Khả năng giao tiếp sư phạm của sinh viên các ngành sư phạm trường đại học sư phạm đại học đà nẵng (TT) - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn ñề tài.
1.1. Cơ sở lý luận.
Cùng với hoạt ñộng, giao tiếp ñang là yếu tố quyết ñịnh sự hình thành, phát triển
của loài người cũng như của từng cá nhân. Mọi kinh nghiệm xã hội ñều chứa ñựng trong
thế giới ñối tượng và trong thế giới con người. Muốn chiếm lĩnh ñược nó con người phải
ñược tiếp xúc, giao tiếp với ñối tượng, ñặc biệt phải giao tiếp với những người xung quanh
– những người lớn hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn. Mặt khác giao tiếp có vai trò quan
trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách nghề. Sự thành công của mỗi người trong
công việc mà mình ñang thực hiện không chỉ phụ thuộc vào kiến thức chuyên môn mà còn
phụ thuộc vào khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo với mọi người và trong mọi hoàn cảnh.
Vì lẽ ñó, giao tiếp cần ñược xem xét, nghiên cứu với tư cách như một phẩm chất của nhân
cách..
Đặc biệt là trong hoạt ñộng sư phạm, thì giao tiếp không thể thiếu ñược. Bởi vì quá
trình dạy học và giáo dục là quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh. Hiệu quả của
quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng
vào sự thành công của hoạt ñộng sư phạm, ñó chính là năng lực giao tiếp của giáo viên.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế, hiện nay có nhiều giáo viên trẻ mới ra trường rất có khả năng về
chuyên môn. Họ ñã từng là những sinh viên giỏi thực sự khi còn ngồi trên ghế nhà trường
sư phạm. Nhưng khi trở thành giáo viên ñứng trên bục giảng thì lại tỏ ra lúng túng, họ
không ñược học sinh ñánh giá cao trong việc giảng dạy và quan hệ giao tiếp với học sinh.
Điều ñó phải chăng là do khả năng giao tiếp sư phạm của họ chưa ñáp ứng yêu cầu thực
tiễn của quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh.
Quan sát thực tế tại trường ĐHSP Đà Nẵng cũng cho thấy trước khi ñi thực tập,
nhiều sinh viên tỏ ra lo lắng, thiếu tự tin vào khả năng giao tiếp sư phạm của bản thân.
Hiện nay ở nước ta cũng ñã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng giao tiếp
của sinh viên sư phạm và ñã ñưa ra các giải pháp cụ thể cho vấn ñề này. Tuy nhiên ở
trường ĐHSP Đà Nẵng thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về khả năng giao tiếp sư
phạm của sinh viên ñể trên cơ sở ñó ñưa ra các biện pháp thích hợp trong việc nâng cao
khả năng này cho sinh viên.

- Thời gian tiến hành nghiên cứu học kì II năm học 2008 – 2009.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của ñề tài, chúng tôi ñã sử dụng phối hợp các phương pháp
sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:( phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá
lý thuyết…) ñể xây dựng cơ sở lý luận của vấn ñề nghiên cứu
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3. Phương pháp trao ñổi trò chuyện
Chúng tôi tiến hành trao ñổi trò chuyện với sinh viên, với cán bộ giảng dạy… ñể
tìm hiểu, ñối chiếu với kết quả thu ñược từ các phương pháp ño trên.
7.4. Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt ñộng giao tiếp của sinh viên trong quá trình học
tập ở trường và trong quá trình thực tập tại trường THPT
7.5. Phương pháp thống kê toán học.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Vấn ñề giao tiếp trong tâm lý học nước ngoài
Trong lịch sử của ngành tâm lý học giao tiếp, việc nghiên cứu giao tiếp
ñược tiến hành trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn, thu hút tất cả các nhà
khoa học có tên tuổi trên thế giới. Thời cổ ñại như Xôcơrat, Platon, Arixtot…
sau này ñến các nhà tâm lý học hiện ñại như: Anna Freud, E.E.Acquyt;
M.Again; A.N.Leonchiev; M.I.Lixina; B.D.Econhin; V.X.Mukhina;
B.F.Lomov; L.X.Vwgotxki.
Đầu năm 1970 ở Liên xô cũ một số bài báo về giao tiếp ñược giới thiệu
trong các hội nghị “Tâm lý học về giao tiếp” ñược tổ chức vào tháng 3/1970;
2


tháng 3/1973; 5/1973. Các hội nghị này ñề cập ñến hàng loạt vấn ñề; phương
pháp luận và phương pháp nghiên cứu giao tiếp; cơ chế giao tiếp; ảnh hưởng

1.2.1.1 Hướng tiếp cận thứ nhất : xuất phát từ các chuyên ngành tâm lý học
ứng dụng
Tâm lý học ứng dụng coi giao tiếp là một tập hợp quá trình truyền ñạt
và tri giác các thái ñộ, niềm tin và ý ñịnh, dựa vào bộ máy sinh học, tâm lý
chung của loài người làm sao cho ñôi bên ñối thoại hiểu ñược nhau và ñạt
ñược mục tiêu giao tiếp. [11]
1.2.1.2. Hướng tiếp cận thứ hai: xem xét các xu hướng cơ bản trong tâm lý
học giao tiếp.
Khi tìm hiểu, khám phá bản chất giao tiếp, các nhà tâm lý học thế giới
ñã ñi theo 3 xu hướng rõ rệt.
3


- Hướng thứ nhất: xác ñịnh bản chất giao tiếp qua việc xác ñịnh nội
hàm của khái niệm (thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao
tiếp).
- Hướng thứ hai: xem xét bản chất giao tiếp qua việc xác ñịnh vị trí của
giao tiếp trong hệ thống các khái niệm phạm trù tâm lý.
- Hướng thứ ba: xác ñịnh chính xác hóa khái niệm giao tiếp bằng việc
phân biệt “giao tiếp” với các thuật ngữ, khái niệm liên quan như “thông tin”,
“ứng xử” hoặc “quan hệ xã hội”.
* Hướng thứ nhất: “Thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao
tiếp”.
+ Xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp: chỉ nhấn mạnh một khía cạnh
nhất ñịnh nào ñó trong giao tiếp.
Theo E.E.Acquyt và M.A.Acgain quan niệm: “Giao tiếp là sự tác ñộng,
sự truyền và tiếp nhận thông báo, sự trao ñổi thông tin của con người” [19].
K.K.Platonop: “Giao tiếp là sự trao ñổi thông tin giữa con người với
nhau, sự trao ñổi thông tin này gọi là tiếp xúc”. [19]
* Hướng thứ hai: Nhìn nhận bản chất giao tiếp trong việc xác ñịnh vị

1.2.2.1. Khái niệm giao tiếp sư phạm
Cũng giống như khái niệm giao tiếp, khái niệm giao tiếp sư phạm cũng
có rất nhiều quan ñiểm khác nhau. Có thể xét một số quan ñiểm sau ñây:
Thứ nhất: Coi giao tiếp sư phạm là năng lực của người giáo viên, gồm
có các tác giả:
A.P.Levitov: Giao tiếp sư phạm là năng lực truyền ñạt tri thức cho trẻ
bằng cách trình bày rõ ràng, hấp dẫn, ngắn gọn.
T.V.Trakhov: Giao tiếp sư phạm là năng lực tiếp xúc với học sinh, kĩ
năng tìm ñược cách ñối xử ñúng ñắn với trẻ, thiết lập mối quan hệ hợp lý theo
quan ñiểm sư phạm.
Thứ hai: Coi giao tiếp sư phạm là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa giáo
viên và học sinh nhằm giúp học sinh lĩnh hội ñược những tri thức khoa học,
vốn kinh nghiệm sống, nhằm xây dựng và phát triển nhân cách toàn diện ở
học sinh. Có các tác giả:
A.N.Leonchiep: Giao tiếp sư phạm là loại giao tiếp có tính chất nghề
nghiệp giữa giáo viên và học sinh trong và ngoài lớp, là ñiều kiện ñảm bảo
cho hoạt ñộng sư phạm.
PGS. TS Ngô Công Hoàn cho rằng: “Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc
giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền ñạt và lĩnh hội những tri thức khoa
học, vốn kinh nghiệm sống, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, xây dựng và phát
triển nhân cách toàn diện ở học sinh”.
Theo giáo sư Nguyễn Văn Lê: Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc trao ñổi
giữa giáo viên và học sinh, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn
ngữ, nhằm thực hiện nhiệm vụ giảng dạy – có hiệu quả.
Từ tất cả những ñiều ñã trình bày trên, trong phạm vi nghiên cứu của
mình, chúng tôi xin ñược lựa chọn khái niệm giao tiếp sư phạm của
T.V.Trakhov làm khái niệm công cụ cho ñề tài, bởi nó ñảm bảo yêu cầu của
quá trình nghiên cứu của ñề tài:
1.2.2.2. Đặc ñiểm của giao tiếp sư phạm
1.2.2.2.1. Mục ñích của giao tiếp sư phạm

+ Nhân cách mẫu mực trong giao tiếp sư phạm
+ Có thiện ý trong giao tiếp
+ Đồng cảm trong giao tiếp
Những nguyên tắc giao tiếp sư phạm phân tích trên ñây bao giờ cũng
thống nhất với nhau trong quá trình giải quyết những tình huống sư phạm cụ
thể, chúng tác ñộng qua lại biện chứng với nhau.
1.3. Khả năng giao tiếp sư phạm
1.3.1. Khái niệm khả năng giao tiếp sư phạm
Để hiểu ñược một cách cụ thể về khả năng giao tiếp sư phạm, trước hết
chúng ta cần phải làm rõ các khái niệm sau.
* Khả năng theo cách hiểu thông thường
Theo cách hiểu chung nhất (từ ñiển tiếng việt): Khả năng là có thể làm
ñược một việc gì ñó có kết quả tốt (chẳng hạn: khả năng âm nhạc ca hát, khả
năng chơi các môn thể thao như bong ñá, cầu lông, chạy… có kết quả tốt).
Như vậy khả năng giao tiếp ñược hiểu là có ñủ sức ñể thực hiện hoạt
ñông giao tiếp có kết quả
* Khái niệm khả năng giao tiếp
Khả năng giao tiếp là thuộc tính tâm lý của con người ñược biểu hiện
trong hoạt ñộng giao tiếp, ñược bộc lộ trong việc vận dụng các kĩ năng giao
tiếp vào trong quan hệ của con người với con người.
* Khái niệm khả năng giao tiếp sư phạm
Khả năng giao tiếp sư phạm là thuộc tính tâm lý của người giáo viên
ñược biểu hiện trong hoạt ñộng giao tiếp sư phạm, ñược bộc lộ trong việc vận
dụng các kỹ năng giao tiếp vào trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh

6


- Kĩ năng giao tiếp sư phạm là sự nhận thức nhanh chóng những biểu
hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân,

+ V.P.Dakharov dựa vào trật tự các bước tiến hành của một pha giao
tiếp cho rằng ñể có năng lực giao tiếp cần có 9 kĩ năng
Ông ñã xây dựng trắc nghiệm thăm dò các kĩ năng giao tiếp nhằm phát
hiện những khả năng tiềm tàng trong giao tiếp của mỗi người. Trong việc rèn
luyện kĩ năng giao tiếp sư phạm mỗi sinh viên sẽ ñược tiến hành trắc nghiệm
này ñể biết ñược chỗ mạnh, chỗ yếu của bản thân mình trong quan hệ giao
tiếp.
+ Theo tóm tắt luận án phó tiến sĩ của Hoàng Thị Anh, ñã phân chia
các kĩ năng giao tiếp sư phạm ở sinh viên và cán bộ giảng dạy thành ba nhóm:

7


- Nhóm kĩ năng ñịnh hướng (bao gồm: nhận biết sự thay ñổi trạng thái
tâm lý qua nét mặt; phán ñoán ñược trạng thái tâm lý qua lời nói; lường trước
ñược ý ñịnh của ñối phương; chuyển hóa nhanh từ tri giác bên ngoài ñến xác
ñịnh tính ñộc ñáo của nhân cách; dự ñoán nhanh thái ñộ của ñối phương ñối
với mình).
- Nhóm kĩ năng ñiều khiển bản thân (biết chủ ñộng ñề xuất giao tiếp
theo mục ñích của mình; biết tự kiềm chế; biết thay ñổi nét mặt khi cần thiết;
biết thay ñổi giọng nói khi cần thiết; biết kết thúc giao tiếp hợp lý).
- Nhóm kĩ năng ñiều khiển ñối phương (biết hướng ñối phương theo ý
mình ñể ñạt ñược mục ñích giao tiếp; biết kích thích hứng thú của học sinh
trên lớp; biết kích thích sáng tạo của học sinh; biết làm giảm căng thẳng trong
giao tiếp).
Như vậy tác giả quan tâm ñến hai giai ñoạn của một quá trình giao tiếp.
Đó là giai ñoạn ban ñầu khi tiếp xúc với học sinh, sự ñiều khiển bản thân và
học sinh trong quá trình giao tiếp, chủ yếu là trong quá trình dạy học.
Dựa vào những căn cứ trên, người ta chia kĩ năng giao tiếp sư phạm
thành các nhóm kĩ năng chính:

Ngoài ngôn ngữ diễn ñạt, những phương tiện ngoài ngôn ngữ như cử
chỉ, ñiệu bộ, nét mặt, nụ cười, liếc mắt… có thể bổ sung, hỗ trợ cho thái ñộ
của người thầy giáo trong quan hệ tiếp xúc với học sinh.
1.3.2.6. Kĩ năng ñiều khiển bản thân
Là khả năng làm chủ ñược trạng thái xúc cảm của bản thân, biết tự
kiềm chế, che dấu ñược tam trạng, biết tạo ra hứng thú và cảm xúc tích cực ñể
ñiều khiển diễn biến tâm trạng của bản than. Biết dung các phương pháp, thủ
thuật giao tiếp sao cho phù hợp với hoàn cảnh và ñối tượng giao tiếp ñể ñạt
ñược mục ñích ñã ñặt ra.
1.3.2.7. Kĩ năng ñối xử khéo léo sư phạm (xử lí tình huống sư phạm)
Trong quá trình giáo dục, thầy giáo thường ñứng trước những tình
huống sư phạm khác nhau. Điều ñó, một mặt ñòi hỏi thầy giáo phải hiểu biết
tâm lý trẻ, hiểu ñược những ñiều ñang diễn ra trong tâm hồn các em; mặt khác
ñòi hỏi thầy giáo phải biết cách giải quyết linh hoạt và sáng tạo những tình
huống sư phạm khác nhau, trong hoàn cảnh khác nhau của từng cá nhân cũng
như tập thể học sinh.
Ngoài các kĩ năng trên, theo chúng tôi trong ñiều kiện hiện nay khi mà
công nghệ ñang ngày càng phát triển và ñang ñược vận dụng sâu rộng trong
tất cả các lĩnh vực, các loại hình nhà trường. Vì vậy, khả năng giao tiếp sư
phạm của người giáo viên còn ñược thể hiện ở việc sử dụng thành thạo
phương tiện kĩ thuật (giáo án ñiện tử) trong dạy học. Ngoài ra ñể ñảm bảo yêu
cầu của vấn ñề nghiên cứu, chúng tôi ñưa thêm một số kĩ năng vào tìm hiểu ở
sinh viên
Hoạt ñông sư phạm là một hoạt ñông phức tạp, vì vậy ñể thành công
trong hoạt ñộng này người giáo viên cần phải biết sử dụng phối hợp các kĩ
năng trên trong những hoàn cảnh khác nhau một cách sáng tạo.
1.4. Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng là tinh là student có nghĩa là
người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thác tri thức. I.X.Kon
cho rằng “giới sinh viên là bộ phận của thanh niên mặt khác là bộ phận của

PTS Nguyễn Văn Thạc – PTS Hoàng Anh chủ biên. Trắc nghiệm gồm 28
Item ( xem phụ lục 1)
- Yêu cầu của trắc nghiệm:
Trắc nghiệm viên hướng dẫn: nếu phù hợp thì ghi chữ “ñúng” vào ô
bên phải. Nếu không phù hợp thi ghi chữ “không” vào ô bên phải.
Sau ñó nghiệm viên sẽ phát phiếu trắc nghiệm cho sinh viên yêu cầu họ
làm trong 3 -5 phút.
- Cách xử lý: xử lý bằng cách cho ñiểm
+ Những câu trả lời “ñúng” ở câu: 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 12, 13, 14, 16,
18, 19, 21, 22, 24, 25, 27 thì mỗi câu ñược 1 ñiểm
+ Trả lời “không” ở các câu: 2, 9, 11, 28, 17, 20, 23, 26 thì cho mổi câu
1 ñiểm
tính ñiểm cho từng câu một rồi ñiền kêt quả vào bảng theo
số ñiểm mỗi nhóm kỹ năng ñược chia làm 4 mức ñộ:
Mức ñộ cao: 7 ñiểm
Mức ñộ tương ñối cao: 5 – 6 ñiểm
Mức ñộ trung bình: 3 – 4 ñiểm
Mức ñộ thấp: 2 – 3 ñiểm
Sau khi tính tổng số ñiểm của từng nhóm, ñối chiếu với mức ñộ sẽ phân
loại ñược khả năng giao tiếp của sinh viên
Mỗi nhóm là những kỹ năng giao tiếp và từ sự phân nhóm này chúng ta
chúng ta sẽ thấy rõ hơn kỹ năng giao tiếp của sinh viên.
- Nhóm 1: thể hiện tính chủ ñộng tích cực trong giao tiếp bao gồm các
kĩ năng (biết hành ñộng).
10


+ Biết kiềm chế và kiểm tra người giao tiếp với mình (câu hỏi 1,5,9).
+ Biết thuyết phục (13, 17)
+ Biết chủ ñộng ñiều khiển quá trình giao tiếp (21, 25)

Nghiên cứu khả năng giao tiếp sư phạm của sinh viên các ngành sư
phạm, ñòi hỏi phải xây dựng và lựa chọn các phương pháp nghiên cứu tâm lí
phù hợp với hoàn cảnh nghiên cứu và ñối tượng nghiên cứu nhằm ñưa lại các
kết luận tam lí khách quan và khoa học.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CỦA
SINH VIÊN CÁC NGÀNH SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐHSP ĐÀ NẴNG
3.1. Thực trạng khả năng giao tiếp sư phạm của sinh viên ngành sư phạm
trường ĐHSP Đà Nẵng.

11


Sau khi thống kê xử lí số liệu, chúng tôi ñã có kết quả về khả năng giao
tiếp sư phạm của sinh viên, kết quả này ñã ñược chúng tôi trình bầy cụ thể
dưới các biểu bảng.
3.1.1. Khả năng giao tiếp của sinh viên các ngành sư phạm Trường ĐHSP
Đà Nẵng
Bảng 1: Khả năng giao tiếp sư phạm của sinh viên ngành sư phạm
trường ĐHSP Đà Nẵng.
Thấp
Trung
Tương
Cao
Mức ñộ
Điể
bình
ñối cao
Nhóm
mX
SL %

14
7

49

103

15.
3

16
9

34.
7

16
9

11

3.7

3.8

34.3 41

13.7

4.9

năng giao tiếp ở mức trung bình; có 23,3% sinh viên có khả năng giao tiếp ở
mức thấp. Như vậy có thể thấy khả số lượng sinh viên có khả năng giao tiếp ở
mức trung bình và thấp chiếm tỷ lệ rất lớn 74.3%. Điểm trung bình của nhóm
X = 3.8 ñiểm. Đây cũng là kết quả mà chúng tôi có ñược trong quá trình
phỏng vấn bằng bảng hỏi ñối với sinh viên thực tập, có tới 30.6% sinh viên
gặp khó khăn trong việc thu hút sự chú ý của học sinh vào bài học. Đồng thời
trong quá trình quan sát dự giờ ở các lớp năm 3, trong giờ học hầu hết sinh
viên còn thụ ñộng ngồi lắng nghe, hầu như ít hoạt ñộng
12


Nhóm khả năng giao tiếp B (Khả năng bộc lộ tính nhạy cảm, lắng nghe
người giao tiếp): Ở nhóm này có tới 49% sinh viên có khả năng giao tiếp ở
mức trung bình; 3% sinh viên có khả năng giao tiếp ở mức thấp. Như vậy có
thể thấy mặc dù ở nhóm này số lượng sinh viên có khả năng giao tiếp ở mức
thấp chiếm tỷ lệ nhỏ, song ở mức trung bình vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao. Ở
mức tương ñối cao có tới 34.3% sinh viên và 13.7% sinh viên có khả năng
giao tiếp ở mức cao. Điểm trung bình của nhóm khả năng giao tiếp này là X =
4.9 ñiểm
Nhóm khả năng giao tiếp C (Thể hiện sự cân bằng phù hợp trong giao
tiếp): Nhóm khả năng giao tiếp này có tới 56.3% sinh viên có khả năng giao
tiếp ở mức ñộ trung bình; 15.3% sinh viên có khả năng giao tiếp ở mức ñộ
thấp. Như vậy có thể thấy tỷ lệ sinh viên có khả năng giao tiếp chưa ñạt ở
nhóm này là rất cao 71.6%. Điểm trung bình của nhóm khả năng này cũng chỉ
ñạt X =3.7 ñiểm, ñạt mức trung bình.
Nhóm khẳ năng giao tiếp D (khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao
tiếp): Ở nhóm khả năng này có tới 56,3% sinh viên có khả năng giao tiếp chỉ
ở mức trung bình; có 33,7% sinh viên có khả năng giao tiếp ở mức thấp. Đây
là nhóm có số lượng lớn nhất sinh viên có khả năng giao tiếp chỉ ở mức trung
bình, thấp 91%. Điểm trung bình của nhóm khả năng này cũng chỉ ñạt X =



X

Thấp
Trung bình
Tương ñối cao
Cao
Thấp
Trung bình
Tương ñối cao
Cao
Thấp
Trung bình
Tương ñối cao
Cao
Thấp
Trung bình
Tương ñối cao
Cao

38
25.3
32
21.3
79
52.7
74
49.3
A

4
2.7
73
48.7
96
64
C
3.9
4.1
27
18
44
29.3
8
5.3
6
4
66
44
38
25.3
73
48.7
96
64
D
3.2
3.4
10
6.6

(50% sinh viên) so với khối xã hội (54% sinh viên). Ở mức tương ñối cao
14


khối tự nhiên vẫn cao hơn (37.3% sinh viên) so với khối xã hội (31.3% sinh
viên).
Như vậy ở nhóm khả năng giao tiếp này khả năng giao tiếp của khối tự
nhiên vẫn tốt hơn khối xã hội, ñiều này còn ñược biểu hiện ở ñiểm số trung
bình của hai khối: khối tự nhiên X = 4.9 ñiểm; khối xã hội X = 4.7 ñiểm,
Nhóm giao tiếp C (khả năng thể hiện sự cân bằng phù hợp trong giao
tiếp): khả năng giao tiếp của sinh viên hai khối ở nhóm này ñều ở mức trung
bình. Trong ñó có sự chênh lệch về mức ñộ giữa về mức ñộ giữa hai khối. Ở
mức thấp khối tự nhiên có tới 28% sinh viên, trong khi ñó khối xã hội chỉ có
2,7 % sinh viên có khả năng giao tiếp ở mức thấp. Tuy nhiên ở mức trung
bình khối tự nhiên chỉ có 48.7% sinh viên, thấp hơn khối xã hội 64% sinh
viên. Tuy nhiên nhìn một cách tổng quát thì khả năng giao tiếp của sinh viên
khối xã hội ở nhóm này vẫn có xu hướng tốt hơn khối tự nhiên
Nhóm khả năng giao tiếp D (khả năng diễn ñạt cụ thể, dễ hiểu bằng
ngôn ngữ): hầu hết sinh viên của hai khối ở nhóm này ñều có khả năng giao
tiếp ở mức thấp và trung bình. Trong ñó cũng có sự chênh lệch về mức ñộ
giữa hai khối. Ở mức thấp và trung bình khối tự nhiên có tới 92.7% sinh viên
cao hơn khối xã hội 89,3% sinh viên. Như vậy có thể thấy khả năng diễn ñạt
cụ thể dễ hiểu, mạch lạc bằng ngôn ngữ của khối xã hội vẫn có xu hướng tốt
hơn khối tự nhiên, ñiều này còn ñược thể hiện ở ñiểm số trung bình của hai
khối: Khối tự nhiên X = 3.2 ñiểm; khối xã hội X = 3.4 ñiểm.
3.1.3. Khả năng giao tiếp của sinh viên năm 3 so với sinh viên năm 4
Bảng 3: Khả năng giao tiếp sư phạm của sinh viên năm 3 so với sinh viên
năm 4
Năm 3
Năm 4


34
82
32
2
6
78
47
19
24
87
35
4
54
85

22.7
54.7
21.3
1.3
4
52
31.3
12.7
16
58
23.3
2.7
36
56.6

37.3
14.7
14.6
54.7
24
6.7
33.3
56

3.8

4.9

4.2
3.4


Tương ñối cao
Cao
Điểm TB

10
1
3.9

6.6
0.7

14
2

15.3% ñến 34.7% sinh viên). Mức tương ñối cao và cao có tỷ lệ sinh viên ít
hơn rất nhiều. Khả năng giao tiếp của sinh viên năm 4 cao hơn năm 3, tuy
nhiên mức chênh lệch không cao. Khả năng giao tiếp của sinh viên khối tự
nhiên và xã hội có sự khác biệt, ñiều này thể hiện ở các nhóm khả năng giao
tiếp.
3.2. Những vấn ñề về giao tiếp sư phạm mà sinh viên năm 4 gặp phải
trong quá trình thực tập sư phạm
Để có kết quả chính xác về khả năng giao tiếp sư phạm của sinh viên
ngành sư phạm Trường ĐHSP Đà Nẵng, chúng tôi ñã ñặt các câu hỏi ñiều tra
trên sinh viên năm 4 khi họ ñang trong thời gian thực tập và kết quả thu ñược
cụ thể qua các bảng số liệu.

16


Bảng 4: Những thuận lợi mà sinh viên năm 4 có ñược trong thời gian
thực tập sư phạm
STT Nội dung
Số lượng Tỷ lệ (%)
1
Đã có sự trang bị tốt về mặt chuyên môn
82
29.7
2
Sự giúp ñỡ nhiệt tình của cơ sở thực tập
122
43.7
3
Có sự chuẩn bị tốt về mặt kĩ năng sư phạm
74

ñiện tử) trong dạy học
4
Khả năng thiết lập mối quan hệ với học 39
26
8
sinh
5
Khả năng diễn ñạt ngôn ngữ (ngắn gọn, 70
46.6
1
mạch lạc, lưu loát, cụ thể, phat âm chuẩn,
mạch lạc)
6
Làm chủ trạng thái hành vi cảm xúc
18
12
9
7
Xử lí tình huống sư phạm
53
35.3
5
8
Làm chủ cân bằng giữa thời gian và giáo 67
44.6
2
án
9
Thu hút sự chú ý của học sinh vào bài học 46
30.6

thái hành vi cảm xúc, với 18 lượt lựa chọn, chiếm 12%.
Bảng 6: Sự ñánh giá của sinh viên về nguyên nhân của những khó
khăn trong giao tiếp sư phạm
STT Nội dung ñánh giá
Số
Tỷ lệ
lượng (%)
1
Khả năng của sinh viên còn hạn chế
70
32.7
2
Nhà trường sư phạm chưa tạo ñiều kiện, cơ hội cho 50
28.0
sinh viên rèn luyện, thực tế, tích lũy kinh nghiệm
3
Bản thân sinh viên chưa tích cực rèn luyện thường 84
39.3
xuyên ñể nâng cao khả năng nghiệp vụ sư phạm
Từ bảng số liệu trên ta thấy, số lượng lựa chọn của sinh viên về các
nguyên nhân không có sự chênh lệch quá lớn. Cao nhất là nguyên nhân: Do
bản thân sinh viên chưa tích cực rèn luyện thường xuyên ñể nâng cao khả
năng nghiệp vụ sư phạm, có 84 lựa chọn chiếm 39.3 %, ñiều này phù hợp với
nhận ñịnh của chúng tôi. Đứng thứ 2 trong 3 nguyên nhân trên sinh viên cho
rằng: Do khả năng của sinh viên còn hạn chế, có tới 70 sự lựa chọn, chiếm
32.7%. Theo chúng tôi, do sinh viên chưa biết cách phát huy hết khả năng của
mình,
Thứ 3 là nguyên nhân: Do nhà trường sư phạm chưa tạo nhiều ñiều
kiện, cơ hội cho sinh viên rèn luyện, thực tế, tích lũy kinh nghiệm có 60 lượt
lựa chọn, chiếm 28.0%. Đây cũng là một nguyên nhân cơ bản

Bảng 8: Sự ñánh giá của sinh viên về khả năng giao tiếp sư phạm,
xử lý tình huống sư phạm của bản thân trong thời gian thực tập
STT Nội dung
Số
Tỷ lệ (%)
lượng
1
Rất tốt
9
5.9
2
Tốt
59
39.1
3
Tạm ñược (ñạt yêu cầu)
75
49.7
4
Chưa ñạt yêu cầu
8
5.3
Từ bảng số liệu trên cho thấy, hầu hết sinh viên ñều lựa chọn tạm ñược
có 75 lượt lựa chọn, chiếm 49.7%; ñứng thứ hai là tốt có 59 lượt lựa chọn,
chiếm 39.1%; thứ ba là rất tốt có 9 lượt lựa chọn chiếm 5.9%; Và cuối cùng
là chưa ñạt yêu cầu có 8 lượt lựa chọn, chiếm 5.3%.
Bảng 9: Đề xuất của sinh viên về những việc làm cụ thể của nhà trường sư
phạm và bản thân sinh viên trong việc nâng cao khả năng giao tiếp sư phạm
cho sinh viên trước khi ra trường.
STT Nội dung

ứng xử, thuyết trình vấn ñề, tự tin, nắm vững tâm lý
học sinh, chủ ñộng mạnh dạn xử lý hình huống sư
phạm.
2
- Tích cực học hỏi kinh nghiệm của những người ñi 23
15.3
trước, tham gia các hoạt ñộng ngoại khóa, cuộc thi
nghiệp vự sư phạm
Về phía nhà trường sư phạm, trong ñó nội dung có số lượng sinh viên
ñề xuất nhiều nhất ñó là: Tạo ñiều kiện cho sinh viên thực tế sớm hơn nhằm
tích lũy kinh nghiệm ñồng thời tăng số thời gian thực tập có tới 75 lần, chiếm
50%. Đồng tình với quan ñiểm này của chúng tôi, cô giáo Nguyễn Thị thu
Thủy – giáo viên dạy bộ môn Tin của trường THPT Nguyễn Thượng Hiền
cho rằng nên tăng số tiết dạy cho các em thực tập
Nội dung thứ hai ñược sinh viên ñề xuất là: Nâng cao chất lượng ñào
tạo nghiệp vự sư phạm cho sinh viên, chiếm 40.7%
Nội dung thứ 3 và có tỉ lệ thấp nhất ñó là: Cần phải tổ chức các hoạt
ñộng ngoại khóa, các cuộc thi ñể sinh viên có thể học hỏi, nâng cao khả năng
giao tiếp sư phạm. Với 14 lần lựa chọn chiếm 9.3%.
Về phía sinh viên chỉ có hai nội dung ñề xuất, trong ñó chiếm tỉ lệ lớn
nhất ñó là: sinh viên cần phải tích cực rèn luyện thường xuyên khả năng giao
tiếp sư phạm cho bản thân. Đây cũng chính là kết quả mà chúng tôi ñã thu
ñược trong phần hổi về những nguyên nhân dẫn ñến những khó khăn về giao
tiếp sư phạm trong thời gian thực tập (có tới 39.3% cho rằng: bản thân sinh
viên chưa tích cực rèn luyện thường xuyên ñể nâng cao khả năng giao tiếp sư
phạm
Nội dung thứ hai: Tích cực học hỏi kinh nghiệm của những người ñi
trước, tham gia hoạt ñộng ngoại khóa, cuộc thi nghiệp vụ sư phạm với 23
lượt, chiếm 13.5%.
3.3. Kết luận chương 3

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn chúng tôi ñã ñưa ra một số
giải pháp nâng cao khả năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên.
2. Các kiến nghị
Để thực hiện ñược các biện pháp trên có hiệu quả thì chúng ta cần phải:
- Ngay từ thời kì ñầu sinh viên mới bước vào trường cần phải xác ñịnh
ñược khả năng giao tiếp của sinh viên, trên cơ sở ñó có những biện pháp tác
ñộng, ñiều chỉnh kịp thời, có những cách thức rèn luyện phù hợp.
- Cần trang bị cho sinh viên có những kiến thức tâm lý học về giao tiếp
và giao tiếp sư phạm. Sinh viên phải nắm ñược những tri thức về tâm lý học,
ñặc biệt là phạm trù giao tiếp trong tâm lý học hiện ñại phải hiểu ñược khả
năng, bản chất, ñặc ñiểm cấu trúc của giao tiếp.
- Cần phải ñổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường vai trò
của sinh viên trong quá trình học tập
- Cần thường xuyên tổ chức các hình thức rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm, rèn luyện có kế hoạch và ñảm bảo tính hệ thống, thường xuyên ñể trở
thành nề nếp, thói quen, thành nhu cầu cần thiết của sinh viên. Tránh hiện
tượng hình thức chỉ rầm rộ một thời gian ngắn khi diễn ra hội thi nghiệp vụ sư
phạm.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status