Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Việc Bổ Sung Phytase Trong Khẩu Phần Ăn Đến Hiệu Quả Sử Dụng Canxi, Phospho Và Sức Sản Xuất Của Gà BROILER ROSS 508 - Pdf 35

0

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NÔNG THỊ KIỀU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG
PHYTASE TRONG KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG CANXI, PHOSPHO VÀ SỨC SẢN XUẤT
CỦA GÀ BROILER ROSS 508
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ THÚY MỴ
PGS.TS. TRẦN THANH VÂN

THÁI NGUYÊN - 2011


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào. Mọi sự giúp đỡ đều được cảm ơn. Các thông tin trích dẫn trong luận văn
được chỉ rõ nguồn gốc.


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 2
4. Những đóng góp mới của đề tài ................................................................ 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 3
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ...................................................... 3
1.1.1. Chất khoáng trong thức ăn của gia cầm .......................................... 3
1.1.1.1. Chất khoáng ............................................................................. 3
1.1.1.2. Vai trò sinh học của canxi, phospho đối với cơ thể gia cầm ... 4
1.1.1.3. Quá trình hấp thu và trao đổi canxi, phospho ở gia cầm ......... 8
1.1.1.4. Chuyển hoá canxi và phospho ở gia cầm............................... 10
1.1.1.5. Nguyên nhân ảnh hưởng tới sự hấp thu phospho .................. 11
1.1.2. Enzym phytase và ứng dụng enzym phytase trong chăn nuôi gia cầm ...... 11
1.1.2.1. Giới thiệu về enzym phytase .................................................. 11
1.1.2.2. Những hiểu biết về enzym phytase ........................................ 12
1.1.2.3. Thành phần của phytase trong tự nhiên ................................. 14
1.1.2.4. Những lưu ý khi lựa chọn và sử dụng men phytase .............. 17
1.1.3. Những lợi ích của việc sử dụng enzyme phytase.......................... 18
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC ............... 21
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.................................................. 21
1.2.2. Các nghiên cứu bổ sung enzym phytase cho gia cầm................... 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 26
2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ............ 26
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ................................................................ 26



v

3.7. Tỷ lệ tiêu hóa ca, p của gà thí nghiệm ..................................................... 56
3.7.1. Ảnh hưởng của phytase tới khả năng tiêu hoá phospho
của gà thí nghiệm ........................................................................ 56
3.7.2. Ảnh hưởng của phytase tới khả năng tiêu hoá canxi của gà
thí nghiệm ..................................................................................... 58
3.8. Sơ bộ hạch toán kinh tế ........................................................................ 61
PHẦN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 62
4.1. Kết luận ................................................................................................ 62
4.2. Đề nghị ................................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 64
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT ......................................................................... 64
II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI ........................................................ 64


vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TĂCVN

: Thức ăn cho vật nuôi

IP6

: Myo - inositol hexa dihydrogen phosphate

Ca

: Canxi


: Probiotic + đa enzyme

EV

: Đa enzyme tiêu hoá

SSF

: Allzyme SSF

ME

: Năng lượng trao đổi

N

: Nitơ

KP

: Khẩu phần

KPCS

: Khẩu phần cơ sở

CP

: Protein thô

vii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................ 27
Bảng 2.2: Các nguyên liệu sử dụng phối trộn thức ăn của gà thí nghiệm ... 29
Bảng 2.3. Thành phần thức ăn của khẩu phần cơ sở ................................... 30
Bảng 2.4: Thành phần giá trị dinh dưỡng cho gà thí nghiệm ...................... 31
Bảng 2.5: Lịch sử dụng vắc-xin cho gà thí nghiệm ..................................... 32
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm ............................... 37
Bảng 3.2: Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm ....................................... 38
Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm ..................................... 41
Bảng 3.4: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm .................................... 42
Bảng 3.5:

Tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm .... 44

Bảng 3.6:

Tiêu tốn protein cộng dồn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm ..... 46

Bảng 3.7:

Tiêu tốn năng lượng cộng dồn/kg tăng khối lượng của gà
thí nghiệm .............................................................................................. 47

Bảng 3.8: Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm ............................................... 48
Bảng 3.9: Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi .................. 50
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của các mức Ca và phospho khẩu phần đến hàm
lượng khoáng tổng số, canxi và phospho trong xương ống
chân của gà thí nghiệm lúc 49 ngày tuổi ..................................... 54

dụng cho vật nuôi có nguồn gốc từ động vật và thực vật. Tuy nhiên, khuynh
hướng hiện nay là giảm tỉ lệ sử dụng protein động vật và thay thế dần bằng
protein thực vật trong thức ăn cho vật nuôi (TĂCVN), ngoài tác động do giá
cả còn do tiến bộ khoa học kỹ thuật trong dinh dưỡng cho phép thay thế
protein động vật bằng các protein thực vật sẵn có, rẻ tiền nhưng không làm
thay đổi sức tăng trưởng của vật nuôi. Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển
protein thực vật trong TĂCVN, vấn đề trở ngại lớn nhất là khả năng tiêu hoá
và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong thức ăn chứa nhiều protein thực vật.
Các protein thực vật có chứa một số chất kháng dinh dưỡng ức chế
enzyme trypsin… ngăn cản khả năng tiêu hoá của động vật. Đặc biệt là
phospho ở dạng phytic acid có nhiều trong thực vật sẽ tạo ra một phức hệ
phytate khó tiêu hoá và hấp thu cho động vật. Hiện nay NRC (1994) [36] đã
đưa ra mức phospho tổng số và phospho dễ hấp thu cần thiết trong khẩu phần
cho gia cầm, tuy nhiên các sản phẩm này nếu không được gia cầm sử dụng
hết sẽ bài tiết ra 30-50% phospho vào trong phân thải gây ô nhiễm môi trường
(Theo Đỗ Hữu Phương, 2004 [1]).
Do đó việc giảm hàm lượng phospho trong khẩu phần nhưng vẫn đáp
ứng đủ nhu cầu của gia cầm, đồng thời giảm sự ô nhiễm môi trường do
phospho thải ra đã trở lên cần thiết và là vấn đề đang được quan tâm trong
những năm gần đây. NRC đã đưa ra những khuyến cáo hàm lượng phospho
tổng số và phospho dễ hấp thu trong khẩu phần cho gia cầm. Để đảm bảo mức


2

độ an toàn hơn thì hàm lượng phospho cũng cần được xem xét kỹ hơn. Xuất
phát từ yêu cầu đó chúng tôi tiến hành thí nghiệm thiết lập khẩu phần ăn cho
gia cầm để kiểm chứng các mức canxi và phospho mà NRC (1994) [36] đã
đưa ra đồng thời có bổ sung enzyme phytase trong khẩu phần để nghiên cứu
khả năng tiêu hóa và hấp thu canxi, phospho trong các khẩu phần thí

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1. Chất khoáng trong thức ăn của gia cầm
1.1.1.1. Chất khoáng
Chất khoáng tồn tại trong cơ thể sống một lượng tương đối nhỏ, nhưng
thiếu chúng thì quá trình trao đổi chất vẫn không thể thực hiện được. Có lẽ
rằng đối với những cơ thể sống đơn giản chất khoáng cũng đóng vai trò điều
hoà. Các quá trình tích luỹ và sản sinh năng lượng cũng như tổng hợp protit,
lipit, gluxit đều không thể thực hiện được nếu thiếu các hợp chất phospho
(ATP, ADP). Do đó quá trình tổng hợp ATP cần thiết phải xuất hiện ngay
trong giai đoạn đầu của sự sống.
Khi thiếu một phần chất khoáng, cơ thể muốn tồn tại được đã phải có
một sự thích ứng cao, còn khi thiếu hoàn toàn một chất khoáng nào đó động
vật và thực vật đều không thể sống được. Nhu cầu chất khoáng của cơ thể
động vật cũng chỉ nằm trong một giới hạn nhất định, thừa hoặc thiếu đều
không cần thiết, và trong quá trình thuần dưỡng gia súc, thiếu hoặc thừa chất
khoáng trong cơ thể đều là nguyên nhân thành bại của chăn nuôi.
Người ta đã chứng minh được vai trò không thể thiếu của hơn 40
nguyên tố khoáng đối với sự trao đổi chất của gia súc, gia cầm.
Dựa vào hàm lượng các nguyên tố khoáng có mặt trong cơ thể vật nuôi
hay khối lượng các nguyên tố khoáng mà cơ thể vật nuôi cần cung cấp hàng
ngày người ta chia ra thành 2 nhóm: Khoáng đa lượng và khoáng vi lượng.
- Khoáng đa lượng gồm: Ca, P, Mg, K, Na, Cl, S, chúng có thể chiếm từ
0,04 đến 1,5 % khối lượng VCK cơ thể.
- Khoáng vi lượng gồm: Fe, Cu, Co, Mn... Khoáng vi lượng thường nhỏ
hơn 50 mg/kg P.


4


5

Phospho cũng có vấn đề khá quan trọng liên quan đến hiệu suất sử
dụng. Phần lớn phospho ở hạt ngũ cốc và nhất là cám gạo thường tồn tại ở
dạng phytate, là muối của acid phytic (este của hexa P của inositol). Acid
phytic kết hợp với Ca và Mg tạo thành muối không tan, gây ra hiện tượng khó
tiêu hóa và hấp thu phospho cho động vật đặc biệt là gia cầm.
- Acid phytic trong thức ăn
Theo Kies và cs (2001) [23]; Naher (2002) [33]; Viveros và cs (2000)
[58] Chế độ ăn của gia cầm được phối hợp chủ yếu bởi các nguyên liệu có
nguồn gốc từ thực vật, 2/3 phospho trong hạt ngũ cốc và hạt bị rằng buộc
trong cấu trúc của acid phytic và làm giảm khả năng tiêu hoá của gia cầm.
Acid phytic là myo - inositol hexadihydrogenphosphate (Tamin và cs,
2003 [53]) được tạo thành từ sáu nhóm phosphate mang điện tích âm, và bị
rằng buộc bởi 12 hydrogens trong vòng inositol, nó có thể liên kết với các
cation như Ca+, K+, Mg++, Zn+, Fe+ và Mn++ tạo nên phức hợp không tiêu hoá
và hấp thu được đối với con vật (Radcliffe (2002) [40]). Acid phytic có thể có
tác động tiêu cực đến sự hấp thu các chất khoáng (Morris (1986) [32];
Sebastian và cs, (1997) [48]) ghi nhận những tác động tiêu cực của acid
phytic đến sự hấp thụ của Zn, Fe, Cu, Mn và Ca. Bản thân phospho trong
phân tử phytate cũng không được giải phóng ra ngoài trong quá trình tiêu hoá
vì trong ruột của gia cầm không có enzym phytase.
Theo Thompson (1993) [54], acid phytic trong hạt có thể tương tác với
các chất dinh dưỡng khác trong đường tiêu hoá. Những tương tác này rất phức
tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đường tiêu hoá của từng loại động vật
khác nhau, độ pH của đường tiêu hoá và sự hiện diện của các loại thức ăn
khác nhau cũng gây ra sự cạnh tranh với acid phytic.
Cũng theo Thompson (1993) [54], phytate là một loại thuật ngữ sử dụng
đồng nghĩa với acid phytic. Phytate là một muối cation hỗn hợp của acid

P có tỷ lệ khá ổn định là 2:1. Ca ở dưới dạng tinh thể hydroxyapatit:


7

Ca còn có trong máu (chủ yếu trong huyết tương) với nồng độ 10 mg/dl
và ở 3 dạng: ion tự do (66 %), kết hợp protein (35 %) hoặc tạo phức hợp với
acid hữu cơ như citrat hay với acid vô cơ như photphat (5-7 %).
Chức năng: Chức năng chủ yếu nhất của Ca là thành phần cấu trúc của
xương. Bộ xương có cấu trúc rất phức tạp, thành phần vật chất khô của bộ xương
xấp xỉ như sau: chất khoáng chứa 460 g/kg, 360 g protein/kg và 180 g mỡ/kg.
Tuy nhiên hàm lượng này thay đổi tùy theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng.
Ca và P là hai thành phần rất phong phú trong xương ở dưới dạng
hydroxy apatit 3Ca3(PO4)2.Ca(OH)2 là những hợp chất rất cứng không tan
trong nước. Bộ xương chứa khoảng 360 g Ca/kg, 170 g P/kg và 10 g Mg/kg.
Thành phần hóa học của xương luôn biến động bởi vì một lượng lớn Ca và P
có thể được giải phóng vì cơ thể huy động, đặc biệt trong giai đoạn sản xuất
trứng mặc dù sự trao đổi Ca và P giữa bộ xương và mô mềm là một quá trình
liên tục. Sự huy động Ca được điều khiển bởi hoạt động của tuyến giáp trạng
(parathyroit). Trong khẩu phần thiếu Ca, tuyến giáp bị kích thích và hormon
được sản sinh ra Ca từ xương được huy động để đáp ứng nhu cầu của cơ thể.
Bởi vì Ca và P kết hợp trong xương nên cả P cũng bị huy động và bài tiết ra
ngoài. Khi tuyến giáp trạng hoạt động quá mạnh, Ca của xương hoạt động quá
mức làm cho xương bị mỏng và tạo nên các lỗ hổng ở mô xương. Tuyến giáp
cũng đóng vai trò điều hòa quan trọng trong sự điều hòa số lượng Ca hấp thu
ở ruột non bởi ảnh hưởng của sự sản xuất 1,25 dihydroxycholecanxiferol, một
dẫn xuất của vitamin D có liên quan đến sự hình thành protein liên kết Ca.
Ca có tác dụng hoạt hóa nhiều enzym như lipaza, succinicdehydrogennaza,
adenosintriphosphataza và nhiều enzym proteolytic.
Ca điều hòa tính nhạy cảm (dễ bị kích thích) của thần kinh và cơ. Khi

của động vật, các nghiên cứu cho thấy:
Các chất khoáng nói chung và canxi, phospho nói riêng được hấp thu
trên toàn bộ chiều dài của ruột non, diều, dạ dày và ruột già hấp thu không
đáng kể. Sự hấp thu này do sự vận chuyển tích cực của các chất lỏng trong cơ
thể (hemostasis).


9

Muối khoáng được hấp thu dưới dạng các ion hoà tan trong nước,
những ion có hoá trị thấp thì hấp thu lớn hơn các ion có hoá trị cao. Thứ tự về
tốc độ hấp thu giữa các muối là Clorua > muối bicacbonat > muối sunphat >
muối photphat.
Ca thức ăn được hấp thu chủ yếu qua tá tràng và không tràng bằng cả
hai con đường bị động (khuyếch tán) và chủ động (năng lượng làm chất
mang). Vitamin D protein cũng là chất mang quan trọng trong hấp thu Ca chủ
động. Khi tăng hàm lượng Ca trong khẩu phần làm giảm tỷ lệ hấp thu Ca.
Một vài acid amin (Lysin) kích thích sự hấp thu Ca nhưng acid phytic và
oxalic thì làm giảm hấp thu Ca do hình thành các phức hợp không tan
Ca-oxalat và Ca-phytat.
Muối canxi được hấp thu nhờ tạo phức chất hoà tan với acid mật. Sự
hấp thu canxi chủ yếu ở ruột non, tuy nhiên sự hấp thu canxi ở tá tràng cao
hơn ở ruột non và manh tràng của ruột non. Nguyên tố canxi vận chuyển qua
tá tràng rất nhanh, nhưng lưu giữ lại ở ruột non lâu hơn. Các nghiên cứu cho
thấy rằng khi hấp thu canxi hàm lượng muối mật và vitamin D3 tăng lên.
Phospho sau khi vào hệ tiêu hoá được hấp thu chủ yếu ở ruột non.
Phospho được hấp thu dưới dạng hợp chất vô cơ, với dạng hợp chất hữu cơ
thì phospho phải được tách ra mới có thể hấp thu được. Tốc độ hấp thu
phospho phụ thuộc vào tốc độ phân giải của các hợp chất phospho.
Đường hấp thu các chất khoáng nói chung có 2 con đường đó là: đường

nên khuynh hướng bào mòn Ca từ xương đưa vào máu mạnh hơn. Vì thế nồng
độ ổn định Ca huyết có giá trị sinh tồn hơn so với Ca xương, thiếu Ca xương
chỉ dẫn đến còi xương (ở động vật non) hoặc xốp xương (ở con trưởng thành)
chứ không gây chết. Song nếu thiếu Ca huyết sẽ dẫn đến co giật nguy hiểm.
Nhờ có vitamin D xúc tiến sự hấp thụ Ca từ ruột vào máu, nhờ đó giảm
bớt sự bào mòn Ca từ xương. Vitamin D3 còn có tác dụng điều hoà tỷ lệ Ca/P
huyết và xúc tác cho sự tổng hợp Ca3(PO4)2 để kiến tạo xương.


11

Sự bào mòn Ca từ tuỷ xương đưa vào máu càng tăng bao nhiêu thì sự
bài tiết làm mất P qua đường thận bấy nhiêu và ngược lại, do đó vitamin D3
có tác dụng gián tiếp tiết kiệm lượng P cho cơ thể.
Trong khẩu phần đủ Ca mà thiếu vitamin D3 thì con vật mắc chứng còi
xương hoặc xốp xương
1.1.1.5. Nguyên nhân ảnh hưởng tới sự hấp thu phospho
Nguyên nhân ảnh hưởng tới sự hấp thu P: Sự hấp thu P không bị ảnh
hưởng bởi các yếu tố khác mà bị ảnh hưởng chủ yếu bởi nguồn gốc P, tuổi vật
nuôi, hàm lượng P trong thức ăn.
Trong đất thường chứa P rất thấp nên làm hàm lượng P trong cây cũng
thấp, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. P trong cây thức ăn đã thấp
mà P trong hạt ngũ cốc lại ở dạng phospho phytate là chủ yếu, đó là muối của
acid phytic, rất khó tiêu, khó hấp thu cho lợn và gia cầm. Trong cám, khô dầu
lạc, đỗ tương, hạt cốc phospho phytate thường chiếm 50 % lượng P.
Đối với gia cầm thì khả năng hấp thu phospho phytate rất thấp, động vật
càng non thì khả năng hấp thu càng kém. Ở lợn và gia cầm cũng có enzym
phytae của vi sinh vật để phân giải về dạng dễ hấp thu nhưng không đáng kể.
1.1.2. Enzym phytase và ứng dụng enzym phytase trong chăn nuôi gia cầm
1.1.2.1. Giới thiệu về enzym phytase

protein vì liên kết ion của các nhóm phosphate của acid phytic và các gốc acid
amin bị ion hóa (lysine, histidine, arginine). Trong pH acid, acid phytic có thể
gắn chặt với các protein thực vật, vì điểm đẳng điện của protein này nằm trong
pH 4,0 - 5,0. Ở pH 6,0 - 8,0, acid phytic và protein thực vật đều có điện tích
âm, phức hợp acid phytic và protein vẫn được hình thành. Việc gắn kết này làm
giảm giá trị dinh dưỡng của protein thực vật (Vohra và cs, (2003) [59]).
Lợn và gia cầm không có enzym phytase để thủy phân và tiêu hóa
phytate trong đường tiêu hóa của chúng, do đó phần lớn phytate P được bài
tiết ra ngoài mà không hấp phụ. Phytate là nguồn P chủ yếu trong lúa mì, ngô,


13

khô dầu đỗ tương và có khoảng 75 % tổng P trong hạt cốc được đính trong
các phân tử phytate mà vật nuôi không sử dụng được. Thực tế, trong lúa mì và
lúa mạch cũng có phytase, nhưng phytase thực vật này bị vô hoạt trong quá
trình xử lý nhiệt, nhất là khi đạt nhiệt độ từ 800C trở lên.
Để đáp ứng đủ nhu cầu về P cho cơ thể lợn và gia cầm, trước đây người
ta phải bổ sung bằng những nguồn P vô cơ dễ tiêu (như mono - canxium
phosphate, di - canxium phosphate, mono - sodiumphosphate) vào trong thức
ăn hỗn hợp để vật nuôi sinh trưởng và phát triển bình thường. Do đó, có một
lượng lớn P được bài tiết theo phân vật nuôi vào môi trường.
Mặt khác, các phosphate vô cơ có thể bị nhiễm fluorin và dư cặn kim
loại nặng ngay trong quá trình sản xuất. Những fluorin và dư cặn kim loại
nặng trong thực phẩm là độc hại cho vật nuôi và nguy hiểm cho con người.
Phytase cũng có thể giải phóng kẽm ra khỏi phytate. Kẽm tự do này ngăn
ngừa hấp thụ cadmium.
P cũng là nguồn chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng và P từ nguồn
phân chuồng hoặc phân hóa học có thể dùng bón cho cây trồng. Hơn nữa,
những phần tử P được gắn vào đất một cách bền vững với mức độ quá mức

Collum và Hart (1908) đã phát hiện thấy phytase từ thận và máu dê. Vì
phytate hoạt động như một nguyên tố kháng dưỡng trong cơ thể động vật nên
các nhà khoa học đã quan tâm và khảo sát hoạt động của phytase trong đường
tiêu hóa của nhiều loài động vật. Phytase được tìm thấy trong đường ruột
(Patwaradha (1937) [39]). Tuy nhiên, phytase trong hệ động vật không đóng
vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa phytate (Williams và cs, (1985) [61]).
Động vật nhai lại tiêu hóa được phytate nhờ hoạt động của phytase
được sản xuất bởi hệ vi sinh vật trong dạ cỏ. Lượng phosphate vô cơ giải
phóng ra nhờ hoạt động của phytase lên phytate được cả hệ vi sinh vật đường
ruột và vật chủ sử dụng (Kerovuo và cs, (2000) [22]).


15

* Phytase từ vi sinh vật
Những vi sinh vật sản xuất phytase có từ nhiều nguồn khác nhau như
đất (Cosgrove và cs, (1972) [11]; Richardson và cs, (1997) [44]), động vật dạ
cỏ (Lan và cs, (2002) [25]), nước biển (Kim và cs, 2002), hạt thực vật
(Nakano và cs, (2000) [34]), điều này cho thấy khả năng thủy phân của
phytase có thể được đóng góp một cách rộng rãi trong hệ sinh thái. Được biết
là những vi sinh vật sản xuất phytase bao gồm cả những vi khuẩn hiếu khí
như Pseudomonas spp (Richardson và cs, (1997) [44]); Bacillus subtilis
(Shimizu (1992) [49]) và Klebsiella spp (Greiner và cs, (1993) [17]), vi khuẩn
kị khí như Escherichia coli (Greiner và cs, (1993) [17]) và Mitsuokella spp
(Lan và cs, 2002 [25]), nấm như Aspergillus spp (Shimizu, 1992 [49]; Ullah,
1998 [56]) và Penicillum spp (Tseng và cs, (2000) [55]). Những vi khuẩn hiếu
khí như Pseudomonas, Arthrobacter, Staphylococcus và Bacillus thì được xác
nhận là có phytase có hoạt tính.
+ Vi khuẩn sản xuất phytase
Phytase có mặt rộng rãi trong thực vật, mô động vật và vi sinh vật kể

sản xuất phytase nội bào có hoạt tính. A. niger được xem là loại nấm mốc sản
xuất phytase nấm có hoạt tính cao nhất. A. ficuum NRRL 3135 cũng sản xuất
phytase trong môi trường lên enzym rắn với cơ chất là bột canola (Vohra và
cs, (2003) [59]). Một số nhóm Aspergillus niger thì sản xuất phytase ngoại
bào mà chúng có thể cắt phospho từ Canxium phytate trong môi trường acid.
Được phân lập từ đất nhưng A. ficuum NRRL 3135 sản xuất hầu hết phytase
có hoạt tính trong môi trường tinh bột ngô. Việc sản xuất phytase bị ức chế
một cách mạnh mẽ bởi phosphate vô cơ và tỉ lệ C/P trong môi trường (Ware,
(1968) [60]).
Hơn 2.000 loài thì được phân lập từ 68 mẫu đất trong môi trường giàu
dinh dưỡng. Hoạt tính của phytase ngoại bào thì được tìm thấy trong một vài
nấm mốc khác nhau đã được kiểm tra trên môi trường (Ware, (1968) [60]).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status