1
DANH MỤC BẢNG
1
2
DANH MỤC HÌNH
2
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công nghệ chế biến thức ăn cho động vật, muốn đưa khẩu phần
và hệ thống thức ăn vào sản xuất đồng bộ thì phải đảm bảo về cả kinh tế và an
toàn môi trường là yếu tố cần thiết. Trong dinh dưỡng cho động vật nói chung
và gia cầm nói riêng protein thức ăn đóng vai trò quyết định cho sự tăng
trưởng và phát triển của vật nuôi. Thông thường nguồn protein thức ăn sử
dụng cho vật nuôi có nguồn gốc từ động vật và thực vật. Tuy nhiên, khuynh
hướng hiện nay là giảm tỉ lệ sử dụng protein động vật và thay thế dần bằng
protein thực vật trong thức ăn cho vật nuôi (TĂCVN), ngoài tác động do giá
cả còn do tiến bộ khoa học kỹ thuật trong dinh dưỡng cho phép thay thế
protein động vật bằng các protein thực vật sẵn có, rẻ tiền nhưng không làm
thay đổi sức tăng trưởng của vật nuôi. Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển
protein thực vật trong TĂCVN, vấn đề trở ngại lớn nhất là khả năng tiêu hoá
và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong thức ăn chứa nhiều protein thực vật.
Các protein thực vật có chứa một số chất kháng dinh dưỡng ức chế
enzyme trypsin… ngăn cản khả năng tiêu hoá của động vật. Đặc biệt là
phospho ở dạng phytic acid có nhiều trong thực vật sẽ tạo ra một phức hệ
phytate khó tiêu hoá và hấp thu cho động vật. Hiện nay NRC (1998) đã đưa ra
mức phốt pho tổng số và phốt pho dễ hấp thu cần thiết trong khẩu phần cho
gia cầm, tuy nhiên tuy nhiên các sản phẩm này nếu không được gia cầm sử
dụng hết sẽ bài tiết ra 30-50% phospho vào trong phân thải gây ô nhiễm môi
trường (Theo Đỗ Hữu Phương, 2004 [ 1]).
Do đó việc giảm hàm lượng phốt pho trong khẩu phần nhưng vẫn đáp
nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi và người chăn nuôi khi bổ sung enzyme
phytase cho động vật nói chung và gia cầm nói riêng, nhằm giảm nhu cầu
cung cấp phospho vô cơ và giảm thấp sự bài tiết phospho vào trong phân, từ
đó hạn chế được lượng phospho thải ra môi trường.
4
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Chất khoáng trong thức ăn của gia cầm
1.1.1.1. Chất khoáng
Chất khoáng tồn tại trong cơ thể sống một lượng tương đối nhỏ, nhưng
thiếu chúng thì quá trình trao đổi chất vẫn không thể thực hiện được. Có lẽ
rằng đối với những cơ thể sống đơn giản chất khoáng cũng đóng vai trò điều
hoà. Các quá trình tích luỹ và sản sinh năng lượng cũng như tổng hợp protit,
lipit, gluxit đều không thể thực hiện được nếu thiếu các hợp chất phốt pho
(ATP, ADP). Do đó quá trình tổng hợp ATP cần thiết phải xuất hiện ngay
trong giai đoạn đầu của sự sống.
Khi thiếu một phần chất khoáng, cơ thể muốn tồn tại được đã phải có
một sự thích ứng cao, còn khi thiếu hoàn toàn một chất khoáng nào đó động
vật và thực vật đều không thể sống được. Nhu cầu chất khoáng của cơ thể
động vật cũng chỉ nằm trong một giới hạn nhất định, thừa hoặc thiếu đều
không cần thiết, và trong quá trình thuần dưỡng gia súc, thiếu hoặc thừa chất
khoáng trong cơ thể đều là nguyên nhân thành bại của chăn nuôi.
Người ta đã chứng minh được vai trò không thể thiếu của hơn 40
nguyên tố khoáng đối với sự trao đổi chất của gia súc, gia cầm.
Dựa vào hàm lượng các nguyên tố khoáng có mặt trong cơ thể vật nuôi
hay khối lượng các nguyên tố khoáng mà cơ thể vật nuôi cần cung cấp hàng
ngày người ta chia ra thành 2 nhóm: Khoáng đa lượng và khoáng vi lượng.
- Khoáng đa lượng gồm: Ca, P, Mg, K, Na, Cl, S, chúng có thể chiếm
triệt để. Ngược lại phốt pho ở thực vật thường tồn tại dưới dạng khó tiêu hoá
và hấp thu. Hạt ngũ cốc, sữa, bột cá, bột thịt và bột xương là nguồn cung cấp
phốt pho rất tốt, trong khi đó cỏ khô và rơm rạ chứa rất ít phốt pho.
6
7
Phốt pho cũng có vấn đề khá quan trọng liên quan đến hiệu suất sử
dụng. Phần lớn phốt pho ở hạt ngũ cốc và nhất là cám gạo thường tồn tại ở
dạng phytate, là muối của acid phytic (este của hexa P của inositol). Acid
phytic kết hợp với Ca và Mg tạo thành muối không tan, gây ra hiện tượng khó
tiêu hóa và hấp thu phốt pho cho động vật đặc biệt là gia cầm.
- Acid phytic trong thức ăn
TheoViveros và cs 2000 [61], Kies và cs 2001 [24], Naher 2002 [34];
Chế độ ăn của gia cầm được phối hợp chủ yếu bởi các nguyên liệu có nguồn
gốc từ thực vật, 2/3 phốt pho trong hạt ngũ cốc và hạt bị rằng buộc trong cấu
trúc của acid phytic và làm giảm khả năng tiêu hoá của gia cầm.
Acid phytic là myo - inositol hexadihydrogenphosphate (Tamin và cs,
2003 [56]) được tạo thành từ sáu nhóm phosphate mang điện tích âm, và bị
rằng buộc bởi 12 hydrogens trong vòng inositol, nó có thể liên kết với các
cation như Ca
+
, K
+
, Mg
++
, Zn
+
, Fe
+
và Mn
++
thực vật, vì điểm đẳng điện của protein này nằm trong pH 4,0 - 5,0. Ở pH 6,0
- 8,0, acid phytic và protein thực vật đều có điện tích âm, phức hợp acid
phytic và protein vẫn được hình thành. Việc gắn kết này làm giảm giá trị dinh
dưỡng của protein thực vật (Vohra và cs, 2003 [62]).
Acid phytic cũng có thể ảnh hưởng đến sự tiêu hóa tinh bột thông qua
sự tương tác với enzym amylase (Kerovuo và cs, 2000 [23]). Tuy nhiên cũng
có nhiều ý kiến cho rằng acid phytic có thể ngăn chặn việc sử dụng chất béo
bằng cách ngăn ngừa sự hình thành của acid phytic thông qua việc sử dụng
phytase sẽ làm giảm mức độ nhũ hóa hình thành trong ruột từ đó tăng cường
sử dụng năng lượng có nguồn gốc từ chất béo (Ravindran, và cs, 2001)[42].
* Vai trò sinh học của canxi đối với cơ thể gia cầm
Phân bố: Khoảng 99 % Ca có trong xương và răng. Trong xương Ca và
P có tỷ lệ khá ổn định là 2:1. Ca ở dưới dạng tinh thể hydroxyapatit:
8
9
Ca còn có trong máu (chủ yếu trong huyết tương) với nồng độ 10 mg/dl
và ở 3 dạng: ion tự do (66 %), kết hợp protein (35 %) hoặc tạo phức hợp với
acid hữu cơ như citrat hay với acid vô cơ như photphat (5-7 %).
Chức năng: Chức năng chủ yếu nhất của Ca là thành phần cấu trúc của
xương. Bộ xương có cấu trúc rất phức tạp, thành phần vật chất khô của bộ xương
xấp xỉ như sau: chất khoáng chứa 460 g/kg, 360 g protein/kg và 180 g mỡ/kg.
Tuy nhiên hàm lượng này thay đổi tùy theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng.
Ca và P là hai thành phần rất phong phú trong xương ở dưới dạng
hydroxy apatit 3Ca3(PO4)2.Ca(OH)2 là những hợp chất rất cứng không tan
trong nước. Bộ xương chứa khoảng 360 g Ca/kg, 170 g P/kg và 10 g Mg/kg.
Thành phần hóa học của xương luôn biến động bởi vì một lượng lớn Ca và P
có thể được giải phóng vì cơ thể huy động, đặc biệt trong giai đoạn sản xuất
trứng mặc dù sự trao đổi Ca và P giữa bộ xương và mô mềm là một quá trình
liên tục. Sự huy động Ca được điều khiển bởi hoạt động của tuyến giáp trạng
(parathyroit). Trong khẩu phần thiếu Ca, tuyến giáp bị kích thích và hormon
nhiều mỡ thì hình thành xà phòng Ca-axit béo làm giảm hấp thu Ca.
1.1.1.3. Quá trình hấp thu và trao đổi canxi, phốt pho ở gia cầm
Xác định tỷ lệ hấp thu một chất khoáng nào đó rất khó vì nó được bài
tiết qua ống tiêu hoá một lượng khá lớn. Trong ống dạ dày - ruột chứa một
hỗn hợp chất khoáng cả nội sinh lẫn ngoại sinh. Sự bài tiết chất khoáng thậm
chí không ổn định và tỷ lệ của những thành phần khoáng riêng rẽ cũng không
rõ ràng. Ống dạ dày - ruột tham gia tích cực trong sự trao đổi chất của cơ thể.
Có rất nhiều nghiên cứu về sự biến đổi lượng chất khoáng trong ống tiêu hoá
của động vật, các nghiên cứu cho thấy:
Các chất khoáng nói chung và canxi, phốt pho nói riêng được hấp thu
trên toàn bộ chiều dài của ruột non, diều, dạ dày và ruột già hấp thu không
10
11
đáng kể. Sự hấp thu này do sự vận chuyển tích cực của các chất lỏng trong cơ
thể (hemostasis).
Muối khoáng được hấp thu dưới dạng các ion hoà tan trong nước,
những ion có hoá trị thấp thì hấp thu lớn hơn các ion có hoá trị cao. Thứ tự về
tốc độ hấp thu giữa các muối là Clorua > muối bicacbonat > muối sunphat >
muối photphat.
Ca thức ăn được hấp thu chủ yếu qua tá tràng và không tràng bằng cả
hai con đường bị động (khuyếch tán) và chủ động (năng lượng làm chất
mang). Vitamin D protein cũng là chất mang quan trọng trong hấp thu Ca chủ
động. Khi tăng hàm lượng Ca trong khẩu phần làm giảm tỷ lệ hấp thu Ca.
Một vài axit amin (Lysin) kích thích sự hấp thu Ca nhưng axit phytic và
oxalic thì làm giảm hấp thu Ca do hình thành các phức hợp không tan
Ca-oxalat và Ca-phytat.
Muối canxi được hấp thu nhờ tạo phức chất hoà tan với acid mật. Sự
hấp thu canxi chủ yếu ở ruột non, tuy nhiên sự hấp thu canxi ở tá tràng cao
hơn ở ruột non và manh tràng của ruột non. Nguyên tố canxi vận chuyển qua
tá tràng rất nhanh, nhưng lưu giữ lại ở ruột non lâu hơn. Các nghiên cứu cho
parathyroxin, hormone này nhập theo dòng máu đến xương xúc tiến sự bào
mòn canxi từ xương đưa vào máu.
Khi nồng độ Ca huyết tăng, cũng theo cơ chế trên, luồng thần kinh đi
tới tuyến giáp kích thích bài tiết thyrocalcitonin, hormone này kích thích sự
lắng đọng Ca từ máu vào xương.
Tuy nhiên tác dụng của parathyroxin mạnh hơn so với thyrocalcitonin
nên khuynh hướng bào mòn Ca từ xương đưa vào máu mạnh hơn. Vì thế nồng
độ ổn định Ca huyết có giá trị sinh tồn hơn so với Ca xương, thiếu Ca xương
chỉ dẫn đến còi xương (ở động vật non) hoặc xốp xương (ở con trưởng thành)
chứ không gây chết. Song nếu thiếu Ca huyết sẽ dẫn đến co giật nguy hiểm.
12
13
Nhờ có vitamin D xúc tiến sự hấp thụ Ca từ ruột vào máu, nhờ đó giảm
bớt sự bào mòn Ca từ xương. Vitamin D
3
còn có tác dụng điều hoà tỷ lệ Ca/P
huyết và xúc tác cho sự tổng hợp Ca
3
(PO
4
)
2
để kiến tạo xương.
Sự bào mòn Ca từ tuỷ xương đưa vào máu càng tăng bao nhiêu thì sự
bài tiết làm mất P qua đường thận bấy nhiêu và ngược lại, do đó vitamin D
3
có tác dụng gián tiếp tiết kiệm lượng P cho cơ thể.
Trong khẩu phần đủ Ca mà thiếu vitamin D
3
thì con vật mắc chứng còi
nước ngoài cho thấy:
Phytate là một dạng phốt pho hữu cơ chiếm từ 1 đến 5 % của đậu hạt,
ngũ cốc, hột chứa dầu, phấn hoa và hạnh nhân (Cheryan, 1980 [10]); hầu hết
thực phẩm có nguồn gốc thực vật chứa từ 50% đến 80% phốt pho tổng số là
phytate (Harland và cs, 1995 [19]) và dĩ nhiên phytate chứa khoáng liên kết
với axit amin và protein.
Trong tự nhiên, acid phytic tồn tại chủ yếu trong các dạng muối phytate
dưới dạng phức hợp với các cation quan trọng cho dinh dưỡng như Ca
2+
, Zn
2+
và Fe
2+
và phytate chứa 14 - 25% phốt pho, 1,2 - 2% canxi, 1 - 2% kẽm và sắt.
Lượng phytate cao nhất trong các loại ngũ cốc, bắp (0,83 - 2,22%) và trong
các loại hạt đậu (5,92 - 9,15%) (Reddy và cs, 1989 [44]).
Phytate làm giảm khả năng tiêu hóa protein, tinh bột và lipit vì phytate
tạo phức với protein làm protein kém tan và kháng lại được sự phân giải
protein. Acid phytic có thể ảnh hưởng đến sự tiêu hóa tinh bột thông qua sự
tương tác với enzym amylase (Kerovuo và cs, 2000 [23]). Ở pH thấp, acid
phytic có điện tích âm mạnh vì các nhóm phosphate phân ly không hoàn toàn.
Dưới điều kiện này, acid phytic có ảnh hưởng xấu đến khả năng hòa tan
protein vì liên kết ion của các nhóm phosphate của acid phytic và các gốc axit
amin bị ion hóa (lysyl, histidyl, arginyl). Trong pH acid, acid phytic có thể gắn
chặt với các protein thực vật, vì điểm đẳng điện của protein này nằm trong pH
4,0 - 5,0. Ở pH 6,0 - 8,0, acid phytic và protein thực vật đều có điện tích âm,
phức hợp acid phytic và protein vẫn được hình thành. Việc gắn kết này làm
giảm giá trị dinh dưỡng của protein thực vật (Vohra, và cs, 2003 [61]).
14
15
16
thì phải cung cấp một lượng thức ăn quá nhiều, gây mất cân đối về khẩu phần.
Vì vậy, người ta cung cấp phytase ngoại sinh (thường là dạng viên) để phân
hủy phytate in - vivo. Đối với lợn, phytase thủy phân phân tử axit phytic tại
dạ dày, còn với gia cầm thì quá trình này xảy ra trong diều.
Enzym phytase có thể làm tăng hấp thụ P trong cơ thể vật nuôi thêm 60
% và được dùng như là chất bổ sung bắt buộc cho thức ăn chăn nuôi ở châu
Âu, Đông Nam Á, Hàn Quốc, Nhật, Đài Loan để giảm tác hại đến môi trường
do P từ phân súc vật thải ra.
Để lượng hóa hoạt tính của phytase, người ta dùng đơn vị phytase được
biểu thị bằng FTU; PU hoặc PTU tuỳ theo hãng sản xuất. Một đơn vị phytase
là "lượng phytase có thể giải phóng P vô cơ từ một dung dịch phytate sodium
5,1 mili - mol với tốc độ 1 micromol/phút ở pH 5,5 và ở nhiệt độ 37
0
C.
1.1.2.3. Thành phần của phytase trong tự nhiên
* Phytase từ thực vật
Phytase có nhiều trong các loại ngũ cốc như lúa mì, bắp, lúa mạch, gạo,
và từ các loại đậu như đậu nành, đậu trắng,… Phytase cũng được tìm thấy
trong mù tạt, khoai tây, củ cải, rau diếp, rau bina, và phấn hoa huệ tây
(Dvorakova, 1998 [15]). Trong hạt đang nảy mầm hoặc trong hạt phấn, phytase
có vai trò phân giải phytin (Greene, và cs., 1975). Suzuki và cs, (1907) là
những người đầu tiên sản xuất chế phẩm phytase từ cám gạo và lúa mì.
* Phytase từ động vật
Collum và Hart (1908) đã phát hiện thấy phytase từ thận và máu dê,
phytase cũng phát hiện trong máu các động vật có xương sống bậc thấp hơn
như chim, bò sát, cá, rùa biển (Rapoport và cs, 1914). Vì phytate hoạt động
như một nguyên tố kháng dưỡng trong cơ thể động vật nên các nhà khoa học
đã quan tâm và khảo sát hoạt động của phytase trong đường tiêu hóa của
nhiều loài động vật. Phytase được tìm thấy trong đường ruột (Patwaradha,
18
mật độ tập trung cao và nét riêng biệt của chúng, độ bền với sự thủy phân
protein cao và hiệu quả xúc tác tốt nhất. Những vi khuẩn sản xuất phytase có
thể phân lập từ vùng cạn hoặc từ môi trường nước và phytase thì có mặt rộng
rãi trong nhiều loại vi khuẩn khác nhau, như Bacillus, Enterbacteria, vi khuẩn
kị khí ở dạ cỏ động vật nhai lại và ở Pseudomonas (Jorquera và cs, 2008 [22]
Đối với vi khuẩn, phytase được tổng hợp ở cả vi khuẩn gram dương (B.
subtilis) và gram âm (Aerobacter aerogegnes, E.coli, các chủng Pseudomonas,
Klebsiella). Phytase từ các vi khuẩn gram âm là các protein nội bào trong khi
phytase từ các vi khuẩn gram dương là các protein ngoại bào.
Theo kết quả nghiên cứu của Kerovuo và cs, 2000 [23]), 21 dòng từ
giống Bacillus được kiểm tra cho khả năng sản xuất enzym phytase trên
môi trường Luria broth (LB) và trong môi trường có bột bắp, không có
dòng nào sản xuất phytase trong môi trường LB. Tuy nhiên, trong môi
trường bột bắp thì có 2 dòng B. amyloliquefaciens và 1 dòng B. subtilis sản
xuất số lượng lớn phytase. Có 3 dòng thì có khả năng phóng thích lân vô cơ
trong môi trường là B. subtilis VTT E-68013, B. amyloliquefaciens VTT
E- 71015, B. amyloliquefaciens VTT E-90408 trong đó dòng B. subtilis VTT
E 68013 thì có hoạt tính phytase cao nhất.
+ Phytase từ vi nấm
Đối với nấm mốc, hầu hết các chủng nấm mốc đều thuộc các giống
Aspergillus, Penicillium, Mucor và Rhizoous (Liu và cs, 1998 [30]) và đều
sản xuất phytase nội bào có hoạt tính. A. niger được xem là loại nấm mốc sản
xuất phytase nấm có hoạt tính cao nhất. A. ficuum NRRL 3135 cũng sản xuất
phytase trong môi trường lên enzym rắn với cơ chất là bột canola (Vohra và
cs., 2003 [62]). Một số nhóm Aspergillus niger thì sản xuất phytase ngoại bào
mà chúng có thể cắt phốt pho từ Canxium phytate trong môi trường acid.
Được phân lập từ đất nhưng A. ficuum NRRL 3135 sản xuất hầu hết phytase
18
19
Phần lớn các men phytase bị vô hoạt ở nhiệt độ 70-75°C. Việc vi bọc
có thể làm tăng độ bền nhiệt lên tới 80-85°C. Trong khi đó, sản phẩm phytase
từ E.coli có khả năng chịu nhiệt tới 95°C. Khả năng chịu nhiệt cao có ý nghĩa
rất quan trọng vì nhiều nhà sản xuất TACN đang lựa chọn ép viên ở nhiệt độ
cao tới trên 90°C.
Ngoài ra, một men phytase có hiệu suất cao phải duy trì được hoạt tính
cao trong dải pH rộng, từ pH thấp trong dạ dày tới pH cao trong ruột. Bên
cạnh đó, do men phytase có cấu trúc của protein nên nó cũng cần phải bền
vững trước tác động của các men phân giải protein. Phytase từ E.coli đã được
chứng minh là có hiệu suất cao hơn trong dải pH rộng, và bền vững trước tác
động của các men phân giải protein.
Khi lựa chọn và sử dụng phytase, cũng cần phải quan tâm tới những
thông tin kỹ thuật và thử nghiệm của sản phẩm, mức độ phù hợp với qui trình
và công nghệ chế biến sẵn có cũng như khả năng thay đổi qui trình và công
nghệ chế biến cho phù hợp với sản phẩm, phương thức áp dụng sản phẩm
phytase và hiệu quả dinh dưỡng của nó… Phytase cũng có thể được sử dụng
kết hợp với các men phân giải xơ khác. Tuy nhiên, việc sử dụng kết hợp như
vậy đòi hỏi phải có kinh nghiệm. Và men phân giải xơ phải được lựa chọn sao
cho phù hợp với nguyên liệu đang sử dụng, và có cùng tiêu chí như đối với
enzym phytase.
Với những đặc tính ưu việt của phytase thế hệ mới được chiết xuất từ
E.coli chúng tôi đã lựa chọn sử dụng enzym phytase 5000 chịu nhiệt này
trong đề tài nghiên cứu của mình.
1.1.3. Những lợi ích của việc sử dụng enzyme phytase
Ngày nay, enzyme được sử dụng như là chất chuẩn trong thức ăn gia
súc. Các enzyme phân hủy NSP (như endo-xylanase và β glucanase-glucanase)
và phân hủy phytate (như phytase) chứa nhiều trong cám gạo, lúa mì, lúa
20
21
mạch được ứng dụng rộng rãi trong những khẩu phần ăn không chỉ do vấn
nhiều qua phân và nước tiểu (chủ yếu là hàm lượng protein, phốt pho và canxi).
Ở các khẩu phần có bổ sung enzyme tiêu hóa thì lượng nitơ thải ra
giảm một cách đáng kể và lượng nitơ tích lũy tăng 5 - 15 %. Khi bổ sung
enzyme tiêu hóa phù hợp vào thức ăn có thể giảm lượng nitơ thải ra trên một
con lợn từ 10 - 15 %, tương đương với 200g. Như vậy, một con lợn nuôi từ
lúc sinh ra đến lúc giết thịt 100kg thì lượng vật chất khô thải ra trong phân sẽ
ít hơn 5 kg hoặc lượng phân ít hơn 15 - 20 kg/heo. Enzyme đã có vai trò trong
việc cải thiện khả năng sử dụng thức ăn nên giảm được lượng chất thải. Khi
tăng khả năng tiêu hóa từ 85 % lên 90 % thì lượng vật chất khô trong phân
giảm 33 %. Tương tự như vậy, ta có thể ước lượng khả năng ô nhiễm môi
trường tiềm tàng của các thành phần khác trong khẩu phần như nitơ và phốt
pho. Một trong những lợi ích mà enzyme mang lại là hàm lượng dinh dưỡng
trong phân giảm đáng kể. Sự giảm lượng dinh dưỡng bài tiết qua phân nhờ bổ
sung enzyme trong khẩu phần đặc biệt quan trọng vì phân thải vào đất và
nước làm ô nhiễm môi trường. Tác động thực sự của enzyme trên lợn là làm
giảm lượng phân sản xuất và độ ẩm của phân do sự phá vỡ cân bằng nước
trong đường ruột. Việc bổ sung xylanase có hiệu quả làm giảm độ nhờn
đường tiêu hóa và những rối loạn tiêu hóa kèm theo nó, điều này làm gia tăng
độ khô của phân và cải thiện lượng phân thải ra.
Ngày nay ở Việt Nam đang xây dựng các trang trại chăn nuôi tập trung,
sẽ tăng lượng phân, nước giải thải ra trên đơn vị diện tích hẹp làm cho nước
mặt và mạch nước ngầm bị ô nhiễm, tích tụ khoáng trong đất Để thoả mãn
nhu cầu phốt pho của động vật cần thiết phải bổ sung phốt pho vô cơ như:
Dicanxium (DCP) hoặc Monocanxium phốt phát (MCP), tiêu hoá không hết
bài tiết 30 - 50 % phốt pho vào trong phân thải làm ô nhiễm môi trường. Phân
22
23
giải Phytate có nghĩa bổ sung ít phốt pho vào khẩu phần ăn để lượng phốt pho
thải ra ít hơn. Điều này thực hiện bằng enzyme phytase. Trong hạt ngũ cốc,
phần lớn phốt pho bị liên kết dưới dạng phytate rất khó tiêu thường bị thải ra
ứng với lượng thức ăn do bổ sung chế phẩm sinh học. Bởi trong trường hợp
này chi phí từ nguồn nguyên liệu mới mặc nhiên rẻ hơn thức ăn truyền thống,
do đó giá cả sẽ phụ thuộc vào giá chế phẩm sinh học.
Theo báo Nông nghiệp Việt Nam đưa tin để giúp người chăn nuôi giảm
bớt áp lực trước tình hình giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, công ty Alltech
(Hoa Kỳ) đã cho ra đời sản phẩm enzyme tự nhiên dùng phối trộn với lượng
thức ăn tiêu chuẩn thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo đạt hiệu quả về năng suất và
chất lượng vật nuôi…
Sản phẩm đó là phức hợp enzyme mang tên Allzyme SSF (viết tắt SSF)
chuyên dùng để phối trộn vào thức ăn chăn nuôi, sản phẩm đã được thí
nghiệm trên gà thịt tại trung tâm nghiên cứu và phát triển gia cầm Queensland
(Australia). Lô thí nghiệm đã được tái tổ hợp khẩu phần với việc giảm 150
Kcal/kg ME và một lô khác có mức năng lượng thấp được bổ sung SSF. Kết
quả: đã cải thiện được hơn 60 gram về tăng khối lượng vào 42 ngày tuổi và
FCR vẫn duy trì ở mức 1,84 kg/1 kg khối lượng thịt.
Căn cứ vào giá bán các chế phẩm sinh học (của các hãng nước ngoài) ở
thị trường Việt Nam tại thời điểm tiến hành nghiên cứu thì chi phí thức ăn/kg
tăng khối lượng của các lô gà sử dụng chế phẩm sinh học thấp hơn từ 6,65 %
- 6,67 %. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ thêm rằng việc sử dụng chế phẩm
sinh học probiotic và enzyme tiêu hoá còn làm thay đổi cơ cấu quần thể vi
sinh vật ruột theo hướng có lợi cho vật chủ. Tác động của các enzyme làm
giảm số lượng của các loài vi khuẩn bởi sự tăng tỷ lệ tiêu hoá và hấp thu,
giảm lượng các chất dinh dưỡng sẵn có cho vi khuẩn phát triển, đồng thời
24
25
enzyme tạo ra các đường tan khó hấp thu, là nguồn dưỡng chất quan trọng
cho các vi khuẩn có lợi phát triển. Mặt khác, bản thân sự hiện diện của vi
khuẩn có lợi trong đường tiêu hoá đã làm giảm số vi khuẩn gây bệnh thông
qua cạnh tranh vị trí bám dính trên niêm mạc ruột, nhờ đó làm giảm tỉ lệ
nhiễm bệnh và tỉ lệ chết ở gà.