Vận dụng trò chơi vào dạy học một số bài ngữ văn lớp 10 tại trường THPT lê lai - Pdf 35

Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Sau nhiều cố gắng trong công cuộc đổi mới, ngành giáo dục và đào tạo
nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào, nhưng vẫn còn nhiều điều
khiến những người có trách nhiệm đối với ngành, với đất nước phải băn khoăn,
trăn trở. Nền giáo dục nước ta hiện nay vẫn còn nặng về thi cử, khoa bảng, coi
trọng giáo dục kiến thức mà coi nhẹ rèn luyện kỹ năng, với nội dung giảng dạy
“ổn định, đơn điệu”. Mục tiêu dạy và học vẫn là để thuộc bài, nhớ bài và sao
chép lại tri thức.
Trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông Lê
Lai, tình trạng “thầy đọc trò chép” cũng vẫn còn phổ biến. Giáo viên ở đây còn
nặng về thuyết trình, áp đặt, nhồi nhét, độc thoại một chiều. Người học thì chưa
chủ động, chưa tích cực, tinh thần sáng tạo chưa cao, thói quen tự suy nghĩ, tự
tìm tòi, chủ động giải quyết vấn đề còn rất hạn chế. Cách dạy đó đi ngược lại với
bản chất của văn chương, đi ngược lại với nguyên tắc dạy học, tách học sinh người đọc ra khỏi tác phẩm, làm cho học sinh không có dịp đối diện với văn
bản, do đó không có thói quen tự mình khám phá văn bản và tất nhiên đánh mất
luôn năng lực tự học của các em. Vì thế, học sinh thờ ơ, lãnh đạm với văn
chương, nhất là văn chương trung đại trong chương trình Ngữ Văn lớp 10; các
em thấy chán ghét môn Văn, thậm chí… ghét luôn cả giáo viên dạy Văn. Và
trong các kỳ thi, thì điểm số môn học này thường không cao và đã có không ít
bài văn dở khóc dở cười.
Trong khi đó, một giáo viên dạy Ngữ văn giỏi phải là người biết tổ chức
cho học sinh hoạt động. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh
cách tìm ra chân lí. Muốn vậy giáo viên phải biết lựa chọn và vận dụng phương
pháp dạy học phù hợp với đặc điểm môn học, phải biết tổ chức cho học sinh
những hoạt động học tập thú vị, hấp dẫn và có hiệu quả để vừa phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, vừa rèn luyện được thói quen, khả năng tự học,
tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau
trong học tập và trong thực tiễn của học sinh, vừa tạo được niềm tin, niềm vui,

thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động,
chống lại thói quen học tập thụ động.
Việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông thực hiện theo các
yêu cầu sau:
- Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập cho học
sinh.
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thức
học cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp.
- Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực, dân chủ giữa giáo viên và học
sinh, giữa học sinh với nhau.
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kỹ năng, năng lực, tăng cường
thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn đời sống.
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự
học, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin
trong học tập cho học sinh.
- Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị
dạy học được trang bị họăc do giáo viên tự làm, đặc biệt lưu ý đến những ứng
dụng của công nghệ thông tin.
- Dạy học chú trọng đến việc đa dạng nội dung, các hình thức, cách thức
đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá.
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học, thì việc tổ chức các hoạt động
học tập cho học sinh có một vai trò hết sức quan trọng.
2
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc



Văn ở nhà trường THPT là đào tạo cho học sinh năng lực nghe, nói, đọc, viết,
đặc biệt là yêu cầu đọc văn và làm văn, đảm bảo năng lực tự học sau này. Dạy
Văn là dạy cho học sinh phương pháp đọc, kỹ năng đọc, năng lực đọc để học
sinh có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại. Từ đọc - hiểu văn mà trực
tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc
được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính.
Người dạy văn không phải chỉ giảng cho học sinh nghe, đọc cho học sinh chép
lại cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương do mình khám phá, cảm nhận mà
phải biết “biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của học sinh” (TS. Hồ
Ngọc Đại), phải “trả tác phẩm về cho học sinh” (TS. Nguyễn Quang Trung). Đó
là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận
thẩm mỹ.
3
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc


Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

Vì thế, sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành đã lấy nội dung đọc - hiểu văn
bản là chính và đọc - hiểu đó trước hết là hoạt động của học sinh. Một giáo viên
dạy Ngữ Văn giỏi phải là người biết tổ chức cho học sinh hoạt động. Vận dụng
trò chơi là một cách dạy học tích cực vào giảng dạy sẽ góp phần quan trọng giúp
giáo viên thực hiện tốt mục tiêu của chương trình Ngữ Văn ở nhà trường THPT.
II. THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY NGỮ VĂN LỚP 10 TẠI TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG LÊ LAI
Tại trường trung học phổ thông Lê Lai, giáo viên bộ môn Ngữ Văn đã có
nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Nhưng trên thực tế
giảng dạy Ngữ Văn nói chung và việc giảng dạy Ngữ Văn 10 nói riêng, nhiều
giáo viên vẫn quen với cách dạy “giảng văn” truyền thống nên họ vẫn nói tới

Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

văn thơ trung đại, một mảng văn thơ khá xa lạ với các em về tư tưởng, văn hóa,
ngôn ngữ...
Từ thực trạng trên, ta thấy nếu cả giáo viên và học sinh đều có những hạn
chế mà chúng ta không chịu tìm tòi, tổ chức tiết học cho tốt thì giờ dạy Văn học
trung đại sẽ trở nên khô khan, thiếu hứng thú, kém hiệu quả. Bởi vậy, thiết nghĩ
vận dụng được các trò chơi trong giờ Đọc văn lớp 10 sẽ phần nào tạo được
không khí thoải mái, tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình học bài và
giúp các em tiếp nhận kiến thức tốt hơn. Tiết học nhờ vậy sẽ có không khí dân
chủ, thân thiện hơn.
III. NHỮNG LƯU Ý KHI VẬN DỤNG TRÒ CHƠI VÀO GIẢNG DẠY MỘT
SỐ BÀI ĐỌC VĂN LỚP 10
1. Khái niệm trò chơi:
Trò chơi không chỉ là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thoả mãn
nhu cầu giải trí đa dạng của con người mà đó còn vai trò giáo dục hết sức to lớn.
Qua trò chơi, người chơi không chỉ được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ mà còn hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực. Chính vì vậy,
trò chơi được sử dụng như một phương pháp dạy học hữu hiệu.
2. Đặc điểm của vận dụng trò chơi trong giảng dạy Ngữ văn lớp 10:
- Các trò chơi trí tuệ với sự tham gia tích cực của học sinh dưới sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên là trung tâm của hoạt động dạy học. Vì vậy, yêu cầu
cốt yếu khi vận dụng nó, giáo viên phải sáng tạo ra được các trò chơi và tổ chức
thực hiện tốt các trò chơi đó.
- Vai trò của học sinh được đẩy lên hàng đầu, trong đó hoạt động thảo luận,
hợp tác trong nhóm chơi, đội chơi từ khâu chuẩn bị cho đến khi kết thúc quá
trình chơi là hoạt động cốt lõi.
- Giáo viên có vai trò vừa là người biên soạn, vừa là người viết kịch, vừa là
tổng đạo diễn, vừa là diễn viên, vừa là kỹ thuật viên, vừa là giám khảo, vừa là cố

4. Yêu cầu khi tổ chức trò chơi trong giảng dạy giờ Đọc văn lớp 10
4.1. Yêu cầu chung:
Ở cấp 2, 3, các trò chơi thiên về tư duy, đòi hỏi phức tạp hơn. Trong giờ
Đọc văn, cái đích cuối cùng của trò chơi sẽ xoay quanh tri thức và kĩ năng văn
học, ngôn ngữ. Giáo viên cần xác định rõ mục đích chơi; chọn những bài học có
khả năng tổ chức trò chơi (thường là những tiết ôn tập, bài khái quát về tác giả,
bài tìm hiểu tác phẩm...)
Trò chơi phải phù hợp quỹ thời gian, điều kiện thực tế của lớp học. Nên tổ
chức trò chơi trong một khoảng thời gian nhất định trong tiết học như phần củng
cố kiến thức cuối giờ đối với bài Đọc- hiểu tác phẩm, hoặc sau mỗi phần đối với
bài khái quát, bài về tác gia văn học, bài ôn tập... không nên tổ chức hết cả tiết
để đảm bảo đúng yêu cầu của một giờ dạy văn.
Trong cả năm học, có thể áp dụng nhiều trò chơi khác nhau, tránh để lặp
đi lặp lại gây nhàm chán.
4.2. Yêu cầu đối với giáo viên:
- Lựa chọn trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, tạo được hứng thú,
phấn khởi với người chơi, phù hợp với đối tượng chơi, số lượng người chơi, nội
dung bài học, thời lượng cho hoạt động, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của
lớp học. Đồng thời phải đạt được hiệu quả giáo dục.
- Giáo viên cần phải chuẩn bị đầy đủ, kỹ càng nội dung giảng dạy và
cách tổ chức trò chơi kèm theo các dụng cụ cần thiết, kiểm tra công tác chuẩn bị
của các đội chơi cũng như các thiết bị máy móc, kỹ thuật hỗ trợ, đồng thời phải
biết dự đoán trước mọi tình huống có thể xảy ra và hướng giải quyết để không bị
bất ngờ. Giáo viên phải nghiên cứu kỹ, nắm rõ ý nghĩa và mục tiêu của từng trò
chơi để khai thác hết các khía cạnh tích cực của nó.
- Giáo viên với tư cách là người dẫn chương trình phải tự tin; mềm dẻo;
chân tình, thân thiện, vui tươi, hài hước; biết làm chủ thời gian, kiểm soát được
6
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc


người đó đưa ra một quan điểm trái ngược với mình hoặc mình không đồng ý;
không ngại hỏi những điều mình chưa biết hoặc thắc mắc; phải thể hiện tinh
thần hợp tác hết mình với cả đội từ khâu chuẩn bị cho đến khi kết thúc bài học,
tuyệt đối không “ăn theo”, không phụ thuộc, dựa dẫm vào các thành viên khác
trong đội.
- Trước mỗi phần chơi, học sinh phải nắm được quy tắc chơi và tôn trọng
luật chơi, có quyền yêu cầu người dẫn chương trình phổ biến lại nếu chưa rõ.
- Tham gia các phần chơi với tâm lý vui tươi, thoải mái, nhiệt tình hết
mình; trong quá trình chơi phải thể hiện rõ tinh thần giao lưu, học hỏi, không
nên quá coi trọng thắng thua.

7
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc


Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

IV. TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI ĐỌC VĂN
LỚP 10:
1. Trò chơi “Tích luỹ”:
1.1. Chuẩn bị:
* Giáo viên:
Chuẩn bị một hệ thống câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc phạm vi
kiến thức của bài học (số lượng câu hỏi cho mỗi đội chơi tuỳ theo từng bài, chủ
yếu là những câu hỏi ghi nhớ, tái hiện, suy nghĩ và trả lời trong thời gian ngắn).
* Học sinh: Đọc kỹ các nội dung trong sách giáo khoa; Tham khảo thêm các
tài liệu liên quan;Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài.
1.2. Thực hiện:
*Cách 1:

tại trường trung học phổ thông Lê Lai

- Giáo viên phải bấm thời gian thật chính xác để đảm bảo công bằng cho
các đội (có thể nhờ một học sinh làm công việc này).
- Trò chơi có thể áp dụng đối với các dạng bài: Tổng quan văn học, khái
quát văn học giai đoạn, tác gia văn học, ôn tập văn học giai đoạn.
- Trò chơi này có thể tổ chức trước hoặc sau khi học xong một phần kiến
thức của bài học, cũng có thể sử dụng cho phần tổng kết tiết học.
2. Trò chơi “Giải ô chữ”
2.1. Chuẩn bị:
* Giáo viên:
- Chuẩn bị giấy khổ to (có vẽ sẵn các ô chữ, số lượng các hàng ngang tuỳ
thuộc vào đặc điểm của từng bài học và đối tượng học sinh) và bút dạ. Nếu có
điều kiện giáo viên có thể thiết kế ô chữ trên máy tính sau đó dùng máy chiếu đa
năng hỗ trợ.
- Chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc
phạm vi kiến thức của bài học tương ứng với các ô chữ (hàng ngang và từ chìa
khoá).
* Học sinh: Đọc sách giáo khoa.
2.2. Thực hiện:
Giáo viên sẽ đưa ra một số câu hỏi tương đương với một số từ (hoặc cụm
từ) hàng ngang (số lượng từ hàng ngang tuỳ theo từng bài học), mỗi từ sẽ có
một đến hai chữ cái thuộc từ chìa khoá. Các nhóm (bắt đầu từ nhóm thứ nhất) sẽ
lần lượt lựa chọn các hàng ngang, hết thời gian suy nghĩ các nhóm sẽ đưa ra đáp
án (viết ra giấy khổ to hoặc bảng con). Sau lượt lựa chọn thứ nhất các nhóm có
quyền trả lời từ chìa khoá, trả lời đúng từ chìa khoá trước khi có gợi ý của giáo
viên sẽ có điểm cao hơn sau khi có gợi ý. Thời gian suy nghĩ - thảo luận và điểm
số cho mỗi câu hỏi do giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc
điểm bài học). Kết thúc phần chơi, giáo viên đánh giá, biểu dương, động viên
tinh thần và tổng kết điểm của các nhóm chơi.

cho Nguyễn Trãi và cho sưu tầm lại thơ văn của ông.
-> Trả lời: LÊ THÁNH TÔNG (chữ cái của từ chìa khoá là: G).
+ Hàng ngang thứ 8 là một cụm từ gồm có 13 chữ cái: Đây là nơi Nguyễn
Trãi bị giặc Minh giam lỏng.
-> Trả lời: THÀNH ĐÔNG QUAN (chữ cái của từ chìa khoá là: A).
+ Gợi ý trả lời từ chìa khoá: Từ chìa khoá là một từ gồm có 9 chữ cái: Đây là
một trong những tư tưởng chủ đạo xuyên suốt các áng văn chính luận của
Nguyễn Trãi.
-> Trả lời: NHÂN NGHĨA.
Ô chữ như sau:

Q

V

T

D

Ư

Đ



A

C

H


T

H

I

T

T

Ù

N

G



T

H

I

Ê

N

N


L

Ê

T

H

Á

N

H

T

Ô

N

G

H

À

N

H

- Không hỏi về những cụm từ phiên âm từ tiếng nước ngoài.
- Sau khi học sinh trả lời xong mỗi từ (hoặc cụm từ) hàng ngang, giáo
viên nên dừng lại giảng giải cho cả lớp hiểu rõ hơn về ý nghĩa của từ (hoặc cụm
từ) đó trước khi hỏi câu hỏi về từ (hoặc cụm từ) hàng ngang tiếp theo.
- Trò chơi này nên áp dụng nhiều đối với các dạng bài: Tổng quan văn
học, khái quát văn học giai đoạn, tác gia văn học, ôn tập văn học giai đoạn.
- Giáo viên có thể vận dụng trò chơi cho phần tạo tâm thế- giới thiệu bài
mới hoặc phần củng cố bài học, cũng có thể tổ chức giữa giờ.
3. Trò chơi “Đối mặt”
3.1. Chuẩn bị:
* Giáo viên:
Chuẩn bị một hệ thống câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc phạm vi
kiến thức của bài học (số lượng câu hỏi tuỳ theo từng bài, chủ yếu là những câu
hỏi liệt kê sự vật, nhân vật, hiện tượng…).
* Học sinh:
- Đọc các nội dung trong sách giáo khoa.
- Tham khảo thêm các tài liệu liên quan.
- Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài.
3.2. Thực hiện:
- Giáo viên đọc trước các câu hỏi cho học sinh thảo luận trong một thời
gian nhất định sau đó yêu cầu một số em lên tham gia phần thi.
- Sau khi đủ số lượng theo yêu cầu, giáo viên yêu cầu người chơi đứng
thành hàng và đọc câu hỏi (có nhiều đáp án). Mỗi người, mỗi lần chỉ trả lời một
đáp án sau đó chuyển sang người tiếp theo. Đến lượt, người nào không trả lời
được người đó sẽ bị loại. Kết thúc phần chơi, giáo viên sẽ chọn ra một người
chơi xuất sắc nhất (người còn lại cuối cùng) và cho điểm đội chơi mà người đó
đại diện (điểm số do giáo viên quy định), đồng thời đánh giá, biểu dương, động
viên tinh thần tham gia trò chơi của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam” có thể yêu cầu
học sinh liệt kê các thể loại văn học dân gian hoặc kể tên các tác phẩm thuộc

thức thuộc phạm vi bài học và dự kiến các câu gợi ý tương ứng với các vấn đề
đó; sau đó chia đều thành các gói nhỏ.
* Học sinh:
- Đọc kỹ sách và tóm tắt lại các nội dung trong sách giáo khoa.
- Tham khảo thêm các tài liệu liên quan.
4.2. Thực hiện:
Giáo viên gọi 2 người tham gia trò chơi (một người gợi ý và một người trả
lời). Người chơi sẽ bước lên bục giảng, người gợi ý và người trả lời quay lưng
lại với nhau (người gợi ý quay mặt lên màn hình máy chiếu) và lựa chọn gói từ
ngữ. Sau một thời gian suy nghĩ, người gợi ý sẽ đưa ra câu gợi ý cho các từ ngữ
mà giáo viên đưa ra (gói từ ngữ này hiện lên màn hình máy chiếu), người trả lời
nếu trả lời đúng sẽ được điểm. Từ nào khó, chưa thể đặt câu gợi ý, người gợi ý
có thể bỏ qua để chuyển sang từ tiếp theo. Trong câu gợi ý, người gợi ý tuyệt đối
không được nhắc đến những từ có trong đáp án. Số lượng từ (cụm từ), thời gian
suy nghĩ trả lời và điểm số cho mỗi câu hỏi do giáo viên quy định (tuỳ theo đối
tượng học sinh và đặc điểm bài học).
Ví dụ: Khi dạy bài: “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu, giáo viên
có thể đưa ra các từ như: Thăng Phủ, Thái bảo, Bạch Đằng, phú, tráng chí, Tử
Trường, tự hào, bô lão, con người…
Các câu gợi ý tương ứng là:
12
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc


Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

- Tên tự của Trương Hán Siêu là gì?
- Khi mất Trương Hán Siêu được nhà vua tặng tước này.
- Đây là tên một dòng sông đã từng ghi dấu nhiều chiến công vang dội

- Tham khảo thêm các tài liệu liên quan.
- Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài.
5.2. Thực hiện:
Giáo viên lần lượt mời học sinh lên quay nón. Khi nón dừng, cần gạt chỉ ở
ô bao nhiêu điểm giáo viên sẽ đọc câu hỏi tương ứng với số điểm. Hết thời gian
suy nghĩ - thảo luận (tuỳ theo độ khó của câu hỏi), học sinh sẽ đưa ra phương án
13
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc


Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

trả lời. Thời gian suy nghĩ trả lời, điểm số cho mỗi câu hỏi và số lượt quay do
giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc điểm bài học).
Ví dụ: Khi dạy bài “Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX”, giáo viên có thể thiết kế những câu hỏi như sau:
+ Văn học Việt Nam thời trung đại gồm mấy thành phần chính? (câu 10
điểm).
+ Văn học chữ Nôm xuất hiện vào thời điểm nào? Kể tên 4 tác phẩm tiêu
biểu (câu 20 điểm).
+ Văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV tồn tại và phát
triển trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào? Nội dung chính là gì? (Câu 30 điểm).
+ Tính quy phạm và khuynh hướng trang nhã thể hiện như thế nào trong văn
học Việt Nam trung đại? (câu 40 điểm).

5.3. Một số lưu ý khi vận dụng:
- Nên vận dung để củng cố tiết học.
- Câu hỏi đưa ra phải có mức độ khó tương đương với số điểm.
- Cùng một mức điểm phải chuẩn bị nhiều câu hỏi, đề phòng trường hợp

Ví dụ: Khi dạy bài: “Tổng kết phần văn học”, giáo viên có thể cho học sinh
xem một số hình ảnh liên quan đến một tác giả nào đó sau đó hỏi: Những hình
ảnh này nói về ai?
Hoặc khi dạy bài “Truyện Kiều – Phần một: Tác giả” gíáo viên có thể cho
học sinh xem một đoạn phim tài liệu về Nguyễn Du và “Truyện Kiều”, sau đó
nêu câu hỏi: Đoạn phim cho em biết những gì về Nguyễn Du và “Truyện Kiều”?
(học sinh sẽ xem phim và kết hợp với những kiến thức trong sách giáo khoa để
trả lời câu hỏi này).
Hoặc khi dạy bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” giáo viên có thể
cho học sinh nghe (xem) một đoạn dân ca mà phần lời là những câu ca dao quen
thuộc, sau đó nêu câu hỏi: Ca dao khác dân ca ở điểm nào?
6.3. Một số lưu ý khi vận dụng:
- Nên vận dụng trong phần tạo tâm thế ở đầu tiết học.
- Đoạn phim không nên quá dài nhưng cũng không nên ngắn quá.
- Mô hình này nên áp dụng cho các dạng bài: Tổng quan văn học, khái
quát văn học giai đoạn, tác gia văn học, ôn tập văn học giai đoạn. Riêng đối với
những bài Đọc - hiểu tác phẩm văn học, việc áp dụng phải khéo léo, sáng tạo và
cân nhắc nếu không sẽ phá vỡ tính văn chương của tác phẩm, biến giờ học văn
thành buổi xem phim thuần tuý
V. KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM:
1. So sánh kết quả giờ học:
- Lớp 10A3: Không vận dụng trò chơi trong giờ học:
Tiết học trầm, học sinh ít hoạt động, không có hứng thú tìm hiểu bài, kiến
thức hời hợt, chưa sâu, một số em không tập trung và có biểu hiện chán học.
- Lớp 10A4: Vận dụng trò chơi trong giờ học:
Lớp học sôi nổi, học sinh hoạt động nhiều, có hứng thú trong học tập, khả
năng tiếp thu kiến thức cao hơn, các em cảm thấy yêu thích môn học
Sau khi dạy tôi đã thực nghiệm để kiểm tra thái độ của em đối với tiết
học:
Lớp


32,5

20

44

47

25

53

17

36

5

11
15

Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc


Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

2. So sánh kết quả bài kiểm tra:
Sau khi dạy thực nghiệm và đối chứng chúng tôi cho học sinh 2 lớp làm

22

47,9

47

1

2,1

16

34

30

63,9

VI. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC VẬN DỤNG TRÒ CHƠI
VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI ĐỌC VĂN LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG LÊ LAI:
Qua một quá trình giảng dạy và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy việc vận
dụng trò chơi vào dạy học môn Ngữ văn có những ưu điểm và hạn chế sau đây:
1. Ưu điểm:
- Tổ chức trò chơi dựa trên cơ sở tâm lý là kích thích hoạt động nhận thức
bởi sự tò mò và ham hiểu biết nên phát huy được tính tích cực, chủ động trong
học tập của học sinh. Năng lực học tập của học sinh một khi đã được khơi dậy sẽ
giúp các em cảm thấy hứng thú và trở nên tự giác hơn trên con đường tìm kiếm
tri thức.
- Thông qua các trò chơi học sinh được rèn luyện các kỹ năng cần thiết:

những phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại.
2. Hạn chế:
- Nếu không tổ chức và kiểm soát tốt học sinh dễ xem giờ học như một
giờ giải trí bình thường, không phải là hoạt động giáo dục.
- Tốn nhiều thời gian, công sức và kinh phí của giáo viên.
- Dễ bị trục trặc kỹ thuật nếu như thiết bị máy móc hỗ trợ không tốt và
giáo viên sử dụng chưa thành thạo.
- Khó vận dụng đối với những lớp quá đông học sinh.

17
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc


Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10
tại trường trung học phổ thông Lê Lai

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUÂT
1.Kết luận:
Qua quá trình tìm hiểu và ứng dụng tôi nhận thấy tổ chức trò chơi có ý
nghĩa tích cực, to lớn, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giảng dạy bộ
môn Ngữ văn nói chung và dạy Đọc văn 10 nói riêng ở nhà trường THPT Lê
Lai. Nội dung chương trình sách giáo khoa mới cùng với việc trang bị những đồ
dùng và thiết bị dạy học hiện đại phục vụ cho việc cải cách giáo dục hiện nay sẽ
tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho giáo viên vận dụng các trò chơi này. Vẫn biết
việc đổi mới một phương pháp dạy học mang tính chất truyền thống, ổn định từ
bao đời nay là việc làm rất khó khăn, cần có thời gian nhất định để giáo viên
thích nghi. Nhưng chúng tôi tin rằng, vì tương lai con em chúng ta, vì yêu cầu
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tuyệt đại bộ phận giáo viên sẽ tán
đồng, ủng hộ cho việc đổi mới tiết dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT Lê
Lai thông qua việc vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nguyễn Hải Châu (Chủ biên), Nguyễn Lê Huân, Nguyễn Khắc Đàm,
(2006), Giới thiệu giáo án Ngữ văn 10 (Chương trình chuẩn – Tập 2), Nxb Hà
Nội.
[2]. Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Trọng Hoàn (2006), Giới thiệu giáo án Ngữ
văn 10 (Chương trình chuẩn – Tập 1), Nxb Hà Nội.
[3]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo khoa Ngữ văn lớp
10 (Chương trình chuẩn – Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[4]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo khoa Ngữ văn lớp
10 (Chương trình chuẩn – Tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[5]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo viên Ngữ văn lớp
10 (Chương trình chuẩn – Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[6]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo viên Ngữ văn lớp
10 (Chương trình chuẩn – Tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[7]. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2006), Bài tập Ngữ văn lớp 10 (Chương
trình chuẩn – Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[8]. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2006), Bài tập Ngữ văn lớp 10 (Chương
trình chuẩn – Tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[9]. Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử (Đồng Chủ biên) (2006), Tài liệu bồi
dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ
thông – Môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[11]. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Nguyễn Thành Thi, Nguyễn Thị Hồng Vân
(2006), Bài tập trắc nghiệm Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[12]. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Phạm Thu Hiền, Nguyễn Thị Nương,
Nguyễn Thị Hồng Vân (2007), Hệ thống đề mở Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
[13]. Bùi Sỹ Tụng (Tổng Chủ biên), Nguyễn Dục Quang (Chủ biên), Nguyễn
Phi Long, Trần Quốc Thành, Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp – Lớp 10
(Sách giáo viên).


4
5
8
15
16

18
19
20

20
Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status