tháng năm sinh: 16/02/1982
- Nơi thường trú: Khóm III, Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Thị trấn Tri Tôn,
Tri Tôn, An Giang.
- Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Trung Trực, Tri Tôn, AG
- Chức vụ hiện nay: giáo viên
- Lĩnh vực công tác: giảng dạy môn Ngữ Văn
II. Tên sáng kiến:
Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Ngữ văn.
III. Lĩnh vực:
Giải pháp kỹ thuật – Biện pháp tạo hứng thú cho học sing trong dạy học Ngữ
văn.
IV- Mục đích yêu cầu của sáng kiến:
học sinh của trường tôi nói riêng và nhiều trường trên địa bàn tỉnh nói chung có thái độ
học tập chưa tốt, cụ thể các em không yêu thích học đối với bộ môn Ngữ văn. Nói cách
khác, các em học sinh này thường xuyên có tâm lý chán học, không thích học và thậm chí
còn muốn bỏ học. Thực trạng ấy bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân.
2
* Về phía giáo viên: Hầu hết giáo viên đã ý thức sâu sắc phương pháp dạy học mới.
Hàng năm các thầy cô được tập huấn những phương pháp dạy học mới, thảo luận ưu nhược điểm của của từng phương pháp. Trong giảng dạy, người thầy đã phát huy được
tính cực chủ động trong việc dạy học. Học sinh được bày tỏ ý kiến tình cảm, cách hiểu
của mình về bộ môn, được thực hành giao tiếp nhiều hơn. Với tinh thần mới, giờ Ngữ
văn không phải là giờ truyền thụ kiến thức, mà là giờ khơi gợi khuyến khích học sinh tìm
ra con đường đi tới kiến thức, giáo viên cũng đã phân biệt được phương pháp dạy học
theo đặc trưng bộ môn Ngữ văn. Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện quan
điểm tích hợp trong các tiết dạy: Tích hợp ngang (Tích hợp của ba phân môn Văn - Tiếng
Việt – Tập làm văn); Tích hợp dọc (Tích hợp giữa các bài, các lớp trong cùng một phân
môn) và Tích hợp liên môn (Tích hợp nội dung của môn học này với môn học khác). Bên
cạnh đó là việc tích hợp vấn đề môi trường tự nhiên và xã hội một cách phù hợp trong
từng tiết dạy. Qua việc tích hợp và lồng ghép cộng với liên hệ thực tế để giáo dục học
sinh đã đem lại cho bộ môn Ngữ văn có những tín hiệu khởi sắc. Đó là phương pháp dạy
học mới đang được tiếp cận một cách tích cực.
Trong từng tiết dạy, giáo viên đã mạnh dạn phối hợp cùng học sinh tiếp cận, phân
tích, tổng hợp và hình thành những tri thức cần nắm. Giáo viên nắm rõ được quan điểm
tích hợp của sách giáo khoa, có nhiều cố gắng rèn luyện kỹ năng nghe- đọc- nói - viết cho
học sinh. Học sinh không chỉ nắm kiến thức mà quan trọng hơn là biết vận dụng kiến
thức vào cuộc sống như: nói, viết tiếng Việt thành thạo, biết tạo lập văn bản, biết sáng tác
thơ, sáng tác tác phẩm nghệ thuật ngắn. Chính những chuyển biến này đã giúp giáo viên
nhanh chóng tiếp cận và thực hiện thành công những đổi mới trong phương pháp dạy học
Ngữ văn.
trạng học tập Ngữ văn và tâm trạng khi các em học văn ra sao:
+ Em có thấy môn văn cần thiết cho cuộc sống và nghề nghiệp sau này của mình không ?
+ Em có hứng thú (thích) học văn không ?
Kết quả điều tra sẽ rất đáng suy nghĩ, đáng để mỗi giáo viên dạy Ngữ văn trăn trở,
suy ngẫm về vị trí, tầm quan trọng của môn văn và năng lực dạy Ngữ Văn của mình.
4
Năm học 2015-2016, tôi được phân công giảng dạy ở khối hai lớp 10 (10A3 và
10A5). Thực hiện hoạt động khảo sát ở học sinh hai lớp đầu năm học với cùng một nội
dung: “ Bạn có hứng thú (thích) với giờ học Ngữ văn không? Vì sao?” thu được kết quả
như sau:
Tổng
Bạn hứng thú với giờ học Ngữ HS
số Trả lời
Có
HS
8
văn không?
62
Đôi khi
%
12,9
HS
37
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tính năng
động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo ra khả năng nhận biết và giải quyết vấn
5
đề cho các em. Để đạt được mục tiêu này không gì hơn là phải đổi mới phương pháp dạy
học. Đây là vấn đề tất yếu và là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Dạy học
theo phương pháp đổi mới đã tạo điều kiện cho giáo viên phát huy hết vai trò chỉ đạo, khả
năng dẫn dắt, gợi mở, tổ chức, điều hành hoạt động học có hiệu quả, giúp học sinh phát
huy hết vai trò trung tâm, học tập một cách tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động
nhận thức và lĩnh hội tri thức để mở rộng tầm hiểu biết và ngày càng đam mê môn học.
Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy văn đổi mới đã chú trọng phát triển hứng thú học
văn của học sinh. Một trong những mục đích của giờ văn là làm sao gây được rung động
thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh. Vấn đề học tập của trẻ cũng vậy. Dù có bắt
được chúng ngồi ngay ngắn học tập nhưng nếu không thích thú, HS cũng không thể học
tốt được. Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn những năm gần đây tôi nhận thấy, muốn
giờ dạy đạt hiệu quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình cần phải biết
gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động; học sinh tiếp
thu kiến thức một cách tự nhiên, không gượng ép. Từ đó mới phát huy thực sự tính chủ
động, tích cực, sáng tạo của học sinh. Trong phạm vi của sáng kiến, tôi xin đề cập đến
một số biện pháp nhằm khơi gợi hứng thú học tập của học sinh trong tiết học Ngữ văn
lớp 10.
Trước hết, nghiên cứu đề tài để tìm ra biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả và nâng
cao chất lượng trong dạy học văn ở nhà trường phổ thông. Bên cạnh đó, nhằm xác định
các cơ sở lí luận, các nguyên tắc, yêu cầu, đề tài rút ra kết luận về các giải pháp tạo hứng
thú cho học sinh trong tiết học Ngữ văn, phát huy được vai trò chủ thể của học sinh trong
tiếp nhận văn học, phù hợp với mục tiêu đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quá trình
dạy học.
múa, biết vẽ ra những khung cảnh lúc yên bình, lúc dữ dội; phải đi vào tâm hồn các em
những tình cảm yêu, ghét, nhớ nhung, mơ mộng; phải mở ra những cánh cửa từ lâu được
khúa chặt bằng sinh hoạt đời thường.
Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học nói chung và môn Ngữ
văn nói riêng, việc lấy học sinh làm trung tâm thúc đẩy tư duy học sinh, mở cho các em
hướng nghiên cứu và tự mình giải quyết những thắc mắc, những khó khăn trong việc tìm
hiểu phân tích. Người giáo viên không còn giảng giải một cách say sưa khi không có
phản hồi từ học sinh, các em được làm quen với những câu hỏi gợi mở, những gợi ý cho
một đề tài thảo luận, các em có quyền nêu những nhận xét, những cảm nhận cá nhân về
7
đề tài, về nhân vật, về tác giả. . . Từ những cảm nhận đôi khi chưa chính xác, gây tranh
cãi góp phần rất lớn trong việc điều chỉnh nhận thức, gây hứng thú cho các em và văn
học không xa lạ, không “đóng khung trong tháp ngà” mà thật sự gần gũi biết bao...
Hứng thú học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt của người học đối với kết quả, quá
trình của sự lĩnh hội và vận dụng những tri thức cũng như kỹ năng của môn học, do thấy
được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của môn học đối với bản thân học sinh giúp học
sinh nhận thức được về vị trí của môn hoc, tầm quan trọng của việc học tập,vai trò của
môn học. Ngoài ra hứng thú học tập của học sinh còn làm tăng sự chú ý của các em trong
giờ học, giúp các em biểu hiện tốt hơn trong giờ học, vậy làm thế nào để khơi gợi được
hứng thú học tập của học sinh ?
Khổng Tử đã từng nói: “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học
không bằng vui mà học”. Từ nội dung của câu nói và thực tế giảng dạy, ta thấy niềm vui
và sự ham thích sẽ là một động lực lớn giúp học sinh vượt qua khó khăn để vươn lên
trong học tập. Xuất phát từ những cơ sở đó, là một giáo viên dạy văn phải có những nổ
lực nhất định để phát huy khả năng của mình. Với tư cách là một giáo viên trực tiếp giảng
dạy môn Ngữ văn trong thời gian qua, tôi luôn trăn trở để tìm ra những biện pháp tích
cực nhằm gây hứng thú cho học sinh để các em yêu thích, say mê môn học.
3.2.
-
Bước 1: Định hướng chuẩn bị, khơi gợi hứng thú.
-
Bước 2: Tiến hành các hoạt động nhóm, khơi gợi hứng thú nhận thức.
-
Bước 3: Tăng cường hứng thú học nhóm ngoài giờ học.
Một số minh họa về PPDH theo nhóm
+ Nhóm 2 HS kết hợp với Phiếu học tập – sử dụng trong dạy học bài Tại lầu Hoàng
Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quãng Lăng của Lí Bạch
Nghĩa của từ
Suy nghĩ của em
Suy nghĩ của bạn
Phản hồi
Bạn
(3p)
…………………..
(2p)
…………………..
dàn ý bài văn thuyết minh”. Thảo luận vấn đề: lập bố cục chung cho một bài văn
thuyết minh
Lớp chia thành 4 nhóm đôi (1A-B; 2A-B; 3A-B; 4A-B)
Các nhóm A thảo luận, nhóm B quan sát.
b/. Phương pháp dạy học nêu vấn đề
Là phương pháp dạy học đặt học sinh vào một tình huống có vấn đề, để từ đó HS
làm rõ vấn đề từ cái đã biết và cái phải tìm. Nó gợi ra cho HS những khó khăn mà các em
9
cảm thấy cần và có khả năng vượt qua nhưng không thể ngay lập tức mà phải trải qua quá
trình tích cực suy nghĩ.
Qui trình dạy học nêu vấn đề:
-
Bước 1: Nêu vấn đề (GV tạo ra tình huống có vấn đề)
-
Bước 2: Vạch kế hoạch giải quyết vấn đề (GV hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu vấn
đề, là rõ mối quan hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm)
-
Bước 3: Tiến hành giải quyết vấn đề (HS đưa ra lời giải dưới sự hướng dẫn, cố vấn
của GV)
-
Bước 4: Đánh giá kết quả, phân tích và khai thác lời giải (GV hướng dẫn HS kiểm tra
-
Bước 2: Lựa chọn trò chơi
-
Bước 3: Xây dựng và thiết kế trò chơi
-
Bước 4: Tiến hành chơi
Một số trò chơi đã thực hiện:
-
Trò chơi ô chữ/ Đuổi hình bắt chữ
-
Trò chơi ghép tranh
-
Trò chơi đường lên đỉnh olympia (hoặc tương tự)
d/. Hình thức Nhật ký đọc sách
Sử dụng nhật ký đọc sách (NKĐS) là tổ chức cho người học thảo luận, chia sẻ về
văn bản, thể hiện quan điểm kiến tạo kiến thức trong dạy học “người học dùng phương
thức của mình mà xây dựng sự hiểu của mình đối với sự vật, từ đó, những người khác
nhau nhìn sự vật theo những góc độ khác nhau, không có tiêu chuẩn duy nhất cho sự
lẫn… Viết ra và chia sẻ trong nhóm. Bạn người đọc, làm bạn ước viết được như
cũng ghi chú lí do chọn những từ này và số vậy, dùng ngôn ngữ vui nhộn, viết những
trang chúng xuất hiện để có thể dể dàng tìm cuộc đối thoại cực hay… Trong NKĐS,
lại chúng.
bạn hãy ghi lại các ví dụ về những điều
đặc biệt như thế mà tác giả đã dùng trong
truyện.
HỒ SƠ NHÂN VẬT
ĐIỂM SÁCH/ PHÊ BÌNH
Nghĩ về một nhân vật yêu thích (hoặc không Khi đọc, đôi lúc bạn tự nghĩ: “Hoàn toàn
thích, lí thú). Vẽ sơ đồ thể hiện cách thức tuyệt vời!!!, có đôi lúc bạn nghĩ: “Nếu là
bạn nghĩ: về hình dáng, hành động,cách cư tác giả, tôi sẽ viết khác hơn”. Bạn hãy ghi
xử, điểm thú vị hay nổi bật của nhân vật đó.
ra những điểm hay của tác giả và những
nhược điểm cần khác phục
PHẦN ĐẶC SẮC CỦA TRUYỆN
GIẢI THÍCH
Khi đọc, bạn suy nghĩ xem tác giả muốn nói Bạn sẽ ghi lại số trang để nhớ đâu là đoạn
với chúng ta điều gì qua văn bản, bạn có thể đặc sắc của câu chuyện. Ghi các từ mở
viết ra cách giải thích của mình trong nhật đầu và các từ kết thúc của đoạn này để
ký và chia sẻ với các bạn những suy nghĩ gợi nhớ và chia sẻ trong nhóm. Sau đó
đó. Bạn cần lắng nghe cách giải thích của giải thích tại sao bạn cho rằng đoạn đó
bạn khác để so sánh các quan điểm giống thú vị và đặc biệt.
nhau, tương tự và khác nhau.
13
3.2.2 Sử dụng các kĩ thuật dạy học hiện đại để tạo hứng thú học tập cho học sinh
trong dạy học Ngữ văn.
Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong
các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các
KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ, trong
phương pháp thảo luận nhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật đặt
câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép…
Có rất nhiều kĩ thuật dạy học có thể kích thích và tăng hứng thú học tập cho HS.
Sau đây, tôi xin chia sẻ một số kĩ thuật dạy học đã được vận dụng trong quá trình nghiên
cứu:
a/. Kĩ thuật “khăn trải bàn”
Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân
và hoạt động nhóm nhằm: kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; tăng cường tính độc
lập, trách nhiệm của cá nhân HS; phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS. Từ
đó, tăng hứng thú học tập cho HS.
Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”
- Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm)(có thể nhiều người hơn)
- Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…)
14
- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề...). Mỗi cá nhân
làm việc độc lập trong khoảng vài phút
- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các
câu trả lời
- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0)
• Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 –
2 người từ nhóm 3…)
• Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy
đủ với nhau.
• Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm
vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết.
• Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả.
Lưu ý:
- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học, học sinh
được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề.
- Phiếu học tập mỗi chủ đề nên sử dụng trên giấy cùng màu có đánh số 1,2,…,n (nếu
không có giấy màu có thể đánh thêm kí tự A, B, C, ... . Ví dụ A1, A2, ... An, B1, B2, ...,
Bn, C1, C2, ..., Cn)
- Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnh
ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới. Bước này phải tiến hành
một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm
- Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự.
Ví dụ: Bài học tiếng Việt “Thực hành các biện pháp tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ” (SGK
Ngữ văn 10 Tập 1.
- Vòng 1 (5p)
Chủ đề A: Thế nào là Ẩn dụ? Nêu ví dụ minh họa và phân tích .(Phiếu học tập 1)
Chủ đề B: Thế nào là Hóan dụ? Nêu ví dụ minh họa và phân tích . (Phiếu học tập 2)
Lớp có 30 học sinh, có 24 bàn học.
Giáo viên có thể chia thành 6 nhóm: mỗi nhóm gồm học sinh 4 bàn ghép lại (mỗi
nhóm có 5 học sinh). Giao nhiệm vụ: nhóm 1,2,3 nhận chủ đề A, nhóm 4,5,6 nhận chủ đề
B. Phát phiếu học tập cho học sinh. Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến 15.
Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm.
16
BẢNG KWL
W (Điều muốn biết)
L (Điều học được)
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………
…………………………
17
-
Đề nghị học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề.
Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. Hoạt động này kết
-
Chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi, “Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì có liên quan
đến ý tưởng này không?”
-
Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể bạn mong
muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏi của học
sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Chú ý là không được
thêm quá nhiều câu hỏi của bạn. Thành phần chính trong cột W vẫn là những câu hỏi
của học sinh.
18
-
Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L. Trong quá
trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột
W.
-
Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.
Một số lưu ý tại cột L
-
Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các
quan sát những người thảo luận tương tự như xem những con cá bơi trong một bể cá.
Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi
vai trò cho nhau.
Câu hỏi dành cho những người quan sát : Người nói có nhìn vào những người
đang nói với mình không? Họ có nói một cách dễ hiểu không? Họ có để những người
khác nói hay không? Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?
Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không? Họ có lệch hướng khỏi đề
tài hay không? Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?
e. Kỹ thuật “ổ bi”
Là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó học sinh chia thành hai
nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để
tạo điều kiện cho mỗi học sinh có thể nói chuyện lần lượt với các học sinh ở nhóm khác.
Cách thực hiện : Khi thảo luận, mỗi học sinh ở vòng trong sẽ trao đổi với học sinh
đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác. Sau một ít
phút thì học sinh vòng ngoài ngồi yên, học sinh vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim
đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới.
3.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học Ngữ văn.(phụ lục 3)
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn có thể mang lại hứng thú học tập
cho HS vè những lí do sau:
-
Các kiến thức môn học sẽ trở nên sinh động và gần gũi hơn với HS qua các hình ảnh,
tài liệu. Qua đó, thế giới nghệ thuật của các tác phẩm văn học sẽ đến với các em một
20
cách tự nhiên, lôi cuốn, gần gũi và cụ thể hơn so với các văn bản trong sách giáo
khoa.
-
21
Tuy thời gian áp dụng các giải pháp trên chưa nhiều, song tôi nhận thấy với
phương pháp này, bên cạnh việc thu hút sự hứng thú học tập, phát huy tính tích cực và tự
giác của học sinh thì còn mang lại hiệu quả thiết thực trong việc giúp các em đạt kết quả
cao hơn về chất lượng chung.
* Trong năm học 2015– 2016, qua khảo sát đầu năm về ý thức học tập của học
sinh khối 10. Với câu hỏi: “ Bạn có hứng thú với giờ học Ngữ văn không? Vì sao?” thu
được kết quả như sau:
Tổng số
Bạn hứng thú với giờ học Ngữ
Có
HS
HS
8
văn không?
62
%
12,9
Trả lời
Đôi khi
HS
37
Không
%
25,8
HS
4
%
6,5
Với thái độ học tập như trên, chắc chắn rằng kết quả chất lượng bộ môn sẽ có sự
cải thiện đáng kể. Nhưng chắc rằng với sự nổ lực động viên khích lệ và nhất là chú trọng
đến việc tạo hứng thú cho các em, nên chất lượng bộ môn phần nào được cải thiện hơn
nữa.
VI. Mức độ ảnh hưởng:
22
Giải pháp có thể áp dụng rộng rãi ở cả ba khối lớp THPT và các trường phổ thông
trong cùng địa bàn công tác.
Bên cạnh đó, để sáng kiến có thể áp dụng có hiệu quả thì cần có sự cố gắng của cả
giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học Ngữ văn
VII- Kết luận
1. Ý nghĩa của đề tài
Tuy đề tài này còn một số hạn chế, song tôi tin rằng nó lại rất phù hợp với điều
kiện thực tế giảng dạy ở đơn vị trường của tôi và học sinh trường của tôi nói riêng và các
đơn vị trường học khác trên trong toàn tỉnh An Giang nói chung.
Vì với đề tài này là kết quả của quá trình nghiên cứu và tìm hiểu những đặc điểm
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập trước khi đến lớp.
- Xen lồng nội dung và kiến thức văn học trong các buổi hoạt động ngoại khóa để tạo sự
hứng thú cho học sinh.
- Giáo viên chủ động hướng dẫn và chuẩn bị tài liệu học tập cho học sinh.
- Vận dụng phương pháp trực quan sinh động tạo sự hứng thú cho học sinh.
- Điều quan trọng và mang tính quyết định nhất để tạo hứng thú cho học sinh là giáo viên
phải có kiến thức vững vàng, thông suốt, tránh trường hợp bị động, lúng túng sẽ gây ra sự
chán nản cho học sinh.
* Đối với học sinh:
- Học sinh cần có thái độ tích cực, tự giác trong học tập nói chung và trong giờ học bộ
môn ngữ văn nói riêng.
- Thực hiện nghiêm túc các yêu cầu về học tập của giáo viên khi trên lớp cũng như khi ở
nhà.
- Tích cực tham gia các hoạt động thiết thực liên quan đến nội dung của bộ môn, góp
phần tạo hứng thú cho bản thân và các bạn xung quanh khi học bộ môn Ngữ văn.
Trên đây là kinh nghiệm của tôi trong việc đưa ra một số giải pháp tạo sự hứng thú
cho học sinh trong giờ học môn Ngữ văn. Với đề tài này, tuy không có nhiều điểm mới
nhưng tôi nghĩ nó rất phù hợp với thực tế và phục vụ thiết thực đối với việc dạy học bộ
24
môn này tại trường THPT Nguyễn Trung Trực mà tôi đang giảng dạy. Tuy nhiên, với
năng lực hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót và có những giải pháp chưa được
nghiên cứu thật sâu sắc.
Mong các đồng nghiệp, Hội đồng khoa học nhà trường đóng góp những ý kiến
chân thành, giúp tôi bổ sung đầy đủ hơn vào sáng kiến này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến